|
Thân Trọng
Sơn
CHẾT

Chết
thông thường được xem là sự chấm dứt các hoạt động của một sinh vật hay
ngừng vĩnh viễn mọi hoạt động sống không thể phục hồi của một cơ thể.
Tuy nhiên, định nghĩa về cái chết c̣n tùy thuộc vào các quan điểm tôn
giáo, tín ngưỡng cũng như các lĩnh vực liên quan. Trong y học, chết là
sự chấm dứt vĩnh viễn của mọi hoạt động sống như hô hấp, trao đổi chất
hay sự phân chia các tế bào. Môn khoa học nghiên cứu về cái chết đă trở
thành ngành riêng gọi là " tử vong học “.
Người ta chia chết ra làm hai loại: chết lâm sàng khi các phương pháp
khám lâm sàng cho phép xác định là chết (tim ngừng đập, ngừng thở, mất
tri giác...) và chết thật khi các mô không c̣n hoạt động được nữa và bắt
đầu phân hủy. Những ca tử vong phổ biến ở con người là bệnh tim, tiếp
theo là tai biến mạch máu năo và xếp thứ 3 là nhiễm trùng đường hô hấp
dưới.Trong xă hội loài người, bản chất của cái chết và sự nhận thức của
con người về cái chết là các mối quan tâm qua hàng thiên niên kỷ của thế
giới tôn giáo và triết học. Điều này bao gồm niềm tin vào sự sống lại,
tái sinh, hoặc ư thức rằng vĩnh viễn không c̣n tồn tại, được gọi là lăng
quên theo chủ nghĩa vô thần.
Ngôn từ chuyên chở cả thái độ, t́nh cảm của người nói, trong tiếng Việt,
để nói về cái chết, nhà nghiên cứu Bằng Giang đă khẳng định thống kê
được hơn 1.001 cách diễn đạt về từ chết, dưới đây chỉ liệt kê một số:
• Kính trọng: từ trần, tạ thế, khuất núi, khuất mày khuất mặt, quy tiên,
yên nghỉ muôn đời, qua đời, mất, đi xa, ra đi, ra đi vĩnh viễn, ra đi
măi măi, yên nghỉ, từ giă cơi đời, trút hơi thở cuối cùng, "thôi đă thôi
rồi", thác, quyên sinh, băng hà (dùng cho vua chúa), hy sinh, ngă xuống,
nằm xuống, nằm lại, tử trận, tuẫn tiết, vị quốc vong thân (v́ nước mà
chết), thịt nát xương tan, rơi đầu (trong chiến đấu), không c̣n nữa, về
với tổ tiên, về cùng cha ông, về với đất mẹ, về nơi an nghỉ cuối cùng,
về nơi cửu huyền, về nơi chín suối, chết đứng (c̣n hơn sống quỳ), ra đi
lần cuối, làm ma nước Nam c̣n hơn làm vua đất Bắc, viên tịch (đối với
các nhà sư), về thế giới bên kia, qua thế giới bên kia...
• Kiêng kị: mất, vĩnh biệt, trăm tuổi già, đi (ra đi), sang bên kia thế
giới, tim đă ngừng đập, giấc ngủ vĩnh viễn, đi vào giấc ngủ ngàn thu, an
giấc ngàn thu, trở thành người thiên cổ, ngày không c̣n..., đi vào dĩ
văng,...
• Tín ngưỡng, tôn giáo: viên tịch , văng sanh Cực Lạc, về An Dưỡng quốc
(cơi Cực Lạc), cao đăng Phật quốc, văng sanh Tịnh Độ, về gặp Phật được
Phật Thọ kư (xoa đỉnh đầu), từ giă Ta-bà sinh lên Tịnh Độ, về với Chúa,
về nhà Cha (về nước Chúa), Chúa gọi về, được Chúa truyền ra khỏi đời này
về với Chúa, hẹn gặp lại trong Nước Trời, quy tiên, về trời, thăng
thiên, hồn ĺa khỏi xác, hóa kiếp, măn phần, xuống suối vàng, trở về với
cát bụi, chết không nhắm mắt, từ đất mà ra sẽ về với đất, về với đất mẹ,
về miền Cực Lạc, vui miền Cực Lạc...
