Thân Trọng Sơn

 

CHUYỆN CỦA KEESH

Jack London
( 1876 - 1916 )

 

Jack London

 


          Jack London sinh ra với tên John Griffith Chaney tại San Francisco, California. Mẹ ông, Flora Wellman, là một nhà duy linh và giáo viên âm nhạc; cha ruột của ông, nhà chiêm tinh William Chaney, đă rời bỏ gia đ́nh trước khi ông ra đời. Năm 1876, Flora kết hôn với cựu binh Nội chiến John London, người đă đặt họ cho cậu bé. Gia đ́nh chuyển nhà nhiều lần quanh khu vực vịnh San Francisco, và Jack lớn lên trong cảnh nghèo của tầng lớp lao động tại Oakland.

 

London là người tự học, say mê đọc sách tại Thư viện Công cộng Oakland dưới sự hướng dẫn của thủ thư Ina Coolbrith (nữ thi sĩ được phong danh hiệu đầu tiên của bang California). Năm 14 tuổi, ông bỏ học để làm việc tại một nhà máy đóng hộp. Đến 15 tuổi, ông trở thành một “kẻ cướp hàu” trên vịnh San Francisco, rồi sau đó làm việc cho lực lượng tuần tra thủy sản California. Năm 17 tuổi, ông đi biển đến Nhật Bản trên tàu săn hải cẩu Sophia Sutherland. Năm 1894, ông lang bạt khắp nước Mỹ như một kẻ vô gia cư, bị giam 30 ngày v́ tội lang thang tại nhà tù Erie County (New York), và tham gia cơn sốt đào vàng Klondike năm 1897—những trải nghiệm đă nuôi dưỡng các tác phẩm xuất sắc nhất của ông.


London bắt đầu đăng truyện trên tạp chí Overland Monthly năm 1899. Tập truyện đầu tay The Son of the Wolf (1900) đă khẳng định ông như một tiếng nói mạnh mẽ về miền biên cương nước Mỹ. Kiệt tác The Call of the Wild (1903) đă đưa ông trở nên nổi tiếng toàn cầu chỉ sau một đêm. Sau đó là các tác phẩm như White Fang (1906), The Sea-Wolf (1904), và Martin Eden (1909). Ông là một trong những nhà văn Mỹ đầu tiên trở thành người nổi tiếng quốc tế và kiếm được khối tài sản lớn từ việc viết lách, với hơn 50 cuốn sách hoàn thành chỉ trong 17 năm.
 

Văn chương của London nổi bật với lối văn mạnh mẽ, giàu h́nh ảnh, hành động mănh liệt và chủ nghĩa tự nhiên không khoan nhượng. Chịu ảnh hưởng từ Darwin, Spencer, Marx và Nietzsche, tác phẩm của ông khám phá cuộc đấu tranh sinh tồn nguyên thủy, sự căng thẳng giữa văn minh và hoang dă, và sức bền bỉ của tinh thần con người (và cả động vật). Những truyện về Klondike—đặc biệt là To Build a Fire—được xem là đỉnh cao của văn học tự nhiên, thể hiện sự nhỏ bé của con người trước thiên nhiên lạnh lùng. Ông cũng là người tiên phong trong thể loại khoa học viễn tưởng và phản địa đàng, với The Iron Heel (1908) dự đoán chế độ phát xít trước khi nó xuất hiện ở châu Âu.


Những tác phẩm bền vững nhất của ông bao gồm The Call of the Wild (1903), White Fang (1906), The Sea-Wolf (1904), Martin Eden (1909), và hồi kư John Barleycorn (1913). Truyện ngắn nổi tiếng nhất của ông, To Build a Fire (1908), là một trong những tác phẩm Mỹ được tuyển chọn nhiều nhất và thường xuất hiện trong chương tŕnh học. Các truyện nổi bật khác gồm The Law of Life, Love of Life (được Lenin yêu thích), The Mexican, và The Story of Keesh. Cuốn sách bán chạy nhất trong đời ông là Burning Daylight (1910).


London kết hôn với Bessie Maddern năm 1900; họ có hai con gái, Joan và Bess (“Becky”), trước khi ly hôn năm 1904. Cùng năm đó, ông kết hôn với Charmian Kittredge và sống bên nhau đến cuối đời. Năm 1905, ông mua một trang trại ở Glen Ellen, hạt Sonoma, California, nơi ông cố gắng xây dựng dinh thự mơ ước “Wolf House”—nhưng công tŕnh bị cháy năm 1913 ngay trước khi hoàn thành, khiến ông suy sụp. London là một người theo chủ nghĩa xă hội tích cực và từng làm phóng viên chiến trường trong Chiến tranh Nga-Nhật (1904) và Cách mạng Mexico (1914).


