|
Thân Trọng Sơn
KHÔNG THẦY ĐỐ MẦY LÀM NÊN


“Nghề dạy học là nghề cao quư nhất
trong các nghề cao quư, nghề sáng tạo nhất trong các nghề sáng tạo”
(Thủ tướng Phạm Văn Đồng).
Trong cuộc sống, ai cũng có thời gian đi học, ai cũng có thầy dạy học.
H́nh ảnh người thầy được ghi nhận trong rất nhiều tục ngữ:
1.Tiên học lễ, hậu học văn
2. Nhất tự vi sư, bán tự vi sư.
3. Muốn sang th́ bắc cầu kiều, muốn con hay chữ th́ yêu lấy thầy.
4. Không thầy đố mày làm nên.
5. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
6. Mồng một tết cha, mồng ba tết thầy.
7. Nhất quư nh́ sư.
8. Trọng thầy mới được làm thầy.
9. Ăn vóc học hay.
10. Tam nhân đồng hành, tất hữu ngă sư.
Và trong ca dao:
1.Con ơi ham học chớ đùa
Bữa mô ngày Tết thỉnh bùa thầy đeo.
2. Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy
Nghĩ sao cho bơ những ngày ước mong.
3. Ơn thầy soi lối mở đường
Cho con vững bước dặm trường tương lai
4. Gươm vàng rớt xuống Hồ Tây
Ơn cha nghĩa trọng công thầy cũng sâu.
5. Mấy ai là kẻ không thầy
Thế gian thường nói đố mày làm nên.
6. Vua, thầy, cha, ấy ba ngôi
Kính thờ như một, trẻ ơi ghi ḷng.
7. Mười năm rèn luyện sách đèn
Công danh gặp bước, chớ quên ơn thầy.
8. Mẹ cha công đức sinh thành
Ra trường thầy dạy học hành cho hay.
9. Ơn Thầy không bằng gốc bễ
Nghĩa Thầy gánh vác cuộc đời học sinh.
10. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Có danh có vọng nhớ thầy khi xưa.
11. Công cha, áo mẹ, chữ thầy
Gắng công mà học có ngày thành danh.
12. Bẻ lau làm viết chép văn
Âu Dương có mẹ dạy răn như thầy.
13. Ở đây gần bạn gần thầy
Có công mài sắt có ngày nên kim
14. Mười năm rèn luyện sách đèn
Công danh gặp ước, chớ quên ơn thầy.
15. Tạ ơn thầy đă dẫn con vào rừng tri thức
Cảm nghĩa cô đă dắt tṛ đến biển yêu thương.
16. Con hơn cha là nhà có phúc
Tṛ hơn thầy là đất nước yên vui.
17. Dốt kia th́ phải cậy thầy
Vụng kia cậy thợ th́ mày làm nên.
18. Đến đây viếng cảnh viếng thầy
Không say mùi đạo cũng khuây mùi trần.
19. Con ơi ghi nhớ lời này
Công cha, nghĩa mẹ, công thầy chớ quên.
20. Chữ thầy trong cơi người ta
Dặm dài hoa nắng trời xa biển đầy.
21. Dạy con từ thuở tiểu sinh
Gần thầy gần bạn tập tành lễ nghi
Học cho "cách vật trí tri"
Văn chương chữ nghĩa nghề ǵ cũng thông.
22. Ai người đánh thức đêm trường mộng
Ai soi đường lồng lộng ánh từ quang
AI thắp lửa bồ đề tỏa sáng
Đạo vô vi sưởi ấm cả trần gian.
23. Khó th́ hết thảo hết ngay
Công cha cũng bỏ, nghĩa thầy cũng quên.
24. Ḍng sông sâu con sào dài đo được
Ḷng người đưa đ̣ ai biết được sự bao la.
25. Ơn dạy dỗ cao tường hơn núi
Nghĩa thầy tṛ như nước biển khơi.
Có thể nói, từ khi có loài người là có giáo dục, nền giáo dục nước ta
thực sự bắt đầu từ thời Lư (1009 – 1225), với khoa thi Nho học Tam
trường đầu tiên trong lịch sử khoa cử nước ta vào năm 1075. Thời phong
kiến, Việt Nam chịu ảnh hưởng rất nhiều từ nền văn hóa Trung Quốc. Đạo
học lấy chữ Nho làm trọng và được kính trọng là chữ Thánh hiền, lấy đạo
lư Khổng Mạnh làm kim chỉ nam, lấy Tứ Thư, Ngũ Kinh làm kinh điển. Thầy
giáo thường là người có học vị, có tài, có nhân cách mẫu mực đứng ra
giảng dạy, ngoài ra thầy giáo c̣n là những ông tú, ông cử, các quan về
hưu hay các vị trung lương treo ấn từ quan về mở trường dạy học…
Xă hội phong kiến luôn dành cho người thầy một vị trí xứng đáng. Trong
ba điều kính trọng, trước hết của con người th́ người thầy ở vị trí thứ
hai “Quân, sư, phụ” - chỉ đứng sau vua. Đó là trong khuôn phép lễ
nghĩa, c̣n trong dân gian h́nh ảnh người thầy được sánh ngang hàng với
cha mẹ “cơm cha, áo mẹ, chữ thầy”… sở dĩ người thầy ngày xưa có
được vị trí cao quư ấy chính là bởi ḷng tôn kính thầy và trọng đạo học
của người xưa.