• Trung lập: chết, qua đời, tử vong, thiệt mạng, tử , tắt thở (chết lâm
sàng), chết tốt, bị giết, bị diệt, bất đắc kỳ tử, đột tử, chết ngay,
chết non, chết yểu, chết trẻ, chết già (theo độ tuổi), chết đuối, chết
ch́m, chết cháy, chết khô, chết héo, chết tươi, chết chắc, chết ngột,
chết ngạt, chết đói, chết bệnh, chết bất đắc kỳ tử (theo nguyên nhân),
chết chùm, chết oan, chết tập thể, chết chém, chết ngay tại chỗ...
• Thân phận: ĺa đời, về với đất, chầu ông bà (vải), chầu trời, chầu tổ
tiên, chầu Diêm vương (Diêm chúa), tuyệt mệnh (mạng), tới số, hết số,
gan óc lầy đất, da ngựa bọc thây, đầu ĺa khỏi cổ, nhắm mắt xuôi tay,
xuống lỗ, xanh cỏ, đi gặp cụ Các Mác và cụ Lê-nin, (thà) làm ma nước
Nam, (nguyện) làm ma họ (...), lên bàn thờ ăn xôi, mọc cánh...
• Không tôn trọng: lụm, rồi đời, xong đời, ngoẻo, ngủm, ngủm củ tỏi,
ngủm cù đèo, tiêu, tiêu đời, toi đời, tiêu tán đường, toi mạng, tèo, lên
đường, ăn đất, đi đứt, đi toi, đứt bóng, vào ḥm, vào xăng, vào 6 tấm
váng, xuống mồ, đi đời, đi đời nhà ma, đi tong, rũ xương, đền tội, đền
mạng (có ân oán), tan xương nát thịt, vong mạng, bỏ mạng, banh xác, bỏ
xác (trong chiến đấu), chết tươi, chết toi, chết bằm, chết trôi, lên bàn
thờ, lên bàn thờ ngồi chơi, đi buôn muối, chết không toàn thây, chết
không kịp ngáp (t́nh trạng chết), "đai" (tiếng lóng phiên âm của từ
die), ngồi lên bàn thờ ngắm gà khỏa thân, "R.I.P." (Rest In Peace)
(không có sự tôn trọng khi dùng để đùa giỡn, nhưng ư nghĩa thực sự của
R.I.P là sự tôn trọng đối với cái chết), vô hít khói trên bàn thờ, đi
bán muối, đi đắp chiếu, hẻo, đăng xuất, đăng xuất khỏi thế giới, đăng
xuất khỏi trái đất, lên bảng đếm số (bị giết), hưởng nhang, ngồi bàn
thờ, lên bàn thờ, lên bàn thờ ngồi, bay màu (tiếng lóng)...
Có nhiều kiểu chết khác nhau: chết yểu, chết già, chết bệnh, chết trôi,
chết trận, chết bất đắc kỳ tử, chết đuối, tự tử chết, chết lâm sàng,
chết không nhắm mắt, chết đứng…
Cái chết trong thơ ca và âm nhạc là một chủ đề lớn, nơi các nghệ sĩ gửi
gắm nỗi sầu nhân thế, sự chiêm nghiệm triết lư hoặc thái độ sảng khoái
trước cơi vĩnh hằng. Trong Thơ Ca Việt Nam và Thế Giới, sự chiêm nghiệm
và tĩnh lặng: Nhiều nhà thơ nh́n cái chết như một phần tự nhiên của ṿng
đời thay v́ sự bi lụy. Chẳng hạn, trong bài thơ Lúc chết của nhà thơ
Nguyên Sa, cái chết hiện lên với góc nh́n nhẹ nhàng, nơi thể xác đi
trước mà tâm hồn vẫn vương vấn chút t́nh với trần gian.Nỗi ám ảnh và
định mệnh: Nhà thơ Du Tử Lê thường đưa cái chết vào thơ như một tấm
gương soi chiếu cuộc đời, không quá tang tóc nhưng đầy trăn trở về sự
vong thân.Thơ tang lễ phương Tây: Bài thơ Funeral Blues của W. H. Auden
là một ví dụ kinh điển về nỗi đau xé ḷng và sự sụp đổ của thế giới xung
quanh khi một người thân yêu qua đời.