London qua đời ngày 22 tháng 11 năm 1916, ở tuổi 40, tại trang trại của ḿnh ở Glen Ellen. Giấy chứng tử ghi nguyên nhân là chứng ure huyết do cơn đau quặn thận cấp; nhiều nhà nghiên cứu hiện đại cho rằng đó là ure huyết trầm trọng hơn do dùng morphine quá liều một cách vô t́nh, dù tin đồn tự tử vẫn tồn tại trong nhiều thập kỷ. Dù cuộc đời ngắn ngủi, ông để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ—hơn 200 truyện ngắn và 20 tiểu thuyết—vẫn được đọc rộng răi trên toàn thế giới. Tác phẩm của ông được dịch ra nhiều ngôn ngữ hơn bất kỳ nhà văn Mỹ nào cùng thời, và The Call of the Wild vẫn là một trong những tiểu thuyết Mỹ được đọc nhiều nhất. Công viên Lịch sử Bang Jack London tại Glen Ellen hiện lưu giữ trang trại và di sản của ông.


London là một trong những nhà văn được trả thù lao cao nhất thời đại của ḿnh, kiếm được số tiền tương đương hàng triệu đô la ngày nay. Ông viết đều đặn 1.000 từ mỗi buổi sáng. Ông từng bị cáo buộc đạo văn nhiều lần—một phần v́ mua ư tưởng cốt truyện từ một Sinclair Lewis trẻ tuổi và sử dụng các sự kiện báo chí làm chất liệu. Leon Trotsky đă đọc The Iron Heel khi ở tù, và Vladimir Lenin đă nghe đọc Love of Life trên giường bệnh trước khi qua đời.


Một vài câu nói của Ông:
 

“Cuộc sống không phải lúc nào cũng là cầm trong tay những lá bài tốt, mà đôi khi là chơi thật giỏi những lá bài xấu.”
 

“Những câu chuyện đẹp nhất thường bắt đầu từ đổ nát.”
 

“Cho chó một khúc xương không phải là ḷng từ thiện. Từ thiện là chia khúc xương đó với con chó, khi bạn cũng đang đói như nó.“

Truyện ngắn The Story of Keesh của Jack London không chỉ là một câu chuyện về sự trưởng thành của một cậu bé nơi vùng Bắc Cực khắc nghiệt, mà c̣n là một ẩn dụ sâu sắc về trí tuệ, công bằng xă hội và sự thay đổi trong tư duy con người. Qua hành tŕnh của Keesh – từ một cậu bé nghèo bị xem thường đến vị trí lănh đạo của cộng đồng – tác phẩm thể hiện nhiều tầng ư nghĩa đáng suy ngẫm.


Trước hết, chủ đề nổi bật nhất của truyện là sức mạnh của trí tuệ (headcraft) vượt lên trên mê tín (witchcraft). Trong khi dân làng ban đầu cho rằng thành công của Keesh đến từ phép thuật, th́ thực chất cậu chỉ sử dụng tư duy sáng tạo và quan sát thực tế để chế tạo công cụ săn gấu hiệu quả. Điều này phản ánh một thông điệp quan trọng: con người có thể làm chủ hoàn cảnh bằng lư trí và khoa học, thay v́ dựa vào niềm tin mù quáng. Jack London qua đó phê phán xu hướng giải thích những điều chưa hiểu bằng mê tín – một đặc điểm phổ biến trong các xă hội chưa phát triển.


Bên cạnh đó, truyện c̣n thể hiện rơ tinh thần công bằng xă hội và đạo đức cộng đồng. Keesh không chỉ săn giỏi mà c̣n phân chia chiến lợi phẩm một cách công bằng, đặc biệt quan tâm đến người yếu thế như người già và góa phụ. Điều này đối lập với những thợ săn trước đó – những người mạnh nhưng ích kỷ, giữ phần tốt cho ḿnh. Qua h́nh tượng Keesh, tác giả đề cao một kiểu lănh đạo lư tưởng: không chỉ có năng lực mà c̣n có trách nhiệm đạo đức. Đây cũng là sự phản ánh tư tưởng xă hội chủ nghĩa mà Jack London theo đuổi, nơi tài nguyên phải được phân phối công bằng.


