|
Thân Trọng Sơn
VÁCH ĐÁ MÊ HOẶC
Willa Carter
( 1873 - 1947 )


Willa Cather sinh năm 1873 tại
thung lũng Back Creek gần Winchester, Virginia. Cha bà, Charles Fectigue
Cather, có nguồn gốc từ một gia đ́nh xuất thân từ xứ Wales, lấy họ
Cather từ Cadair Idris, một ngọn núi ở Gwynedd. Mẹ bà, Mary Virginia
Boak, từng là giáo viên. Khi Willa được 12 tháng tuổi, gia đ́nh chuyển
đến Willow Shade, một ngôi nhà theo phong cách Hy Lạp trên diện tích 130
mẫu Anh, được tặng bởi ông bà nội của bà.
Mary Cather sinh thêm sáu người con sau Willa: Roscoe, Douglass,
Jessica, James, John và Elsie. Willa gần gũi với các anh trai hơn là các
em gái, những người mà, theo nhà tiểu sử Hermione Lee, bà “có vẻ không
thích lắm”.
Năm 1883, khi Willa chín tuổi, gia đ́nh chuyển đến hạt Webster,
Nebraska, và sau đó đến thị trấn Red Cloud, nơi bà sống cho đến khi theo
học tại Đại học Nebraska.
Sau khi tốt nghiệp trường trung học Red Cloud năm 1890, ở tuổi 16,
Cather chuyển đến Lincoln, Nebraska, để theo học tại Đại học
Nebraska-Lincoln. Ban đầu, bà dự định học khoa học với mục tiêu trở
thành bác sĩ, nhưng sau đó chuyển sang học tiếng Anh và tốt nghiệp với
bằng Cử nhân Văn chương năm 1895.
Thời gian của Cather ở Nebraska, vẫn được coi là một bang biên giới, là
một trải nghiệm h́nh thành: Bà bị xúc động bởi môi trường và thời tiết
kịch tính, sự rộng lớn của thảo nguyên, và các nền văn hóa khác nhau của
các gia đ́nh nhập cư và người Mỹ bản địa trong khu vực.
Theo sự thúc giục của ông bà nội Charles Cather, gia đ́nh chuyển đến
Nebraska vào năm 1883 khi Willa chín tuổi. Đất nông nghiệp thu hút ông
nội của Charles, và gia đ́nh cũng muốn tránh các đợt bùng phát bệnh lao
lan tràn ở Virginia. Cha của Willa thử sức với nghề nông trong 18 tháng,
sau đó chuyển gia đ́nh vào thị trấn Red Cloud, nơi ông mở một doanh
nghiệp bất động sản và bảo hiểm, và các con lần đầu tiên đi học. Một số
tác phẩm sớm nhất của Cather lần đầu tiên được xuất bản trên tờ Red
Cloud Chief, tờ báo địa phương. Bà cũng đọc nhiều, kết bạn với một cặp
vợ chồng Do Thái, nhà Wiener, những người đă cho bà quyền truy cập không
giới hạn vào thư viện rộng lớn của họ ở Red Cloud. Đồng thời, bà cùng
bác sĩ địa phương đi thăm bệnh và quyết định trở thành bác sĩ phẫu
thuật. Trong một thời gian ngắn, bà kư tên ḿnh là William, nhưng nhanh
chóng bỏ qua để chuyển sang “Willa”.
Sau khi tốt nghiệp trường trung học Red Cloud năm 1890, ở tuổi 16,
Cather chuyển đến Lincoln, Nebraska, để ghi danh vào Đại học
Nebraska–Lincoln. Trong năm đầu tiên ở đó, một bài luận bà viết về
Thomas Carlyle được xuất bản trên tờ Nebraska State Journal mà bà không
hề hay biết. Sau đó, bà bắt đầu viết các chuyên mục với giá một đô la
mỗi bài, nói rằng những lời của bà trên trang in có “một loại hiệu ứng
thôi miên” đối với bà, thúc đẩy bà tiếp tục viết. Bà sớm trở thành người
đóng góp thường xuyên cho tờ Journal. Ngoài ra, bà c̣n là biên tập viên
chính của The Hesperian, tờ báo sinh viên của trường đại học, và trở
thành người đóng góp cho tờ Lincoln Courier.