Trong Âm nhạc, Trịnh Công Sơn và cát bụi: Âm nhạc Trịnh Công Sơn xem cái
chết là sự trở về với đất mẹ qua triết lư "cát bụi lại về cát bụi" ("Xin
mặt trời ngủ yên", "Cát bụi"). Cái chết ở đây được đón nhận bằng sự
buông xả, ḥa vào hư vô một cách thanh thản.
Phạm Duy và sự suy tưởng: Nhạc sĩ Phạm Duy có nhiều
ca khúc suy tưởng về cơi đi về như Đường chiều lá rụng, Cái chết tuyệt
vời, hay Những ǵ đem theo vào cơi chết, thể hiện sự đối diện trực diện
và thấu suốt quy luật sinh tử của đời người.
Âm nhạc cổ điển thế giới: Bản giao hưởng-thanh xướng
Das Lied von der Erde (Bài ca về trái đất) của nhà soạn nhạc Gustav
Mahler đan xen giữa bi thương và sự chấp nhận giă biệt cơi đời đầy tính
mỹ học.
Nh́n chung, thơ nhạc khi chạm đến cái chết không chỉ
để nói về sự kết thúc, mà là cách con người khẳng định giá trị của sự
sống, t́nh yêu và sự kết nối sâu sắc với cuộc đời.
Tục ngữ, thành ngữ cũng nói đến cái chết:
Chết trẻ khoẻ ma
Chết trên bụng đàn bà
Chết trên lưng ngựa
Chết trong c̣n hơn sống đục
Chết đi sống lại
Chết dở sống dở
Chết đói nhăn răng
Chết đói ră ruột
Chết đuối đọi đèn
Chết đuối trên cạn
Chết đuối vớ được cọc
Chết đuối vớ phải bọt
Chết đuối vũng trâu đầm
Chết hai tay chắp đít
Chết kèn trống sống dầu đèn
Chết không kịp trối
Chết không người chống gậy
Chết không nhắm mắt
Chết là cùng
Chết là hết
Chết lỗ chân trâu
Chết cha c̣n chú,
Chết mẹ bú vú d́
Chết mê chết mệt
Chết một con nḥn một mũi
Chết một cửa tứ
Chết người không chết tật
Chết no hơn sống thèm
Chết sau nằm ngả nằm nghiêng.
Các thái độ phổ biến trước cái chết:
Sợ hăi và lo lắng: Đây là phản ứng tự nhiên khi đối mặt với sự chấm dứt,
sự vô định của tương lai hoặc cảm giác tiếc nuối những ǵ chưa hoàn
thành trong cuộc sống.
Trầm uất và sầu muộn: Theo tâm lư học, giai đoạn trước khi rời bỏ cơi
đời, một số người trải qua sự chán nản hoặc suy sụp do thay đổi sinh lư
và tâm lư chuẩn bị cho sự kết thúc.
B́nh thản và tự tin: Những người có đời sống tinh thần an ổn, đă sống
trọn vẹn hoặc có niềm tin tôn giáo vững chắc thường đối diện với cái
chết nhẹ nhàng hơn.
Góc nh́n triết lư và tôn giáo.
Quan điểm Phật giáo: Cái chết được xem là một tiến tŕnh tự nhiên trong
quy luật sinh - lăo - bệnh - tử, là sự chuyển hóa của thân-tâm sang một
giai đoạn mới chứ không phải là sự biến mất hoàn toàn.
Ư nghĩa với sự sống: Việc nh́n nhận thẳng thắn về cái
chết giúp con người trân trọng từng khoảnh khắc hiện tại, sống ư nghĩa,
bao dung và từ bỏ những sân hận không cần thiết.
“Chết và thái độ trước cái chết” là một chủ đề rất lớn của triết học,
tôn giáo và văn chương. Nếu nh́n sâu hơn, vấn đề không chỉ là chết là
ǵ, mà c̣n là con người sống như thế nào khi biết ḿnh chắc chắn sẽ
chết.
Chết – sự thật cuối cùng của đời người.
Cái chết là giới hạn không ai có thể vượt qua. Con người có thể chống
lại bệnh tật, tuổi già, nghịch cảnh; có thể kéo dài sự sống bằng y học,
nhưng không thể loại bỏ hoàn toàn cái chết.
Điều đáng chú ư là con người khác các sinh vật khác ở chỗ ư thức được
cái chết của chính ḿnh. Ta không chỉ chết; ta biết rằng ḿnh sẽ chết.