Truyền thống tôn sư trọng đạo của nước ta đă được truyền qua nhiều giai
đoạn lịch sử khác nhau. Song, phải thừa nhận rằng đạo học thời phong
kiến đă ăn sâu vào tiềm thức người Việt Nam và có khả năng tác động, chi
phối đạo học thời sau này. Người xưa đặc biệt chú trọng đến nhân cách
con người, đạo học thời phong kiến lấy chữ “Lễ” làm trọng, sau đó mới
đến chữ “Văn”. Lễ giáo phong kiến đặt ra nó có một cái lợi rất lớn, đó
là giữ cho xă hội “thăng bằng” trong tam cương, ngũ thường… Người thầy
được đặt vào vị trí xứng đáng trong xă hội, đây là tính ưu việt của nền
giáo dục nước ta thời bấy giờ. Những điều luật thành văn và bất thành
văn ấy dần dần ăn sâu vào nếp nghĩ, thái độ ứng xử cũng như việc làm của
mỗi người trong xă hội, để rồi theo năm tháng kết tinh lại tạo thành
truyền thống hiếu học – “tôn sư trọng đạo" của dân tộc Việt Nam.
Người thầy không chỉ là người truyền đạt tri thức, thắp lên ngọn lửa về
ước mơ, niềm tin và hy vọng mà c̣n là tấm gương sáng cho bao thế hệ học
tṛ noi theo. Bởi thế mà đă có biết bao bài thơ, lời hát viết về h́nh
tượng người thầy.
Trước hết là những thầy, cô giáo của ngày đầu tiên đi học: “Em mắt
ướt nhạt nḥa/Cô vỗ về an ủi/Chao ôi sao thiết tha” (Nguyễn Ngọc
Thiện). Ở đó h́nh ảnh và t́nh yêu thương của cô có khác ǵ t́nh yêu
thương của mẹ, để trong ánh mắt hồn nhiên tuổi nhỏ có lúc cô giáo chính
là những cô tiên hiền dịu.
Rồi những ngày đầu tiên tập viết, bàn tay nhỏ xíu xinh xinh giữa ḷng
tay cô ấm áp, nét chữ run run thành h́nh, cô hiểu nét chữ nết người nên
cẩn thận sửa nét, chỉ cách cầm phấn, cầm viết cho từng em một: “Xiêu
nghiêng nét chữ dại khờ/Tay cô cầm ấm đến giờ ḷng em/Vở ngày thơ ấu lần
xem/T́nh cô như mẹ biết đem sánh ǵ” (Nhớ cô giáo làng - Nguyễn Văn
Thiên).
Bảng đen, phấn trắng, những đêm dài miệt mài bên trang giáo án đă trở
thành những h́nh ảnh quen thuộc gắn liền với h́nh tượng người thầy.
Người học tṛ trong bài hát “Bụi phấn” của nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu không
chỉ nhận ra bụi phấn đang rơi trên bục giảng, trên tóc thầy mà c̣n nhận
ra ḿnh yêu tha thiết những năm tháng học tṛ, trân trọng từng khoảnh
khắc được nghe lời thầy giảng. Nhà thơ Phi Tuyết Ba lại mang đến một cảm
nhận sâu sắc về ḍng trôi của thời gian qua đời thầy ở bài thơ “Vùng
phấn bay”: “Bao nhiêu viên phấn đă ṃn/Bao nhiêu giáo án chẳng c̣n
trẻ trung/Nước trôi về xứ vô cùng/Thương thầy ở lại một vùng phấn bay”.
Trong mắt học tṛ, nhiều lúc thầy cô không chỉ là cha, là mẹ, là thầy mà
là người nghệ sĩ trên bục giảng, lời dạy của thầy cũng chính là lời ru:
“Thầy không ru đủ ngh́n câu/Biết con chữ cũng đứng sau cuộc đời/Tuổi
thơ em có một thời/Ước mơ th́ rộng như trời, ngàn năm” (Lời ru của
thầy - Đoàn Vị Thượng). Bài giảng của thầy đưa em ngược về quá khứ, đi
đến tương lai, mở ra những chân trời mới, một góc quê nhà: “Em nghe
thầy đọc bao ngày/Tiếng thơ đỏ nắng xanh cây quê nhà/Mái chèo nghe vọng
sông xa/Êm êm như tiếng của bà năm xưa/Nghe trăng thuở động tàu dừa/Rào
rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời” (Nghe thầy đọc thơ - Trần Đăng
Khoa).
Có một thời đất nước đạn bom, những người thầy theo tiếng gọi non sông
xếp lại trang giáo án lên đường. Chiến tranh đi qua, thầy lại trở về với
nụ cười vẹn nguyên, tin tưởng như xưa “Nhưng một bàn chân không c̣n
nữa”, nó đă hóa thân thành dấu nạng gỗ: “In lên cổng trường những
chiều giá buốt/In lên cổng trường những đêm mưa dầm/Dấu nạng hai bên như
hai hang lỗ đáo/Chúng em nhận ra bàn chân thầy giáo/Như nhận ra cái chưa
hoàn hảo/Của cả cuộc đời ḿnh” (Bàn chân thầy giáo - Trần Đăng
Khoa).
Và suốt dọc thời b́nh, những người thầy vẫn miệt mài làm người ươm hạt,
người đưa đ̣ thầm lặng. Bao nhiêu thế hệ học tṛ đă cặp bến bờ tri thức,
mang theo một ḷng tri ân vô hạn. Riêng người thầy vẫn tự nhủ con đường
ḿnh đang đi vẫn c̣n xa, xa lắm: “Con đ̣ mộc - mái đầu sương/Măi theo
ta khắp muôn phương vạn ngày/Khúc sông ấy vẫn c̣n đây/Thầy đưa tiếp
những đ̣ đầy qua sông... (Người lái đ̣ - Thảo Nguyên).
Người thầy sẽ măi là h́nh tượng đẹp trong thơ ca và âm nhạc, bởi lẽ ai
đă từng đi qua những năm tháng học tṛ cũng đều muốn đọc lên, hát lên
những bài thơ, những lời ca của ḷng biết ơn chân thành: “Dẫu đếm hết
sao trời đêm nay, dẫu đếm hết lá mùa thu rơi; nhưng ngàn năm, làm sao em
đếm hết công ơn người thầy” (Người thầy - Nguyễn Nhất Huy).