Willa Cather đă được công nhận là một nhà văn lớn của Mỹ, nhận Giải
Pulitzer năm 1923 cho tiểu thuyết về Thế chiến I của bà, “One of Ours”
(1922). Bà tiếp tục với tác phẩm nổi tiếng “Death Comes for the
Archbishop” năm 1927, bán được 86.500 bản trong hai năm và được đưa vào
danh sách 100 tiểu thuyết hay nhất thế kỷ 20 của Modern Library.
Hai trong ba tiểu thuyết khác của bà trong thập kỷ này - “A Lost Lady”
và “The Professor’s House” - đă nâng cao đáng kể vị thế văn học của bà.
Bà được mời tham gia hàng trăm buổi diễn thuyết công cộng, kiếm được
khoản nhuận bút đáng kể và bán quyền làm phim cho “A Lost Lady”. Tuy
nhiên, tiểu thuyết khác của bà trong thập kỷ này, “My Mortal Enemy”,
xuất bản năm 1926, không nhận được sự hoan nghênh rộng ră - và cả bà lẫn
bạn đời Edith Lewis đều không đề cập đáng kể đến nó sau này.
Mặc dù thành công, bà cũng phải đối mặt với sự chỉ trích gay gắt, đặc
biệt liên quan đến “One of Ours”. Người bạn thân Elizabeth Shepley
Sergeant coi tiểu thuyết này là phản bội thực tế của chiến tranh, không
hiểu cách “kết nối khoảng cách giữa tầm nh́n lư tưởng hóa về chiến tranh
của [Cather]… và ấn tượng khắc nghiệt của tôi về chiến tranh như đă
sống”. Tương tự, Ernest Hemingway phản đối cách bà miêu tả chiến tranh,
viết trong một lá thư năm 1923 rằng, “Cảnh cuối cùng trong chiến hào
không tuyệt vời sao? Bạn có biết nó đến từ đâu không? Cảnh chiến đấu
trong ‘Birth of a Nation’. Tôi đă nhận ra từng tập một, được Cather hóa.
Người phụ nữ tội nghiệp, bà ấy phải có được kinh nghiệm chiến tranh của
ḿnh ở đâu đó.”
Năm 1929, bà được bầu vào Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn chương Hoa Kỳ.
Willa Cather viết truyện này vào
năm 1909, trong thời gian bà làm biên tập viên cho tạp chí McClure’s từ
năm 1906 đến 1912. Mặc dù công việc biên tập bận rộn khiến bà ít có thời
gian viết truyện, “The Enchanted Bluff” được coi là một trong những tác
phẩm nổi bật của bà trong giai đoạn này. Truyện thể hiện sự chuyển đổi
trong phong cách viết của Cather, báo hiệu cho những tác phẩm lớn hơn
sau này. Edith Lewis, người bạn đồng hành suốt 40 năm của Cather, đă
nhận xét rằng truyện này “khác biệt so với những ǵ bà từng viết trước
đó” và là “một dấu hiệu ban đầu cho những ǵ sắp tới”.
“The Enchanted Bluff” không chỉ là câu chuyện về những giấc mơ tuổi trẻ
và sự trôi qua của thời gian, mà c̣n phản ánh sự khao khát khám phá và
nỗi tiếc nuối về những cơ hội bị bỏ lỡ trong cuộc sống.
Willa Cather được công nhận là một tiểu thuyết gia viết về trải nghiệm
biên cương và tiên phong. Bà viết về tinh thần của những người định cư
tiến vào các bang miền Tây, nhiều người trong số họ là người nhập cư
châu Âu vào thế kỷ 19. Những chủ đề phổ biến trong tác phẩm của bà bao
gồm nỗi nhớ quê hương và cảm giác lưu vong.
Cảm nhận về địa điểm là một yếu tố quan trọng trong tác phẩm của Willa
Cather: các cảnh quan và không gian sống trở thành những hiện diện năng
động, nơi các nhân vật của bà đấu tranh và t́m thấy cộng đồng.