Chính ư thức ấy tạo ra nỗi sợ, nhưng đồng thời cũng tạo ra chiều sâu của
đời sống. Nếu con người bất tử, nhiều giá trị mà chúng ta theo đuổi có
lẽ sẽ mất đi tính cấp thiết. Một ngày hữu hạn khiến một cuộc gặp trở nên
quư giá; một đời hữu hạn khiến t́nh yêu, t́nh bạn, sáng tạo và ḷng tử
tế trở nên có ư nghĩa. V́ thế, cái chết không chỉ là sự kết thúc của sự
sống. Ư thức về cái chết cũng là một trong những điều làm nên ư nghĩa
của sự sống.
V́ sao con người sợ chết? Sợ chết là một phản ứng rất tự nhiên. Ta sợ
cái đau thể xác, sợ sự chia ĺa, sợ mất những người ḿnh yêu thương, sợ
những điều chưa hoàn thành và đặc biệt là sợ cái không biết.
Nhưng phía sau nỗi sợ chết c̣n có một nỗi sợ sâu hơn: sợ đời ḿnh trở
nên vô nghĩa. Một người có thể không quá sợ bản thân cái chết, nhưng đau
đớn khi nghĩ rằng những ǵ ḿnh từng yêu thương, lao động, hy sinh rồi
sẽ biến mất. Bởi vậy, nhiều người t́m cách “đối thoại” với cái chết bằng
nghệ thuật, tôn giáo, triết học, kư ức và t́nh yêu. Nhà thơ viết để
chống lại sự lăng quên. Người mẹ truyền lại câu chuyện cho con để đời
sống của ḿnh tiếp tục trong kư ức. Người nghệ sĩ tạo ra tác phẩm để một
phần tâm hồn ḿnh tồn tại sau khi thân xác không c̣n.
Thái độ trước cái chết: từ sợ hăi đến chấp nhận
Một thái độ trưởng thành trước cái chết không nhất thiết là không sợ
chết. Con người vẫn có thể sợ, nhưng không để nỗi sợ ấy thống trị đời
sống.
Có thể h́nh dung ba thái độ:
Thứ nhất, trốn chạy cái chết. Con người cố không nghĩ đến nó, sống như
thể ḿnh sẽ măi măi tồn tại. Nhưng sự né tránh ấy không làm cái chết
biến mất.
Thứ hai, đầu hàng cái chết. Đây là khi con người nghĩ rằng v́ cuối cùng
rồi cũng chết nên mọi thứ đều vô nghĩa. Đây là một thái độ nguy hiểm,
bởi nó biến cái chết thành lư do để phủ nhận sự sống.
Thứ ba, chấp nhận cái chết như một phần của đời sống. Đây có lẽ là thái
độ sâu sắc nhất: biết ḿnh hữu hạn nhưng v́ thế càng sống có ư thức hơn.
Chấp nhận cái chết không có nghĩa là yêu cái chết. Nó
có nghĩa là nh́n thẳng vào giới hạn của ḿnh để biết quư trọng thời gian
c̣n lại. “Sống cùng cái chết” để sống sâu sắc hơn
Có một nghịch lư: chính cái chết có thể dạy con người
cách sống.
Khi biết thời gian hữu hạn, ta sẽ nhận ra nhiều thứ từng khiến ḿnh giận
dữ thực ra không đáng để giận. Những hơn thua, tự ái, danh vọng, tiền
bạc… có thể trở nên nhỏ bé khi đặt bên cạnh một câu hỏi giản dị: Nếu hôm
nay là những ngày cuối cùng của đời ḿnh, điều ǵ thực sự đáng giữ lại?
Câu hỏi ấy làm thay đổi thứ tự của các giá trị. Ta bắt đầu biết quư một
bữa cơm cùng gia đ́nh, một cuộc tṛ chuyện, một bàn tay nắm lấy bàn tay
ḿnh, một buổi chiều b́nh thường. Những điều tưởng như rất nhỏ bỗng trở
nên lớn lao bởi ta biết chúng không tồn tại măi măi.
Cái chết và phẩm giá con người:
Một vấn đề đặc biệt quan trọng là chết như thế nào.
Trong nhiều truyền thống triết học, phẩm giá của con người không chỉ thể
hiện ở cách họ sống mà c̣n ở cách họ đối diện với những giới hạn cuối
cùng.