Thầy không ru đủ ngh́n câu
Biết con chữ cũng đứng sau cuộc đời
Tuổi thơ em có một thời
Ước mơ th́ rộng như trời, ngàn năm
(Lời ru của thầy - Đoàn Vị Thượng)
“Em nghe thầy đọc bao ngày
Tiếng thơ đỏ nắng xanh cây quanh nhà
Mái chèo nghe vọng sông xa
Êm êm như tiếng của bà năm xưa
Nghe trăng thở động tàu dừa
Rào rào nghe đổ cơn mưa giữa trời.
…Đêm nay thầy ở đâu rồi
Nhớ thầy, em lại lặng ngồi em nghe.”
( Nghe thầy đọc thơ - Trần Đăng Khoa )
“Con đ̣ mộc - mái đầu sương
Măi theo ta khắp muôn phương vạn ngày
Khúc sông ấy vẫn c̣n đây
Thầy đưa tiếp những đ̣ đầy qua sông... “
(Người lái đ̣ - Thảo Nguyên).
“ Em đi nón chạm mây trời
Rừng sâu “bán chữ” cất lời ngân nga
Tiếng rao xao xác lau già
Non cao đôi mảnh trăng tà ngậm sương”
( Em đi - Lê Đ́nh Cánh )
Có một thời khó khăn, nhiều người đă chê ngành Sư phạm :” nhất y, nh́
dược, tạm được bách khoa, bỏ qua sư phạm.” hay: “ chuột chạy cùng
sào mới vào sư phạm”. Đến khi ra trường rồi, h́nh ảnh người thầy
cũng rất tội nghiệp: “ Thầy giáo tháo giày đi dép lốp, Nhà trường
nhường trà uống nước trong.” Tệ hơn nữa: “ Muốn giàu lấy thợ
điện, muốn diện lấy thợ may, muốn ăn mày lấy thầy giáo.”
May thay, những chuyện như vậy chỉ là một thời đă qua, một thời đă xa!
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử dân tộc, bên cạnh những chiến công
vang dội để bảo vệ non sông đất nước th́ lịch sử dân tộc Việt Nam c̣n
ghi đậm dấu ấn về bề dày văn hóa, trong đó có giáo dục, khoa cử. Sau đây
là một số nhà giáo tiêu biểu đă có công kiến tạo nền tri thức nước nhà.
1. Thầy giáo Chu Văn An (1292 - 1379)
Nhà giáo Chu Văn An tên thật là Chu An, hiệu là Tiều Ân, tên chữ là Linh
Triệt. Ông là một trong những nhà giáo ưu tú nhất trong lịch sử Việt
Nam.
Thầy Chu Văn An vốn là người chính trực nên không thích việc quan trường
luôn ẩn chứa nhiều điều thị phi. Ông mở trường dạy học ở làng Huỳnh Cung
bên sông Tô Lịch (Hà Nội ngày nay). Sau này, ông được chính vua Trần
Minh Tông mời đến dạy tại Quốc Tử Giám và làm thầy riêng cho thái tử
Trần Vượng, tức vua Trần Hiến Tông sau này.
Điển tích nổi tiếng nhất của thầy Chu Văn An khi sinh thời thể hiện sự
chính trực chính là việc ông dâng “Thất trảm sớ”, yêu cầu vua Trần Dụ
Tông chém đầu bảy tên gian thần song bị vua từ chối. Sau đó, ông cáo
lăo, về ở ẩn gần núi Phượng Hoàng, Chí Linh, Hải Dương, làm một thầy
giáo truyền thụ kiến thức cho đến khi mất.
2. Thầy giáo Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585)
Nhà giáo Nguyễn Bỉnh Khiêm tự là Hạnh Phủ, hiệu là Bạch Vân cư sĩ hay
c̣n được biết đến với cái tên quen thuộc là Trạng Tŕnh. Ông nổi tiếng
v́ tính t́nh cương trực, tư cách đạo đức và tài thơ văn của một nhà giáo
có tiếng thời kỳ Lê – Mạc phân tranh. Ngay từ bé, ông đă có tướng mạo
khôi ngô tuấn tú, có trí nhớ hơn người. Giống như rất nhiều vị hiền nhân
khác trong lịch sử, thời thế loạn lạc đă khiến ông không hứng thú với
chốn quan trường.
Sau này, dưới thời vua Mạc Đăng Doanh, ông đỗ Trạng nguyên và quyết định
pḥ vua giúp nước. Song v́ không chịu được những điều thị phi, ông dâng
sớ hạch tội 18 tên gian thần nhưng bị từ chối, ông cũng từ quan về ở ẩn,
trở thành một nhà giáo lỗi lạc. Học tṛ của ông trong thời điểm này có
những người rất nổi tiếng như Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan…
Hơn 40 năm lui về Bạch Vân Am dạy học là hơn 40 năm thầy dồn hết tâm
huyết đào tạo nhiều tri thức lớn cho đất nước. Học tṛ của thầy đều là
những nhân tài xuất chúng, văn vơ song toàn như Phùng Khắc Khoan, Lư Hữu
Khánh, Nguyễn Quyện… Danh tiếng và tài năng của thầy và trường Bạch vân
bên ḍng Tuyết Giang vang dội khắp nơi. Thầy được các môn sinh tôn là
“Tuyết Giang phu tử” - một danh xưng tôn kính cho những bậc sư biểu đức
độ.
Đồn rằng, do được truyền cho quyển “Thái ất thần kinh” nên thầy Nguyễn
Bỉnh Khiêm tinh thông về lư học, tướng số, có thể tiên đoán được biến cố
trước và sau 500 năm. Với những câu “sấm truyền”, thầy được người đời
suy tôn là “nhà tiên tri” số một của Việt Nam. Giai thoại cùng với những
lời sấm tiên tri của thầy vẫn c̣n được truyền tụng tận đến ngày hôm nay
và ứng nghiệm đến bất ngờ.