“The Enchanted Bluff” (1909) được xuất bản trên tạp chí Harper’s vào
tháng 4 năm 1909. “Người da đỏ kể rằng hàng trăm năm trước, trước khi
người Tây Ban Nha đến, có một ngôi làng nằm cheo leo trên cao. Bộ tộc
sống ở đó có một loại cầu thang làm từ gỗ và vỏ cây, treo xuống mặt vách
đá, và các chiến binh sẽ xuống săn bắn và mang nước lên trong những
chiếc b́nh lớn đeo trên lưng.”
Câu chuyện kể về một nhóm sáu cậu bé sống ở thị trấn Sandtown thuộc vùng
Trung Tây Hoa Kỳ. Vào một buổi tối, khi cắm trại bên sông, họ chia sẻ
những câu chuyện và ước mơ về những nơi xa xôi. Tip, một trong những cậu
bé, kể về “Enchanted Bluff” (Vách đá Mê hoặc), một mỏm đá cao ở New
Mexico, nơi từng có một bộ tộc người da đỏ sinh sống trước khi người Tây
Ban Nha đến. Bộ tộc này đă sử dụng những bậc thang bằng gỗ và vỏ cây
treo trên mặt vách đá để xuống săn bắn và lấy nước. Tuy nhiên, một thảm
kịch xảy ra khi những người đàn ông của bộ tộc bị giết trong một chuyến
săn, để lại phụ nữ và trẻ em mắc kẹt trên đỉnh vách đá, dẫn đến cái chết
của họ do đói khát sau khi một cơn băo phá hủy các bậc thang.
Câu chuyện tiếp tục theo chân các cậu bé khi họ trưởng thành, với ước mơ
khám phá Enchanted Bluff vẫn c̣n trong tâm trí, nhưng không ai trong số
họ thực hiện được chuyến đi đó. Câu chuyện phản ánh về những ước mơ thời
trẻ và thực tế cuộc sống khi trưởng thành.
Tại trung tâm của “The Enchanted Bluff” là truyền thuyết về bộ tộc đă
mất tại Enchanted Mesa, một mô đất sa thạch cao 430 foot ở New Mexico.
Giống như những cậu bé trong câu chuyện của ḿnh, Willa Cather đă bị
cuốn hút bởi truyền thuyết này từ khi c̣n nhỏ nhưng chưa bao giờ đến
thăm khu vực này.
Một lần, khi những người đàn ông xuống núi săn bắn, một toán quân đă
giết họ. Phụ nữ và trẻ em trên núi bị chết đói, v́ một cơn băo khủng
khiếp hoặc ṿi rồng đă phá hủy cầu thang cần thiết để xuống núi. Các cậu
bé sau đó trở về nhà và bàn bạc về kế hoạch đến đó. Nhiều năm sau, không
ai trong số họ thực hiện được chuyến đi đến Vách đá Mê hoặc. Percy trở
thành nhân viên môi giới chứng khoán ở Kansas City; Otto làm việc trên
đường sắt và sau đó tiếp quản tiệm may của cha cùng anh trai; Arthur
không đạt được ǵ trong cuộc sống. Anh nói với người kể chuyện rằng anh
muốn đến Vách đá Mê hoặc và Grand Canyon, nhưng sớm qua đời trong cùng
thị trấn cũ. Tuy nhiên, Tip dự định đến đó khi con trai anh, cũng say mê
vách đá đó, đủ lớn để đi cùng anh.


Chúng tôi đă bơi trước khi
mặt trời lặn, và trong khi chúng tôi đang nấu bữa tối, những tia sáng
xiên tạo nên một ánh sáng chói lóa trên băi cát trắng xung quanh chúng
tôi. Quả bóng đỏ trong suốt tự ch́m xuống sau những cánh đồng bắp trải
dài màu nâu khi chúng tôi ngồi xuống ăn, và lớp không khí ấm áp đă nghỉ
ngơi trên mặt nước và băi cát sạch của chúng tôi trở nên trong lành hơn
và có mùi của cây rong biển và hoa hướng dương mọc trên bờ phẳng hơn.