Có người đối diện với cái chết bằng ḷng can đảm. Có
người bằng sự b́nh thản. Có người bằng t́nh yêu dành cho người ở lại. Có
người vẫn cố hoàn thành một công việc cuối cùng. Có người chỉ mong được
ra đi mà không làm phiền người khác.
Những thái độ ấy đều cho thấy một điều: con người không hoàn toàn làm
chủ được cái chết, nhưng có thể phần nào làm chủ thái độ của ḿnh trước
cái chết.
Đây là điểm rất quan trọng. Ta không chọn được việc
ḿnh có chết hay không; nhưng trong những điều kiện nhất định, ta có thể
chọn ḿnh sẽ sống những ngày c̣n lại như thế nào.
Văn chương thường nh́n cái chết như một tấm gương của
sự sống.
Trong văn học, cái chết hiếm khi chỉ là dấu chấm hết.
Nó thường là một tấm gương soi ngược lại đời sống. Cái chết của một nhân
vật có thể làm lộ ra t́nh yêu mà khi c̣n sống họ không dám nói. Nó có
thể phơi bày sự nhỏ nhen của người sống. Nó có thể làm người ta nhận ra
giá trị của một con người chỉ sau khi người ấy không c̣n. Bởi vậy, văn
chương về cái chết thực chất thường là văn chương về sự sống.
O. Henry, Chekhov, Hemingway, Tolstoy, Maupassant hay
nhiều nhà văn khác đều từng đặt nhân vật của ḿnh trước cái chết để đặt
ra câu hỏi: Con người là ǵ khi đứng trước giới hạn cuối cùng?
Cái chết của người khác và bài học cho người sống:
Có lẽ đau đớn nhất không phải là nghĩ đến cái chết của ḿnh mà là chứng
kiến người ḿnh yêu thương ra đi. Khi ấy, cái chết làm xuất hiện một
khoảng trống mà không ǵ có thể hoàn toàn lấp đầy. Nhưng theo thời gian,
người đă mất có thể tiếp tục tồn tại trong kư ức, trong những thói quen,
lời nói, câu chuyện và những giá trị họ để lại. Theo nghĩa ấy, con người
không chỉ tồn tại bằng thân xác.
Một người đă chết nhưng vẫn sống trong kư ức của người khác, trong tác
phẩm họ để lại, trong một hành động tử tế mà họ từng làm, trong một đời
sống mà họ đă ảnh hưởng. Đó là một dạng “tiếp tục tồn tại” rất đặc biệt
của con người.
Sau cùng, vấn đề không phải là “chết hay không chết.”
Câu hỏi quan trọng hơn là: “Biết chắc ḿnh sẽ chết, ta sẽ sống thế nào?”
Nếu cái chết là điều không thể thay đổi, th́ điều c̣n lại thuộc về chúng
ta là cách sống trước khi nó đến.
Có thể nói: Cái chết đặt dấu chấm hết cho đời người, nhưng chính cách
con người sống trước dấu chấm hết ấy quyết định ư nghĩa của câu chuyện.
Một người sống thật, yêu thật, biết tha thứ, biết chịu trách nhiệm, biết
làm điều có ích và biết trân trọng những người bên cạnh ḿnh có thể
không thắng được cái chết. Nhưng họ có thể làm được một điều quan trọng
hơn: không để sự hữu hạn của đời sống trở thành sự vô nghĩa.
V́ vậy, thái độ đẹp nhất trước cái chết có lẽ không
phải là không sợ, mà là biết sợ nhưng vẫn sống; không phải là phủ nhận
cái chết, mà là chấp nhận nó để yêu cuộc sống sâu sắc hơn.
Và đôi khi, khi tuổi đời đă đi rất xa, con người
không c̣n hỏi: “Làm sao để sống măi?” mà chỉ c̣n một mong ước giản dị
hơn: Được sống trọn vẹn cho đến ngày cuối cùng, rồi b́nh thản đặt xuống
những ǵ cần đặt xuống.
Dẫu biết “ sinh kư tử quy “, hiểu về cái chết và tự chọn cho ḿnh một
thái độ cũng là điều cần suy gẫm.
THÂN TRỌNG SƠN
( Tháng 8 / 2026 )

art2all.net |