Lúc sinh thời, thầy đă dùng tài lư số của ḿnh “cứu văn” cho triều nhà
Mạc tồn tại được một thời gian khá dài. Tương truyền rằng, lúc nhà Mạc
sắp mất liền sai người đến hỏi thầy. Thầy đă đưa ra lời sấm cho nhà Mạc
rằng: “Cao Bằng tàng tại, tam đại tồn cô”. Nghĩa là nếu chạy lên Cao
Bằng th́ sẽ tồn tại được 3 đời. Quả nhiên, nhà Mạc lên Cao Bằng th́ tồn
tại được thêm 3 đời. Thầy cũng đưa ra lời sấm cho Nguyễn Hoàng, mà nhờ
đó nhà Nguyễn mới tiến vào Nam mở rộng bờ cơi để đất nước ta có h́nh
thái như ngày hôm nay.
3. Thầy giáo, nhà bác học Lê Quư Đôn (1726 - 1784)
Nhà giáo Lê Quư Đôn tên thật là Lê Danh Phương. Ông là một vị quan, một
nhà khoa học trong rất nhiều lĩnh vực ở thời hậu Lê. Với kiến thức uyên
thâm, tài trí hơn người, Lê Quư Đôn đă để lại nhiều bộ sách có giá trị ở
nhiều thể loại khác nhau như lịch sử, địa lư, thơ văn, lư số… Ngoài ra,
ông c̣n là một nhà nho, nhà giáo dục tài năng và đức độ. Qua bàn tay dạy
dỗ với những bài học về kiến thức, đạo đức làm người, học tṛ của ông có
rất nhiều người đă thành tài và giữ chức vụ quan lớn trong triều đ́nh.
Thuở nhỏ, cậu bé Lê Danh Phương ( tên đầu tiên của Lê Quư Đôn ) rất cứng
đầu và biếng học. Cha Phương quở trách, buộc cậu làm một bài thơ trong
đó phải có điều ǵ liên quan đến sự cứng đầu, cứng cổ để tạ tội.
Phương vâng lời và đọc ngay một bài có tên là “rắn đầu” nghĩa bóng là
cứng đầu như sau:
“Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà,
Rắn đầu biếng học, chẳng ai tha
Thẹn đèn hổ lửa đau ḷng mẹ,
Nay thét mai gầm rát cổ cha.
Ráo mép chỉ quen tuồng nói dối,
Lằn lưng cam chịu vết roi tra.
Từ nay Trâu Lỗ chăm nghề học.
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia”.
Đặc điểm của bài thơ này là, đọc câu nào trong bài chúng ta cũng gặp tên
một loài rắn. Chẳng hạn như rắn, rồi rắn liu điu, rắn hổ lửa, rắn mai
gầm, rắn ráo, rắn thằn lằn, rắn hổ mang...Nội dung bài thơ lại toát lên
sự nhận lỗi và hứa sẽ chăm học hơn « kéo hổ mang danh tiếng thế gia ».
4. Thầy giáo Nguyễn Đ́nh Chiểu
(1822 - 1888)
Nguyễn Đ́nh Chiểu tự là Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, hay c̣n
được gọi với cái tên thân mật là cụ đồ Chiểu. Ông là một trong những nhà
thơ, nhà văn hóa lớn ở thế kỷ 19 trong lịch sử văn học Việt Nam. Ông là
một trong những con người có cuộc đời khá bất hạnh. Xuất thân trong một
gia đ́nh nhà nho, ông cũng có một tương lai tươi sáng khi đang rộng bước
trên con đường khoa cử. Bên cạnh đó, ông c̣n được một gia đ́nh giàu có
hứa gả con gái. Tuy nhiên, việc thân mẫu của ông mất chính là bước ngoặt
thay đổi hoàn toàn cuộc sống của nhân vật này. Mẹ mất, v́ quá thương mẹ
mà khóc đến mù hai mắt, sau đó là bệnh tật, hôn thê bội ước, gia cảnh sa
sút. Tuy vậy, chính hoàn cảnh này mới bộc lộ được tính cách của một nhà
nho, nhà giáo, nhà yêu nước chân chính.
Sống vào thời điểm loạn lạc nhất trong lịch sử phong kiến khi nước Pháp
bắt đầu mang quân sang xâm lược nước ta, trước những cám dỗ của kẻ thù,
ông vẫn giữ khí tiết. Ông đă để lại cho đời rất nhiều áng văn lỗi lạc
như Lục Vân Tiên và Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.
5. La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp (1723 – 1804)
Nguyễn Thiếp là một danh sĩ nổi tiếng đời hậu Lê và Tây Sơn. Cùng với
Nguyễn B́nh Khiêm, Nguyễn Thiếp được học tṛ tôn là "Phu tử". Với tư
chất thông minh, được dạy dỗ từ nhỏ, những điều kiện đủ để Nguyễn Thiếp
trở nên một người hay chữ và hiển đạt về sau. Nhưng Nguyễn Thiếp không
thích lối sống khuôn sáo, bó buộc thường t́nh, mà ngoặt sang lối rẽ
khác, thực hiện chí của riêng ḿnh theo lẽ xuất, xử của nhà Nho. Năm 21
tuổi, Nguyễn Thiếp đỗ Hương giải, con đường công danh trước mắt rộng
thênh thang, vậy mà không hiểu v́ sao ông lại dứt con đường cử nghiệp,
chuyển sang ẩn dật. Sau này, Nguyễn Thiếp bất đắc dĩ phải ra làm quan để
"nuôi mẹ già báo đáp đạo hiếu" nhưng cũng từ đó ông tham gia vào việc
chấn hưng việc học bị đ́nh đốn sau nhiều năm loạn lạc, ông đưa ra nhiều
chủ trương mới nhưng không được chấp nhận. Sau 13 năm làm quan, v́ quá
chán nản, ông lui về ở ẩn.
Trong những năm tháng sống ẩn dật trên núi Bùi Phong, Phu tử đă dạy được
nhiều lớp học tṛ thành đạt, đem lại sự giáo hóa và muốn thay đổi học
phong cho cả một thời Tây Sơn.