Ḍng sông có màu nâu và chậm chạp, giống như bất kỳ ḍng suối nào khác
trong số nửa tá ḍng suối tưới tiêu cho các cánh đồng của Nebraska. Trên
một bờ là một dăy vách đá đất sét trọc không đều, nơi một vài cây sồi
bụi rậm với thân cây dày và ngọn phẳng, xoắn lại đổ bóng nhẹ lên thảm cỏ
dài.
Bờ biển phía tây thấp và bằng phẳng, với những cánh đồng bắp trải dài
đến tận đường chân trời, và dọc theo mép nước là những vịnh nhỏ và băi
biển đầy cát, nơi những cây dương và cây liễu non mảnh khảnh nhấp nháy.
Sự hỗn loạn của ḍng sông vào mùa xuân đă ngăn cản việc xay xát, và,
ngoài việc sửa chữa cây cầu đỏ cũ, những người nông dân bận rộn không
quan tâm đến ḍng suối; v́ vậy, những chàng trai Sandtown đă được sở hữu
không thể tranh căi. Vào mùa thu, chúng tôi săn chim cút qua nhiều dặm
đất rơm rạ và đất chăn nuôi dọc theo bờ biển bằng phẳng, và sau khi mùa
trượt băng mùa đông kết thúc và băng đă tan, những trận lũ lụt mùa xuân
và đáy nước ngập đă mang đến cho chúng tôi sự phấn khích lớn nhất trong
năm. Kênh không bao giờ giống nhau trong hai mùa liên tiếp.
Mỗi mùa xuân, ḍng suối dâng cao làm xói ṃn một vách đá ở phía đông,
hoặc cắt đứt một vài mẫu Anh ruộng ngô ở phía tây và cuốn trôi đất, để
lắng đọng thành những bờ bùn lầy ở một nơi khác. Khi nước xuống thấp vào
giữa mùa hè, những băi cát mới do đó bị phơi khô và trắng xóa dưới ánh
nắng mặt trời tháng Tám. Đôi khi chúng được bờ kè chặt đến nỗi cơn thịnh
nộ của trận lụt tiếp theo không thể làm chúng ngă; những cây liễu non
nhỏ bé vươn lên một cách đắc thắng từ bọt nước vàng, đâm chồi nảy lộc
thành lá mùa xuân, vươn lên thành cây non vào mùa hè và với lưới rễ của
chúng, chúng liên kết chặt chẽ với cát ẩm bên dưới để chống lại những
trận đ̣n của tháng Tư khác. Đây đó, một cây bông vải sớm lấp lánh giữa
chúng, run rẩy trong luồng không khí thấp, ngay cả vào những ngày ngột
ngạt khi bụi lơ lửng như khói trên đường xe ngựa, vẫn run rẩy dọc theo
mặt nước.
Trên một ḥn đảo như vậy, vào mùa hè thứ ba của màu xanh vàng, chúng tôi
đă nhóm lửa canh gác; không phải trong bụi liễu rủ đang nhảy múa, mà
trên thềm cát mịn được thêm vào mùa xuân năm đó; một mảnh đất mới nhỏ bé
của thế giới, được tạo thành những đường gợn sóng tuyệt đẹp, và rải rác
những bộ xương rùa và cá nhỏ xíu, tất cả đều trắng và khô như thể chúng
đă được xử lư một cách chuyên nghiệp. Chúng tôi đă cẩn thận không làm
hỏng sự tươi mát của nơi này, mặc dù chúng tôi thường bơi đến đó vào
những buổi tối mùa hè và nằm trên cát để nghỉ ngơi.
Đây là lần nhóm lửa canh gác cuối cùng của chúng tôi trong năm, và có
những lư do khiến tôi nhớ nó hơn bất kỳ lần nào khác. Tuần tới, những
cậu bé khác sẽ trở lại nơi cũ của họ ở Trường trung học Sandtown, nhưng
tôi sẽ lên Divide để dạy trường nông thôn đầu tiên của ḿnh ở quận Na
Uy. Tôi đă nhớ nhà khi nghĩ đến việc rời xa những cậu bé mà tôi vẫn luôn
chơi cùng; rời khỏi ḍng sông, và đi lên một đồng bằng gió với toàn là
cối xay gió, cánh đồng ngô và đồng cỏ lớn; nơi không có ǵ cố ư hay
không thể kiểm soát được trong cảnh quan, không có đảo mới và không có
cơ hội cho những loài chim lạ - những loài thường bay theo ḍng nước.