Một ư nghĩa quan trọng khác là sự khẳng định giá trị cá nhân và tinh thần phản kháng. Keesh dám đứng lên trong hội đồng, nơi cậu vốn không có tiếng nói, để bảo vệ quyền lợi của ḿnh và mẹ. Hành động này thể hiện ḷng dũng cảm và ư thức về công lư. Dù bị chế giễu, đe dọa, cậu không lùi bước mà chọn cách chứng minh bằng hành động. Qua đó, truyện gửi gắm thông điệp rằng địa vị xă hội không quyết định giá trị con người; chính năng lực và ư chí mới là yếu tố quan trọng.


Ngoài ra, tác phẩm c̣n phản ánh quá tŕnh thay đổi nhận thức của cộng đồng. Ban đầu, dân làng nghi ngờ, ghen tị và thậm chí buộc tội Keesh dùng tà thuật. Nhưng khi sự thật được phơi bày, họ dần chấp nhận và tôn trọng cậu. Điều này cho thấy con người thường e ngại cái mới, nhưng cuối cùng vẫn có thể thay đổi khi đối diện với bằng chứng và kết quả thực tế. Đây là một quy luật phổ biến trong sự phát triển của xă hội. Cuối cùng, truyện mang ư nghĩa về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên – một chủ đề quen thuộc trong sáng tác của Jack London. Thiên nhiên trong truyện khắc nghiệt và nguy hiểm, nhưng không phải không thể chinh phục. Keesh không chiến thắng thiên nhiên bằng sức mạnh cơ bắp, mà bằng sự hiểu biết và sáng tạo. Điều này nhấn mạnh rằng sự thích nghi thông minh là ch́a khóa để sinh tồn.


Tóm lại, The Story of Keesh không chỉ là một câu chuyện phiêu lưu mà c̣n là một bài học sâu sắc về trí tuệ, công bằng, ḷng dũng cảm và sự tiến bộ của con người. Nhân vật Keesh đại diện cho h́nh mẫu con người mới – biết suy nghĩ, biết hành động v́ cộng đồng và dám thách thức những định kiến cũ. Chính v́ vậy, câu chuyện vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay, khi xă hội hiện đại vẫn đang đối mặt với những vấn đề tương tự về bất công và tư duy lạc hậu.

 

 

 


         Keesh sống từ rất lâu về trước, ở ŕa của biển Bắc Cực. Ông là người đứng đầu làng trong nhiều năm dài thịnh vượng, và khi qua đời, ông được vinh danh, tên tuổi luôn được mọi người nhắc đến. Ông sống đă lâu đến mức chỉ c̣n những người già mới nhớ đến tên ông—tên ông và câu chuyện về ông, được họ nghe lại từ những người già trước đó, và rồi những người già sau này sẽ kể lại cho con cháu ḿnh, truyền măi đến tận cuối thời gian. Và vào những đêm đông tăm tối, khi gió bắc thổi dài trên lớp băng, khi không khí tràn ngập những bông tuyết trắng bay mù mịt, khi không ai dám ra ngoài, đó chính là lúc thích hợp để kể lại câu chuyện về việc Keesh, từ túp lều băng nghèo nhất làng, đă vươn lên nắm quyền lực và vị trí cao nhất.


Theo câu chuyện được truyền lại, cậu là một cậu bé thông minh, khỏe mạnh và cường tráng, và đă “nh́n thấy mười ba mặt trời” theo cách tính thời gian của họ. Bởi mỗi mùa đông, mặt trời rời bỏ vùng đất, để lại bóng tối, và năm sau một mặt trời mới lại trở về để sưởi ấm và để họ có thể nh́n thấy khuôn mặt của nhau. Cha của Keesh là một người rất dũng cảm, nhưng đă chết trong thời kỳ đói kém, khi ông cố gắng cứu dân làng bằng cách săn một con gấu Bắc Cực lớn. Trong lúc quá nóng vội, ông đă lao vào vật lộn trực diện với con gấu và bị nó nghiền nát xương; nhưng con gấu có rất nhiều thịt, và dân làng đă được cứu sống. Keesh là con trai duy nhất của ông, và từ đó cậu sống một ḿnh với mẹ. Nhưng con người thường hay quên, và họ đă quên đi công lao của cha cậu; và v́ cậu chỉ là một đứa trẻ, c̣n mẹ cậu chỉ là một người phụ nữ, nên họ cũng nhanh chóng bị lăng quên. Không bao lâu sau, họ phải sống trong túp lều băng nghèo nàn nhất của cả ngôi làng.