6. Nhà giáo Phan Bội Châu (1867–1940)
Phan Bội Châu là một danh sĩ và là nhà cách mạng Việt Nam, hoạt động
trong thời kỳ Pháp thuộc.
Gia cảnh khó khăn, ông đi dạy học kiếm sống và học thi. Khoa thi năm
Đinh Dậu (1897) ông đậu vào trường nh́ nhưng bạn ông là Trần Văn Lương
đă cho vào tráp mấy cuốn sách nên ông bị khép tội hoài hiệp văn tự (mang
văn tự trong áo) nên bị kết án suốt đời không được dự thi nữa.
Sau sự cố này, Phan Bội Châu vào Huế dạy học, do mến tài ông nên các
quan đă xin vua Thành Thái xóa án. Nhờ vậy, ngay khoa thi hương tiếp
theo, năm Canh Tư (1900), ông đă đậu đầu (Giải nguyên) ở trường thi Nghệ
An.
Đất nước bị giặc ngoại xâm, ông lập Duy Tân hội, sang Nhật cầu viện, rồi
phát động phong trào Đông Du nhưng thất bại. Phan Bội Châu mất ngày 29
tháng 12 năm 1940 tại Huế.
Tên ông đă được đặt cho nhiều trường học và nhiều con đường trên cả
nước, trong đó có trường chuyên của tỉnh Nghệ An và một con phố lớn tại
Hà Nội, Hạ Long.
7. Nhà giáo nhân dân Đặng Thai Mai (1902-1984)
Nhà giáo Đặng Thai Mai c̣n được biết đến với những bút danh Thanh Tuyền,
Thanh B́nh. Đặng Thai Mai là giáo sư, nhà giáo, nhà văn, nhà phê b́nh
văn học Việt Nam; và nguyên là Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Viện trưởng đầu
tiên của Viện Văn học Việt Nam.
Ông có vốn nho học uyên thâm và am hiểu văn học cổ điển Pháp, văn học
hiện đại Trung Quốc, văn học cận đại Việt Nam. Năm 1982, ông được Nhà
nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh. Năm 1996, ông được Nhà nước
truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt I) về các công tŕnh nghiên cứu
văn học Việt Nam và văn học thế giới.
Trong lịch sử nhân loại, luôn có sự hiện diện, đóng góp quan trọng của
những người thầy trong việc truyền đạt và nâng cao tri thức. Có những
người thầy vĩ đại đă trở thành biểu tượng của tri thức nhân loại.
Plato: Triết gia và nhà giáo Hy Lạp cổ đại, hiệu trưởng ngôi
trường đầu tiên của thế giới phương Tây.
Ngày nay, khi nói đến lịch sử triết học cổ điển, tên tuổi của Plato
không thể không được nhắc đến. Ông là một trong những nhà triết học vĩ
đại nhất của Hy Lạp cổ đại và đă để lại ảnh hưởng sâu sắc trong lĩnh vực
triết học, giáo dục và nghệ thuật.
Plato, tên đầy đủ là Aristocles Plato, sinh vào khoảng năm 428-427 trước
Công nguyên tại Athens, Hy Lạp. Ông là học tṛ xuất sắc của Socrates và
sau đó trở thành người thầy của Aristotle, tạo nên một chuỗi kế nhiệm
triết học nổi tiếng. Plato nổi tiếng với triết lư Platonism, một hệ
thống triết học toàn diện liên quan đến vấn đề như đạo lư, chính trị, và
giáo dục.
Một trong những đóng góp quan trọng nhất của Plato đối với triết học là
công tŕnh "Chính trị", nơi ông mô tả ư tưởng về "nhà triết học vua" -
một nhóm người thông thái và đạo đức nhất nên lănh đạo xă hội. Ông cũng
nổi tiếng với thuyết "H́nh", một ư tưởng về sự hiện thực của thế giới
vật chất và thế giới tư tưởng không thể nh́n thấy bằng giác quan thông
thường.
Trong lĩnh vực giáo dục, Plato thành lập Học viện Athens, một trong
những trung tâm nổi tiếng nhất của thời đại, nơi ông giảng dạy và truyền
đạt tri thức cho các học tṛ của ḿnh. Đồng thời, ông cũng ghi chép
những bài giảng và thảo luận của Socrates, đóng góp quan trọng cho việc
lưu truyền tri thức và tư duy.
Plato không chỉ là một nhà triết học lớn mà c̣n là một nhà văn tài năng.
Các tác phẩm như "Quốc phủ" và "Phép thử kim loại" đă giúp h́nh thành
nền văn hóa và triết học của thế giới cổ đại.
Mặc dù đă hơn hai ngàn năm trôi qua từ khi Plato sống, nhưng tư tưởng
của ông vẫn c̣n sống động và có ảnh hưởng đến tư duy hiện đại. H́nh ảnh
của người thầy Plato không chỉ là một nhà triết học, mà c̣n là một nhà
giáo tâm huyết, người luôn t́m kiếm sự đạo đức và tri thức để truyền đạt
cho thế hệ tương lai.
Khổng Tử : Nhà triết học, người thầy của văn hoá Trung Hoa
Khổng Tử (551-479 TCN), hay Confucius trong phiên âm Latinh, là nhà giáo
người Trung Quốc duy nhất có tầm ảnh hưởng đến cả châu lục và thế giới.
Ông là học tṛ nổi tiếng của Khổng Đạo và sau này trở thành người thầy
của Mencius, tạo nên một ḍng triết học nổi bật trong lịch sử Trung
Quốc.
Triết lư của Khổng Tử được tóm gọn trong hệ thống tư tưởng Confucianism,
một hệ thống giáo dục mà ông coi là cơ sở cho đạo đức và xă hội. Ông chủ
trương "Nhân quả thịnh, thiên địa ḥa" (Nhân vừa đạo, th́ thiên địa ḥa
hợp) - ư nghĩa rằng nếu con người tuân theo đạo đức và hành xử đúng, th́
t́nh h́nh xă hội và thiên nhiên sẽ ḥa thuận.