Những cậu bé khác đến rồi đi và sử dụng ḍng sông để câu cá hoặc trượt
ván, nhưng sáu đứa chúng tôi đă thề trung thành với tinh thần của ḍng
sông, và chúng tôi là bạn chủ yếu v́ ḍng sông. Có hai cậu bé nhà
Hassler, Fritz và Otto, con trai của một thợ may người Đức nhỏ bé. Họ là
những đứa trẻ nhỏ tuổi nhất trong số chúng tôi; những cậu bé rách rưới
khoảng mười và mười hai tuổi, với mái tóc cháy nắng, khuôn mặt nhuộm màu
thời tiết và đôi mắt xanh nhạt. Otto, đứa lớn hơn, là học sinh giỏi toán
nhất trường và thông minh trong sách vở, nhưng cậu luôn bỏ học vào học
kỳ mùa xuân như thể ḍng sông không thể tiếp tục nếu không có cậu. Cậu
và Fritz bắt những con cá trê béo, có sừng và bán chúng khắp thị trấn,
và chúng sống rất nhiều trong nước đến nỗi chúng có màu nâu và cát như
chính ḍng sông vậy.
Có Percy Pound, một cậu bé béo, có tàn nhang với đôi má phúng phính, lấy
nửa tá giấy truyện dành cho trẻ em trai và luôn bị giữ lại để đọc truyện
trinh thám sau bàn làm việc của ḿnh. Có Tip Smith, với những tàn nhang
và mái tóc đỏ, được định sẵn là gă hề trong mọi tṛ chơi của chúng tôi,
mặc dù anh ấy đi lại như một ông già nhút nhát và có tiếng cười khàn
khàn buồn cười. Tip làm việc chăm chỉ trong cửa hàng tạp hóa của cha
ḿnh vào mỗi buổi chiều và quét dọn trước khi đến trường vào buổi sáng.
Ngay cả những tṛ giải trí của anh cũng rất vất vả. Anh thu thập thẻ
thuốc lá và nhăn thuốc lá thiếc không biết mệt mỏi, và sẽ ngồi hàng giờ
trên một chiếc cưa cuộn nhỏ gầm gừ mà anh cất trong gác xép. Tài sản quư
giá nhất của anh là một số lọ thuốc nhỏ được cho là chứa hạt lúa ḿ từ
Đất Thánh, nước từ Sông Jordan và Biển Chết, và đất từ Núi Ô liu. Cha
anh đă mua những thứ buồn tẻ này từ một nhà truyền giáo Baptist, người
đă bán rong chúng, và Tip dường như rất hài ḷng với nguồn gốc xa xôi
của chúng.
Cậu bé cao là Arthur Adams. Cậu có mái tóc màu hạt dẻ đẹp, gần như quá
trầm ngâm và dễ thương đối với một cậu bé, và giọng nói dễ chịu đến nỗi
tất cả chúng tôi đều thích nghe cậu đọc to. Ngay cả khi cậu phải đọc to
thơ ở trường, không ai từng nghĩ đến việc cười. Chắc chắn, cậu không ở
trường nhiều. Cậu mười bảy tuổi và đáng lẽ phải hoàn thành chương tŕnh
Trung học phổ thông vào năm trước, nhưng cậu luôn ở đâu đó với khẩu súng
của ḿnh. Mẹ của Arthur đă mất, và cha của ông, người đang mải mê thúc
đẩy các kế hoạch, muốn gửi cậu bé đi học và thoát khỏi sự quản lư của
ông; nhưng Arthur luôn nài nỉ xin nghỉ thêm một năm nữa và hứa sẽ học.