Vào một đêm họp hội đồng trong túp lều băng lớn của Klosh-Kwan, vị tù trưởng, Keesh đă thể hiện ḍng máu chảy trong huyết quản ḿnh và bản lĩnh của một người đàn ông. Với vẻ trang nghiêm của một bậc trưởng lăo, cậu đứng dậy và chờ đợi sự im lặng giữa những tiếng ồn ào.


“Đúng là thịt có được chia cho tôi và mẹ tôi,” cậu nói. “Nhưng thường th́ đó là thịt già và dai, hơn nữa lại có quá nhiều xương.”


Những người thợ săn, già có, tóc bạc, cũng như những người trẻ khỏe mạnh, đều kinh ngạc. Chưa từng có chuyện như thế xảy ra trước đây—một đứa trẻ nói chuyện như người lớn, lại c̣n nói những lời gay gắt ngay trước mặt họ!


Nhưng Keesh vẫn tiếp tục, giọng điệu nghiêm túc và vững vàng: “V́ tôi biết cha tôi, Bok, là một thợ săn vĩ đại, nên tôi mới nói những lời này. Người ta nói rằng Bok mang về nhiều thịt hơn bất kỳ hai thợ săn giỏi nhất nào cộng lại; rằng chính tay ông chia phần, và chính mắt ông đảm bảo rằng người đàn bà già yếu nhất và người đàn ông già nua nhất đều nhận được phần công bằng.”


“Không! Không!” những người đàn ông kêu lên. “Đuổi thằng bé ra ngoài!” “Bắt nó đi ngủ đi!” “Nó đâu phải đàn ông mà dám nói chuyện với những người đàn ông và các bậc cao niên!”


Keesh b́nh tĩnh chờ cho sự náo loạn lắng xuống.


“Ngươi có vợ, Ugh-Gluk,” cậu nói, “và ngươi nói thay cho vợ ngươi. C̣n ngươi nữa, Massuk, cũng có mẹ, và ngươi nói thay cho họ. Mẹ ta không có ai ngoài ta; v́ vậy ta lên tiếng. Như ta đă nói, dù Bok đă chết v́ săn bắn quá liều lĩnh, th́ cũng là lẽ công bằng khi ta, con trai ông, và Ikeega, mẹ ta, vợ ông, được nhận đủ thịt khi bộ tộc c̣n dư dả thịt. Ta, Keesh, con trai của Bok, đă nói xong."


Cậu ngồi xuống, tai lắng nghe rơ từng làn sóng phản đối và phẫn nộ mà lời nói của ḿnh gây ra.


“Một thằng bé mà dám nói trong hội đồng!” lăo Ugh-Gluk lẩm bẩm.


“Chẳng lẽ những đứa trẻ c̣n bế trên tay lại dạy chúng ta—những người đàn ông—phải làm ǵ sao?” Massuk lớn tiếng. “Ta là đàn ông mà lại bị một đứa trẻ đ̣i ăn thịt chế giễu hay sao?”


Cơn giận dâng lên dữ dội. Họ ra lệnh cho cậu đi ngủ, dọa sẽ không cho cậu chút thịt nào, và hứa sẽ đánh đ̣n nặng v́ sự hỗn xược của cậu. Đôi mắt Keesh bắt đầu lóe lên, và ḍng máu sôi lên dưới làn da. Giữa những lời lăng mạ, cậu bật dậy.


“Hăy nghe ta, hỡi những người đàn ông!” cậu kêu lên. “Ta sẽ không bao giờ nói trong hội đồng nữa—không bao giờ—cho đến khi chính các người đến nói với ta rằng: ‘Keesh, ngươi nên nói, điều đó là tốt và đó là mong muốn của chúng ta.’ Hăy nghe đây, những lời cuối cùng của ta. Bok, cha ta, là một thợ săn vĩ đại. Ta, con trai của ông, cũng sẽ đi săn lấy thịt mà ta ăn. Và từ giờ, hăy biết rằng việc chia phần những ǵ ta săn được sẽ công bằng. Sẽ không c̣n người góa phụ hay kẻ yếu nào phải khóc trong đêm v́ không có thịt, trong khi những kẻ mạnh lại rên rỉ v́ đă ăn quá nhiều. Và trong những ngày sắp tới, những kẻ mạnh ăn quá nhiều sẽ phải xấu hổ. Ta, Keesh, đă nói xong!”


Những tiếng chế giễu và cười nhạo theo cậu ra khỏi túp lều băng, nhưng cậu vẫn cứng cỏi, không nh́n sang trái hay phải mà bước đi.