Một trong những công tŕnh quan trọng của Khổng Tử là "Nhân quả"
(Analects), một tập hợp những tuyển chọn từ những bài giảng và hội thoại
của ông với học tṛ. Trong "Nhân quả," ông tập trung vào những giá trị
đạo đức, tôn trọng gia đ́nh, và đặc biệt là quan điểm về quyền lực,
trong đó ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lănh đạo bằng tâm huyết
và t́nh thần nhân đạo.
Khổng Tử không chỉ là một nhà triết học mà c̣n là một nhà giáo tâm
huyết. Ông dành phần lớn cuộc đời ḿnh để giảng dạy và lan truyền tri
thức, góp phần lớn vào việc h́nh thành nền triết học và văn hóa của
Trung Quốc.
Khổng Tử đă để lại ảnh hưởng sâu sắc trong lĩnh vực triết học, đạo đức
và giáo dục. Sự tận tâm và triết lư sống của ông vẫn tiếp tục là nguồn
cảm hứng cho thế hệ sau, là biểu tượng của sự hiểu biết, nhân bản và đạo
đức, những giá trị trường tồn và lan tỏa qua thời gian.
Leonardo da Vinci: Thiên tài toàn năng nhất lịch sử nhân loại.
Leonardo da Vinci là một họa sĩ, nhà
phát minh, nhà vật lư, nhà toán học và kiến trúc sư người Ư, có ảnh
hưởng lớn đối với nghệ thuật và khoa học.
Nhắc đến những danh nhân nghệ thuật và khoa học, Leonardo da Vinci được
xem là một biểu tượng, không chỉ là một họa sĩ xuất sắc mà c̣n là một
nhà khoa học, kiến trúc sư và phát minh gia.
Leonardo nổi tiếng với tác phẩm hội họa vĩ đại: bức tranh Mona Lisa, Bữa
ăn tối cuối cùng và Người Vitruvius. Bức tranh Mona Lisa không chỉ là
biểu tượng của nghệ thuật hiện đại mà c̣n là một biểu tượng văn hóa toàn
cầu, với ánh nh́n sâu sắc và vẻ đẹp bí ẩn.
Ngoài hội họa, Leonardo c̣n là một nhà nghiên cứu và phát minh gia xuất
sắc. Ông ghi chú về hàng ngh́n ư tưởng, bao gồm cả máy bay, máy đo, và
thiết bị đo lường. Các bản vẽ của ông về con người, động vật và máy móc
không chỉ là nghệ thuật mà c̣n là nền tảng cho những khám phá khoa học
sau này.
Leonardo da Vinci không chỉ là một người học giỏi mà c̣n là một người
thầy tâm huyết. Ông đă tạo nên một thế hệ họa sĩ và nhà khoa học tài
năng, di sản và tư tưởng của ông vẫn sống măi trong trái tim và tư duy
của con người
John Amos Comenius: "Cha đẻ của giáo dục hiện đại"
John Amos Comenius (1592-1670) là một triết gia, nhà cải cách giáo dục,
nhà thần học người Séc, được biết đến là người có đóng góp lớn vào
phương pháp giảng dạy, khai sinh ra sách giáo khoa sử dụng h́nh ảnh.
Nhân loại gọi ông là "Cha đẻ của giáo dục hiện đại".
John Amos Comenius không chỉ là một nhà giáo xuất sắc mà c̣n là một
triết gia tiên phong, người đă để lại dấu ấn sâu sắc trong lĩnh vực giáo
dục toàn cầu. Ông đă chứng kiến nhiều thách thức trong cuộc sống, từ
chiến tranh và bất ổn xă hội, nhưng những khó khăn này đă khích lệ ông
t́m kiếm những giải pháp giáo dục mang tính đổi mới.
Một trong những đóng góp quan trọng nhất của Comenius là ư tưởng về giáo
dục toàn diện. Ông đề xuất việc giảng dạy mọi kiến thức theo một cách có
tổ chức và hệ thống, giúp học sinh phát triển toàn diện cả về lư thức và
thực hành. Phương pháp giảng dạy của ông tập trung vào việc sử dụng h́nh
ảnh, minh họa và kỹ thuật trực quan để truyền đạt kiến thức.
Tác phẩm nổi tiếng "Orbis Pictus" (Thế giới h́nh ảnh) của Comenius, xuất
bản năm 1658, được xem là bản sách giáo tŕnh đầu tiên dành cho trẻ em.
Cuốn sách này giúp trẻ em học một cách hiệu quả, thúc đẩy sự phát triển
tư duy và sự sáng tạo.
Ngoài ra, Comenius c̣n nổi tiếng với tư duy về "giáo dục công bằng," mà
ông tin rằng giáo dục nên dành cho mọi người, không phân biệt giai cấp
xă hội hay địa vị. Ông mong muốn xây dựng một hệ thống giáo dục lành
mạnh, phát triển toàn diện cho nhân loại.
Tư duy và nguyên tắc giáo dục của John Amos Comenius có đóng góp quan
trọng đối với sự hiểu biết về giáo dục hiện đại.
Isaac Newton: Nhà khoa học, quả táo và định luật vạn vật hấp dẫn.
Isaac Newton (1643-1727) là một trong những cái tên không thể không được
kể đến trong số những nhà khoa học lừng danh trong lịch sử. Ông không
chỉ là một nhà toán học và nhà vật lư xuất sắc mà c̣n có ảnh hưởng lớn
đối với khoa học hiện đại: toán học, vật lư, thiên văn học, và triết
học.
Công tŕnh nổi tiếng của Newton bao gồm "Nguyên tắc Toán học Nghiên cứu
Tự nhiên", xuất bản năm 1687. Trong tác phẩm này, Newton giới thiệu ba
định luật chuyển động và định luật về trọng lực, mở ra một thời kỳ mới
trong lĩnh vực vật lư học.