Tôi nhớ anh ấy là một cậu bé cao, da nâu với khuôn mặt thông minh, luôn
thư thái giữa đám trẻ con chúng tôi, cười nhạo chúng tôi nhiều hơn là
cười với chúng tôi, nhưng tiếng cười ấy nhẹ nhàng, thỏa măn đến nỗi
chúng tôi cảm thấy khá thích thú khi trêu chọc anh ấy. Nhiều năm sau,
mọi người nói rằng Arthur đă sa vào con đường tội lỗi như một ]ad, và
đúng là chúng tôi thường thấy anh ấy đi với con trai của một tay cờ bạc
và với cậu bé người Tây Ban Nha Fanny già, nhưng nếu anh ấy học được
điều ǵ xấu xa trong nhóm bạn của họ, anh ấy không bao giờ tiết lộ với
chúng tôi. Chúng tôi sẽ đi theo Arthur đến bất cứ đâu, và tôi phải nói
rằng anh ấy đă dẫn chúng tôi đến những nơi không tệ hơn đầm lầy lau sậy
và cánh đồng rạ. Vậy th́, đây chính là những cậu bé đă cắm trại cùng tôi
vào đêm hè đó trên băi cát.
Sau khi ăn tối xong, chúng tôi đập bụi liễu để t́m gỗ trôi dạt. Khi
chúng tôi thu thập đủ, đêm đă buông xuống và mùi rong biển nồng nặc từ
bờ biển tăng lên theo độ mát. Chúng tôi nằm dài bên đống lửa và cố gắng
vô ích để cho Percy Pound xem chú chim Dipper Nhỏ. Chúng tôi đă thử
nhiều lần trước đây, nhưng chú không bao giờ có thể vượt qua được chú
chim lớn.
"Bạn có thấy ba ngôi sao lớn ngay bên dưới tay cầm không, với ngôi sao
sáng ở giữa?" Otto Hassler nói; "đó là thắt lưng của Orion, và ngôi sao
sáng là móc cài." Tôi ḅ ra sau vai Otto và nh́n lên cánh tay chú đến
ngôi sao dường như đậu trên đầu ngón trỏ vững vàng của chú. Những cậu bé
nhà Hassler đánh cá bằng lưới kéo vào ban đêm, và chúng biết khá nhiều
ngôi sao.
Percy từ bỏ cḥm sao Bắc Đẩu và nằm ngửa trên cát, hai tay đan vào nhau
dưới đầu. "Tôi có thể nh́n thấy sao Bắc Đẩu", cậu ấy tuyên bố một cách
măn nguyện, chỉ về phía đó bằng ngón chân cái. "Bất kỳ ai cũng có thể bị
lạc và cần biết điều đó".
Tất cả chúng tôi đều nh́n lên đó.
"Bạn nghĩ Columbus cảm thấy thế nào khi la bàn của ông ấy không c̣n chỉ
về hướng bắc nữa?" Tip hỏi.
Otto lắc đầu. "Cha tôi nói rằng đă từng có một sao Bắc Đẩu khác, và có
lẽ ngôi sao này sẽ không tồn tại măi măi. Tôi tự hỏi điều ǵ sẽ xảy ra
với chúng ta ở đây nếu có bất cứ điều ǵ không ổn với nó?"
Arthur cười khúc khích. "Tôi sẽ không lo lắng, Ott. Không có ǵ có thể
xảy ra với nó trong thời đại của bạn. Hăy nh́n vào Dải Ngân Hà! Chắc hẳn
có rất nhiều người da đỏ tốt đă chết".
Chúng tôi nằm ngửa và nh́n, thiền định, vào lớp vỏ đen tối của thế giới.
Tiếng nước chảy róc rách trở nên nặng nề hơn. Chúng tôi thường nhận thấy
một nốt nhạc phản loạn, phàn nàn trong đó vào ban đêm, hoàn toàn khác
với tiếng cười khúc khích vui vẻ ban ngày của nó, và có vẻ giống như
giọng nói của một ḍng suối sâu hơn và mạnh mẽ hơn nhiều. Nước của chúng
tôi luôn có hai tâm trạng này: một là sự dễ chịu đầy nắng, một là sự hối
tiếc nồng nhiệt không thể an ủi.
Thật kỳ lạ khi tất cả các ngôi sao đều có dạng sơ đồ," Otto nhận xét.