Ngày hôm sau, cậu đi dọc theo bờ biển, nơi băng và đất liền gặp nhau. Những người nh́n thấy cậu nhận ra rằng cậu mang theo cung tên, với nhiều mũi tên có đầu xương sắc nhọn, và trên vai là cây lao săn lớn của cha ḿnh. Mọi người cười cợt và bàn tán xôn xao. Đó là một chuyện chưa từng có. Chưa bao giờ một đứa trẻ c̣n nhỏ như vậy lại đi săn—chưa nói đến việc đi săn một ḿnh. Cũng có những cái lắc đầu và những lời tiên đoán u ám; c̣n phụ nữ th́ nh́n Ikeege với ánh mắt thương hại, và gương mặt bà đầy vẻ lo lắng, buồn bă.


“Nó sẽ sớm quay về thôi,” họ nói để an ủi.

 

“Cứ để nó đi; như thế sẽ dạy cho nó một bài học,” những người thợ săn nói. “Rồi nó sẽ sớm quay lại, và sau đó sẽ trở nên ngoan ngoăn, nói năng nhỏ nhẹ hơn.”


Nhưng một ngày trôi qua, rồi ngày thứ hai, và đến ngày thứ ba th́ một cơn băo dữ dội nổi lên—vẫn không thấy Keesh đâu. Ikeega đau đớn ṿ tóc, bôi muội than từ dầu hải cẩu lên mặt để tỏ ḷng tang thương; những người phụ nữ trách móc đàn ông bằng những lời cay đắng v́ họ đă đối xử tệ với cậu bé và đẩy cậu đến cái chết. C̣n đàn ông th́ im lặng, chuẩn bị lên đường t́m xác cậu khi cơn băo lắng xuống.


Tuy nhiên, sáng sớm hôm sau, Keesh sải bước trở về làng. Nhưng cậu không trở về với vẻ xấu hổ. Trên vai cậu là một gánh thịt tươi vừa săn được. Bước đi của cậu đầy vẻ quan trọng, và lời nói th́ pha chút kiêu hănh.


“Hỡi những người đàn ông, hăy mang chó và xe trượt đi theo dấu chân ta trong khoảng nửa ngày đường,” cậu nói. “Ngoài kia trên băng có rất nhiều thịt—một con gấu cái và hai con gấu con đă lớn nữa.”


Ikeega tràn ngập niềm vui, nhưng Keesh đón nhận sự xúc động của mẹ theo cách của một người đàn ông, nói rằng: “Nào, Ikeega, chúng ta hăy ăn. Sau đó ta sẽ ngủ, v́ ta rất mệt.”


Rồi cậu bước vào túp lều băng của ḿnh, ăn no nê, và sau đó ngủ liền suốt hai mươi giờ.


Ban đầu, mọi người vô cùng nghi ngờ—nghi ngờ và bàn tán không ngớt. Việc giết một con gấu Bắc Cực vốn đă rất nguy hiểm, nhưng giết một con gấu mẹ cùng đàn con của nó th́ nguy hiểm gấp ba, thậm chí gấp chín lần. Những người đàn ông không thể tin rằng cậu bé Keesh, một ḿnh, lại có thể làm được kỳ tích như vậy. Nhưng những người phụ nữ nhắc đến đống thịt tươi mà cậu đă mang về trên vai, và đó là bằng chứng không thể chối căi. Cuối cùng, họ lên đường, dù vẫn càu nhàu rằng nếu đúng như vậy th́ có lẽ cậu đă không kịp xẻ thịt. Ở vùng phương Bắc, điều này rất quan trọng—phải làm ngay sau khi săn được con mồi. Nếu không, thịt sẽ đông cứng đến mức làm cùn cả lưỡi dao sắc nhất, và một con gấu nặng ba trăm cân bị đông cứng th́ không dễ ǵ đặt lên xe trượt và kéo qua lớp băng gồ ghề. Nhưng khi đến nơi, họ không chỉ thấy con mồi—điều mà họ từng nghi ngờ—mà c̣n thấy Keesh đă xẻ thịt thành từng phần đúng cách của một thợ săn, và đă loại bỏ nội tạng.


Từ đó bắt đầu bí ẩn về Keesh—một bí ẩn ngày càng sâu sắc theo thời gian. Ngay chuyến đi kế tiếp, cậu đă hạ được một con gấu trẻ gần trưởng thành; và chuyến sau nữa, một con gấu đực lớn cùng bạn đời của nó. Thông thường, cậu đi săn từ ba đến bốn ngày, dù việc cậu ở lại ngoài băng cả tuần cũng không phải hiếm. Cậu luôn từ chối có người đi cùng trong những chuyến đi này, khiến mọi người vô cùng kinh ngạc.