Newton cũng nổi tiếng với phát minh ra phương tŕnh vi phân và nền toán
học mới, mang lại những công cụ mạnh mẽ cho việc nghiên cứu vận động của
các đối tượng và hiểu biết về các hiện tượng tự nhiên. Công tŕnh của
ông đă định h́nh nền tảng cho toán học và vật lư hiện đại.
Isaac Newton không chỉ là một nhà khoa học mà c̣n là một nhà giáo tận
tâm, ông giảng dạy tại Đại học Cambridge. Sự đóng góp của ông không chỉ
là những công tŕnh nghiên cứu xuất sắc mà c̣n là ḷng nhiệt huyết với
giáo dục, với sự phát triển của khoa học hiện đại.
Maria Montessori: Nữ bác sĩ sáng lập phương pháp giáo dục
Montessori .
Maria Montessori (1870-1952), một người phụ nữ đầy tài năng và sáng tạo,
đă để lại dấu ấn sâu sắc trong lĩnh vực giáo dục với phương pháp
Montessori, một hệ thống giáo dục độc đáo và có ảnh hưởng lớn trên toàn
thế giới.
Maria Montessori theo đuổi sự nghiệp y học và trở thành bác sĩ phụ sản
đầu tiên tại Ư. Tuy nhiên, đam mê của bà không chỉ dừng lại ở y học mà
c̣n mở rộng sang lĩnh vực giáo dục.
Phương pháp Montessori, được Maria Montessori phát triển từ những nghiên
cứu và quan sát về sự phát triển của trẻ em, tập trung vào việc tôn
trọng và khuyến khích sự tự do và tự chủ. Thay v́ giảng dạy theo kiểu
truyền thống, phương pháp này đặt trẻ vào môi trường tự nhiên, tự quản
lư, nơi họ có thể phát triển theo cách tự nhiên nhất.
Bằng cách sử dụng đồ dùng giáo dục đặc biệt thiết kế cho từng giai đoạn
phát triển của trẻ, Phương pháp Montessori không chỉ hỗ trợ việc học mà
c̣n khuyến khích sự sáng tạo, ḷng tự tin và tư duy phê phán. Bà
Montessori tin rằng "Hăy để trẻ làm những việc họ có thể làm đúng cách,
họ sẽ phát triển thành người tự tin và tự trọng."
Maria Montessori không chỉ là người
sáng lập Phương pháp giáo dục Montessori, được áp dụng rộng răi trên
khắp thế giới, bà c̣n là biểu tượng của ḷng say mê với giáo dục, ḷng
nhân ái và sự cam kết với sự phát triển toàn diện của trẻ em.
Tại Việt Nam, nhà giáo đă được vinh danh bằng ngày 20/11, gọi là Ngày
Nhà giáo Việt Nam.
Ngày Nhà giáo Việt Nam khởi đầu bằng một sự kiện lịch sử, đó là vào
tháng 8 năm 1957, Hội nghị quốc tế các nhà giáo họp tại Warsaw (Ba Lan)
đă thông qua bản “Hiến chương các nhà giáo” và quyết định lấy ngày 20
tháng 11 hằng năm là ngày “Quốc tế Hiến chương các nhà giáo”.
Nghị quyết của hội nghị được phổ biến nhanh chóng đến tất cả các trường
học, các cơ quan quản lư giáo dục miền Bắc và đồng bào, giáo giới, học
sinh miền Nam. Ngày 20/11/1958, ngày Quốc tế Hiến chương các nhà giáo
lần đầu tiên được tổ chức tại miền Bắc nước ta. Đến nay, Ngày 20/11 dần
khắc sâu vào t́nh cảm, trí nhớ của mọi người, thành hành động chủ động,
tự giác của mọi tầng lớp nhân dân và được tổ chức đều đặn hàng năm, mặc
dù từ lâu trên thế giới không tổ chức ngày Quốc tế Hiến chương các nhà
giáo nữa.
Sau năm 1975, được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, được sự
cổ vũ của các tầng lớp nhân dân, các bậc cha mẹ học sinh, ngày 20/11
hằng năm đă được tiến hành trên cả nước. Ngày 28/09/1982, Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Chính phủ) đă ra quyết định số 167-HĐBT lấy ngày 20/11
hằng năm làm Ngày Nhà giáo Việt Nam dựa trên cơ sở thực tế của những
ngày 20/11 trong những năm học vừa qua. Quyết định này có ư nghĩa đặc
biệt quan trọng thể hiện sự quan tâm của Nhà nước về vị trí vai tṛ của
nhà giáo trong sự nghiệp đào tạo lớp người mới xây dựng xă hội chủ nghĩa
và bảo vệ tổ quốc.
Để ghi nhận công lao, đề cao vị trí xă hội và động viên, khuyến khích
các nhà giáo, ngày 30/5/1985, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (nay là Chủ
tịch nước) đă kư Lệnh công bố Pháp lệnh quy định Giải thưởng Hồ Chí Minh
là giải thưởng Nhà nước cho các công tŕnh thuộc các lĩnh vực khoa học
kỹ thuật, văn hóa nghệ thuật... (trong đó có cả sách giáo khoa dành cho
các trường học) và Pháp lệnh danh hiệu vinh dự Nhà nước “Nhà giáo nhân
dân”, “Nhà giáo ưu tú” để tặng các cô nuôi dạy trẻ, giáo viên mẫu giáo,
giáo viên phổ thông, giáo viên bổ túc văn hoá, giáo viên dạy nghề, cán
bộ giảng dạy cao đẳng, đại học và trung học chuyên nghiệp... có thành
tích xuất sắc.
Nhân kỷ niệm Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11, chúng ta bày tỏ sự trân trọng
và ḷng biết ơn đối với các thầy cô giáo ở mọi miền của Tổ quốc, kính
chúc sức khoẻ quư thầy cô giáo - những người đă và đang ra sức học tập,
rèn luyện góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xă hội chủ nghĩa;
tô điểm thêm truyền thống tốt đẹp, cao quư của dân tộc Việt Nam.