“Làm sao mà nó làm được vậy?” họ hỏi nhau. “Nó chưa bao giờ mang theo chó, trong khi chó lại giúp ích rất nhiều!”


“Tại sao ngươi chỉ săn gấu?” một lần Klosh-Kwan đánh bạo hỏi.


Keesh trả lời một cách thích đáng: “Ai cũng biết rằng thịt gấu nhiều hơn.


Nhưng trong làng cũng bắt đầu lan truyền những lời đồn về phù phép.


“Nó đi săn cùng với tà ma,” một số người quả quyết, “nên việc săn bắn của nó mới thành công như vậy. Nếu không th́ c̣n cách nào khác để giải thích?”


“Có khi đó không phải là tà ma, mà là những linh hồn tốt lành,” những người khác nói. “Ai cũng biết cha nó là một thợ săn vĩ đại. Biết đâu cha nó đang đi săn cùng nó để giúp nó đạt đến sự khéo léo, kiên nhẫn và hiểu biết? Ai mà biết được?” Dẫu vậy, thành công của Keesh vẫn tiếp diễn, và những thợ săn kém cỏi thường phải bận rộn kéo thịt về từ các con mồi của cậu. Khi chia phần, cậu luôn công bằng. Giống như cha ḿnh trước đây, cậu đảm bảo rằng người đàn bà già yếu nhất và người đàn ông già nua nhất đều nhận được phần xứng đáng, c̣n bản thân cậu chỉ giữ lại vừa đủ nhu cầu. V́ điều này, cũng như tài năng săn bắn của cậu, mọi người nh́n cậu với sự kính trọng, thậm chí có phần kính sợ; và đă có lời bàn rằng nên lập cậu làm tù trưởng sau khi Klosh-Kwan già yếu. V́ những việc cậu đă làm, họ mong đợi cậu sẽ lại xuất hiện trong hội đồng, nhưng cậu không bao giờ đến, và họ cũng ngại không dám mời.


“Ḿnh định xây một túp lều băng,” một ngày nọ cậu nói với Klosh-Kwan và một số thợ săn. “Đó sẽ là một túp lều lớn, nơi Ikeega và ta có thể sống thoải mái.”


“Ừ,” họ gật đầu nghiêm túc.


“Nhưng ta không có thời gian. Công việc của ta là đi săn, và nó chiếm hết thời gian của ta. V́ vậy, những người đàn ông và phụ nữ trong làng—những người ăn thịt ta săn được—nên xây lều cho ta, như thế mới là công bằng.”


Và túp lều băng đă được xây dựng theo đúng như vậy, với quy mô rộng răi, thậm chí c̣n lớn hơn cả nơi ở của Klosh-Kwan. Keesh và mẹ chuyển vào đó sống, và đây là lần đầu tiên bà được hưởng sự sung túc kể từ khi Bok qua đời. Không chỉ sung túc về vật chất, mà nhờ người con trai tuyệt vời và vị thế mà cậu mang lại, bà c̣n được xem như người phụ nữ có vị trí cao nhất trong làng; những người phụ nữ khác thường đến thăm bà, xin lời khuyên, và trích dẫn những lời khôn ngoan của bà khi tranh luận với nhau hoặc với đàn ông.


Nhưng điều khiến mọi người bận tâm nhất vẫn là bí ẩn trong việc săn bắn kỳ diệu của Keesh. Và một ngày nọ, Ugh-Gluk đă trực tiếp buộc tội cậu dùng phù phép.


“Có lời cáo buộc,” Ugh-Gluk nói đầy ẩn ư, “rằng ngươi giao du với tà ma, nên việc săn bắn của ngươi mới thành công.”


“Chẳng phải thịt đó vẫn ngon sao?” Keesh đáp lại. “Đă có ai trong làng bị ốm v́ ăn nó chưa? Làm sao ngươi biết có phù phép ở đây? Hay ngươi chỉ đoán ṃ trong bóng tối, v́ ḷng đố kỵ đang thiêu đốt ngươi?“


Ugh-Gluk lùi bước trong sự bối rối, c̣n những người phụ nữ th́ cười nhạo ông khi ông bỏ đi. Nhưng một đêm nọ, trong hội đồng, sau nhiều bàn bạc, họ quyết định cử người theo dơi Keesh khi cậu đi săn, để t́m hiểu cách thức của cậu. V́ vậy, trong chuyến đi kế tiếp, Bim và Bawn—hai thanh niên, đồng thời là những thợ săn ranh mănh nhất—đă bí mật theo sau cậu, cẩn thận để không bị phát hiện. Sau năm ngày, họ trở về, mắt trợn tṛn và lưỡi run rẩy v́ những ǵ đă chứng kiến. Hội đồng được triệu tập vội vă tại lều của Klosh-Kwan, và Bim bắt đầu kể lại.


“Hỡi anh em! Theo lệnh, chúng tôi đă lần theo dấu chân của Keesh, và đi rất khéo léo để cậu không hay biết. Đến giữa ngày đầu tiên, cậu chạm trán một con gấu đực khổng lồ. Đó là một con gấu rất lớn.”


“Chưa từng thấy con nào lớn hơn,” Bawn phụ họa, rồi tiếp lời: “Thế nhưng con gấu không muốn giao chiến, nó quay đi và chậm răi bỏ chạy trên băng. Chúng tôi quan sát từ những tảng đá ven bờ, và con gấu tiến về phía chúng tôi, c̣n phía sau là Keesh, trông không hề sợ hăi. Cậu hét những lời gay gắt vào con gấu, vung tay và gây nhiều tiếng động. Khi đó con gấu nổi giận, đứng dựng lên bằng hai chân sau và gầm gừ. Nhưng Keesh vẫn tiến thẳng về phía nó.”


“Đúng vậy,” Bim tiếp tục câu chuyện. “Keesh đă tiến thẳng đến con gấu. Và con gấu bắt đầu đuổi theo cậu, c̣n Keesh th́ chạy đi. Nhưng khi chạy, cậu thả xuống băng những viên tṛn nhỏ. Con gấu dừng lại, ngửi chúng, rồi nuốt vào. Và Keesh cứ tiếp tục chạy và thả những viên tṛn nhỏ, c̣n con gấu th́ cứ tiếp tục nuốt chúng.”


Những tiếng kêu lên và nghi ngờ vang lên, và Ugh-Gluk công khai tỏ ư không tin.


“Chính mắt chúng tôi đă thấy,” Bim khẳng định.


Và Bawn nói thêm: “Đúng vậy, chính mắt chúng tôi. Và việc này tiếp diễn cho đến khi con gấu bỗng đứng bật dậy, kêu lên đau đớn, và vung hai chân trước một cách điên cuồng. C̣n Keesh th́ tiếp tục chạy ra xa đến nơi an toàn. Nhưng con gấu không c̣n để ư đến cậu nữa, v́ nó đang vật lộn với nỗi đau do những viên tṛn nhỏ gây ra bên trong cơ thể.”


“Đúng, bên trong nó,” Bim chen vào. “V́ nó cào cấu chính ḿnh, nhảy nhót trên băng như một chú chó con nghịch ngợm—nhưng qua tiếng gầm và tiếng rít của nó, rơ ràng đó không phải tṛ chơi mà là đau đớn. Chưa bao giờ tôi thấy cảnh tượng như vậy!”


“Chưa từng có cảnh tượng nào như thế,” Bawn tiếp lời. “Hơn nữa, đó lại là một con gấu rất lớn."


"Phù phép đấy,” Ugh-Gluk nói.


“Tôi không biết,” Bawn đáp. “Tôi chỉ kể lại những ǵ mắt tôi thấy. Sau một lúc, con gấu trở nên yếu và mệt, v́ nó rất to lớn và đă vùng vẫy dữ dội. Nó đi dọc theo mép băng ven bờ, lắc đầu chậm răi qua lại, thỉnh thoảng lại ngồi xuống kêu rên v́ đau đớn. Keesh đi theo sau con gấu, c̣n chúng tôi theo sau Keesh, và suốt ngày hôm đó cùng ba ngày tiếp theo, chúng tôi cứ bám theo như vậy. Con gấu ngày càng yếu đi, và không ngừng kêu gào v́ đau đớn.”


“Đó là bùa phép!” Ugh-Gluk kêu lên. “Chắc chắn là bùa phép!”


“Có thể là vậy.”


Rồi Bim tiếp lời Bawn: “Con gấu đi loạng choạng, lúc th́ hướng này lúc th́ hướng khác, quay đi quay lại, ṿng vèo trên chính dấu chân của nó, đến nỗi cuối cùng nó lại gần nơi Keesh lần đầu gặp nó. Lúc này nó đă kiệt sức và ốm nặng, không thể ḅ thêm được nữa, nên Keesh tiến lại gần và dùng lao đâm chết nó.”