Vào ngày này, tṛ đến thăm thầy bằng tấm ḷng tôn kính, không cần phải
quà cáp ǵ. Tṛ cần nhớ rằng, ngày nay dù ḿnh có quyền cao chức trọng
ǵ th́ cũng một mực lễ phép với thầy giáo cũ. Gương sáng thường được
nhắc là chuyện Ông Carnot.
Chuyện kể rằng ông Marie Francois Sadi Carnot nguyên là tổng thống nước
Pháp. Một hôm, nhân chuyến về thăm quê nhà, ông đi ngang qua trường
làng, trông thấy người thầy dạy ḿnh lúc bé, bây giờ đă rất già, nhưng
vẫn đang ngồi trong lớp.
Ông Carnot ghé vào thăm trường và đến ngay lại trước mặt thầy giáo, mà
rằng: “Chào thầy, con là Carnot đây, thầy c̣n nhớ con không?”. Rồi ông
bảo những học tṛ nhỏ: “Ta trước là mang ơn cha, ơn mẹ, sau ơn thầy đây,
v́ nhờ thầy chịu khó dạy bảo, ta mới làm nên sự nghiệp ngày nay”.
Chuyện ông Carnot là vậy, đơn sơ mà cảm động. Vị tổng thống không yêu
cầu chính quyền địa phương sắp đặt đón ḿnh, không cần dọn dẹp trường
lớp, trang hoàng lộng lẫy với băng rôn, biểu ngữ và cũng không bắt học
tṛ làm hàng rào danh dự chào mừng. Nhưng cảm động nhất là h́nh ảnh một
nguyên thủ quốc gia “đến ngay lại trước mặt thầy giáo, chào hỏi lễ phép”
trong lúc thầy vẫn điềm nhiên giảng dạy các tṛ nhỏ. Đối với người thầy
giáo già, chẳng cần biết có “ông lớn” tới, chẳng cần chạy vội ra cổng
trường xum xoe đón tiếp, rồi hộ tống vào lớp tham quan, huấn thị này nọ.
Người thầy giáo già vẫn dạy học b́nh thường như mọi ngày. Carnot quyền
uy hôm nay vẫn là cậu học tṛ nhỏ tinh nghịch của ngày xưa đă từng bị
thầy đánh vào tay, véo tai, bắt qú phạt!
Nghe chuyện xưa để ngẫm chuyện nay. Nghề Giáo được vinh danh bằng nhiều
mỹ từ “Giáo dục”, “Mô phạm”, “Kỹ sư tâm hồn”. Thời Nho học thịnh hành,
vai tṛ, vị thế của người thầy chỉ đứng sau vua, “quân - sư - phụ”. Câu
“Nhất tự vi sư, bán tự vi sư’’ khẳng định ḷng kính trọng tuyệt đối,
nghĩa thầy tṛ sâu nặng. V́ lẽ đó, xă hội đ̣i hỏi ở các người thầy bao
tiêu chuẩn, là tấm gương để học sinh noi theo.
Xă hội tiến bộ, giáo dục cũng đổi thay tùy hoàn cảnh đất nước. Vị thế
của người thầy vô h́nh trung bị “kỹ nghệ hoá’’ như bao ngành nghề khác.
Đáng buồn hơn, có lúc, có nơi, không ít các bậc cha mẹ nghe lời con mà
phê phán, gây hấn, hăm dọa thầy, cô giáo; thậm chí có học sinh c̣n
“thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” với thầy cô.
Là người, không ai hoàn hảo cả. Thầy, cô giáo cũng không ngoại lệ. Nhưng
nếu xă hội thiếu kỷ cương, luật pháp thiếu nghiêm minh th́ hậu quả tai
hại không phải chỉ một thế hệ đương thời mà nhiều thế hệ tương lai. Bởi
lẽ, nghề dạy học đ̣i hỏi nhiều thử thách, công sức, sáng tạo và nghệ
thuật. Thầy, cô giáo như con ong chuyên cần đắp xây tổ tươm mật ngọt,
nhận lănh thiên chức đào tạo hữu hiệu con người biết sống có t́nh, có
nghĩa. Một điều căn cơ là giáo dục không phải công cụ, sản phẩm của
riêng ai.
Bất cứ thời đại nào, từ ngàn xưa, hôm nay và măi đến ngàn sau, người
thầy vẫn tượng trưng cho khuynh hướng thế hệ đương thời, chiếc gương
thời đại phản ảnh ước vọng tuổi trẻ, nguồn cảm hứng dồi dào trong mọi
lĩnh vực mà đạo đức phải luôn đồng hành với kiến thức. Câu “Tiên học lễ,
hậu học văn” là v́ lẽ đó.
Tôn vinh nghề giáo, tôn kính thầy cô không chỉ là truyền thống ngàn đời
của người Việt Nam; đó c̣n là góp phần xây dựng nền móng vững chắc cho
lâu đài học vấn của mỗi công dân, cho tương lai đất nước.
Trong giáo dục, có lẽ có rất nhiều công việc cụ thể phải làm, có rất
nhiều việc cụ thể phải nắm bắt. Nhưng việc bồi dưỡng học tṛ tốt nhất
chính là bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, bồi dưỡng những giá trị nhân văn,
trong đó căn bản nhất, quan trọng nhất chính là đánh thức lương tri biết
trân quư, tôn trọng sinh mệnh của học tṛ.
Dù đang học hay đă nghỉ học rồi nay về thăm thầy cô giáo, tṛ cũng nên
diễn đạt bằng lời, dù đơn sơ mộc mạc nhưng phải thành thật không màu mè.
Là tṛ rồi là thầy, mỗi năm đến tháng 11 là trong ḷng lại dấy lên những
suy nghĩ về công việc ḿnh đă làm trong quá khứ. Phải chăng chỉ là lẽ
thường t́nh?
Tháng 11
THÂN TRỌNG SƠN.

Trang Thân Trọng
Sơn
art2all.net |