“Rồi sao nữa?” Klosh-Kwan hỏi.


“Sau đó chúng tôi bỏ Keesh lại đang lột da con gấu, và chạy về để báo tin về cuộc săn.”


Chiều hôm đó, những người phụ nữ kéo thịt con gấu về, trong khi đàn ông tụ họp trong hội đồng. Khi Keesh trở về, một người đưa tin được cử đến gọi cậu đến hội đồng. Nhưng cậu gửi lời đáp lại rằng ḿnh đang đói và mệt; hơn nữa túp lều của cậu rộng răi, tiện nghi và có thể chứa nhiều người.


Sự ṭ ṃ của mọi người lớn đến mức toàn bộ hội đồng, dẫn đầu là Klosh-Kwan, cùng đứng dậy và đi đến túp lều của Keesh. Cậu đang ăn, nhưng vẫn tiếp đón họ một cách kính trọng và sắp xếp chỗ ngồi theo thứ bậc. Ikeega th́ lúc tự hào, lúc lại bối rối, c̣n Keesh th́ hoàn toàn b́nh tĩnh.


Klosh-Kwan thuật lại những điều Bim và Bawn đă kể, rồi kết thúc bằng giọng nghiêm nghị: “Vậy, hỡi Keesh, chúng ta cần lời giải thích về cách ngươi săn bắn. Có phải là phù phép không?”


Keesh ngẩng đầu lên và mỉm cười. “Không, thưa Klosh-Kwan. Một đứa trẻ như ta không biết ǵ về phù thủy, và ta cũng chẳng biết ǵ về phù phép. Ta chỉ nghĩ ra một cách để có thể giết gấu trên băng một cách dễ dàng, vậy thôi. Đó là trí tuệ, không phải phép thuật."


"Và bất cứ người đàn ông nào cũng có thể làm được sao?”


“Bất cứ ai cũng có thể.”


Một khoảng lặng dài bao trùm. Những người đàn ông nh́n nhau, c̣n Keesh th́ tiếp tục ăn.


“Và… và… và ngươi sẽ nói cho chúng ta biết chứ, hỡi Keesh?” cuối cùng Klosh-Kwan hỏi, giọng run run.


“Có, ta sẽ nói.” Keesh ăn xong phần tủy xương và đứng dậy. “Rất đơn giản. Hăy xem đây!”


Cậu nhặt lên một dải xương cá voi mỏng và cho họ xem. Hai đầu sắc nhọn như đầu kim. Cậu cuộn dải xương lại cẩn thận cho đến khi nó gọn trong ḷng bàn tay. Rồi bất ngờ buông ra, nó bật thẳng trở lại. Cậu nhặt một miếng mỡ cá voi.


“Như thế này,” cậu nói, “người ta lấy một miếng mỡ nhỏ, khoét rỗng như vậy. Rồi đặt dải xương cá voi vào bên trong, cuộn chặt như thế, và phủ thêm một lớp mỡ khác lên trên. Sau đó đem đặt ra ngoài cho đông lại thành một viên tṛn nhỏ. Con gấu nuốt viên đó, mỡ tan ra, dải xương cá voi với hai đầu sắc nhọn bung thẳng ra, con gấu bị đau đớn, và khi nó đă rất yếu, th́ các ngươi chỉ việc dùng lao giết nó. Rất đơn giản.”


Ugh-Gluk thốt lên: “Ồ!” c̣n Klosh-Kwan nói: “À!” Mỗi người đều lên tiếng theo cách riêng của ḿnh, và tất cả đều hiểu.

 

Và đó là câu chuyện về Keesh, người đă sống từ rất lâu trước đây bên ŕa biển Bắc Cực. Bởi v́ ông dùng trí tuệ chứ không phải phép thuật, ông đă vươn lên từ túp lều băng nghèo nàn nhất để trở thành người đứng đầu làng. Và trong suốt cuộc đời ḿnh, như câu chuyện kể lại, bộ tộc của ông luôn thịnh vượng, và không có góa phụ hay người yếu đuối nào phải khóc trong đêm v́ thiếu thịt.
 


THÂN TRỌNG SƠN
Dịch và giới thiệu
Tháng 5 / 2026


Nguồn:
https://americanliterature.com/author/jack-london/short-story/the-story-of-keesh
 
 

 

Trang Thân Trng Sơn

art2all.net