"Bạn có thể đưa ra hầu hết mọi mệnh đề trong h́nh học với chúng. Chúng
luôn trông như thể chúng có ư nghĩa ǵ đó. Một số người nói rằng vận
mệnh của mọi người đều được viết ra trong các v́ sao, phải không?"
"Họ tin như vậy ở đất nước cũ," Fritz khẳng định.
Nhưng Arthur chỉ cười anh ta. "Anh đang nghĩ đến Napoleon, Fritzey. Ông
ấy có một ngôi sao đă tắt khi ông ấy bắt đầu thua trận. Tôi đoán là các
v́ sao không đếm chính xác với người dân Sandtown."
Chúng tôi đang suy đoán xem ḿnh có thể đếm được một trăm lần trước khi
ngôi sao buổi tối lặn xuống sau những cánh đồng ngô, th́ có người hét
lên, "Mặt trăng đang đến, và nó to như một bánh xe ngựa!"
Tất cả chúng tôi đều nhảy lên để chào đón nó khi nó bơi qua những vách
đá phía sau chúng tôi. Nó xuất hiện như một chiếc thuyền buồm lớn căng
buồm; một thứ khổng lồ, man rợ, đỏ như một vị thần ngoại giáo giận dữ.
"Khi mặt trăng xuất hiện đỏ như thế, người Aztec thường hiến tế tù nhân
của họ trên đỉnh đền thờ," Percy tuyên bố.
"Tiếp tục đi, Perce. Anh lấy từ Golden Days. Anh có tin không, Arthur?"
Tôi kháng cáo.
Arthur trả lời, khá nghiêm túc: "Cũng giống như không. Mặt trăng là một
trong những vị thần của họ. Khi cha tôi ở Mexico City, ông ấy đă nh́n
thấy ḥn đá nơi họ dùng để hiến tế tù nhân của ḿnh."
Khi chúng tôi lại ngồi xuống bên đống lửa, có người hỏi liệu
Mound-Builders có già hơn người Aztec không. Khi chúng tôi từng đến
Mound-Builders, chúng tôi không bao giờ muốn thoát khỏi họ, và chúng tôi
vẫn đang suy đoán th́ nghe thấy tiếng nước bắn tung tóe.
"Chắc hẳn là một con mèo lớn đang nhảy," Fritz nói. "Đôi khi chúng làm
vậy. Chắc hẳn chúng nh́n thấy côn trùng trong bóng tối. Nh́n xem mặt
trăng tạo ra vệt dài màu bạc nào!"
Có một vệt dài màu bạc trên mặt nước, và nơi ḍng nước chảy qua một khúc
gỗ lớn, nó sôi lên như những miếng vàng.
"Giả sử có vàng được giấu trong con sông cổ này không?" Fritz hỏi. Anh
nằm như một người da đỏ nhỏ bé, gần đống lửa, cằm tựa vào tay và đôi
chân trần giơ lên cao. Anh trai anh cười nhạo anh, nhưng Arthur coi
trọng lời đề nghị của anh.
"Một số người Tây Ban Nha nghĩ rằng có vàng ở đâu đó trên này. Bảy thành
phố chứa đầy vàng, họ có vàng, và Coronado cùng người của ông ta đă đến
để săn vàng. Người Tây Ban Nha đă từng ở khắp đất nước này."
Percy tỏ vẻ thích thú. "Đó có phải là trước khi người Mormon đi qua
không?"
Tất cả chúng tôi đều cười về điều
này.
"Đă lâu lắm rồi. Trước thời các Cha hành hương, Perce. Có lẽ họ đă đi
dọc theo con sông này. Họ luôn đi theo các ḍng nước."
"Tôi tự hỏi con sông này thực sự bắt đầu từ đâu?" Tip trầm ngâm. Đó là
một bí ẩn cũ và được yêu thích mà bản đồ không giải thích rơ ràng. Trên
bản đồ, đường kẻ đen nhỏ dừng lại ở đâu đó ở phía tây Kansas; nhưng v́
các con sông thường bắt nguồn từ núi, nên chỉ có thể cho rằng con sông
của chúng tôi đến từ dăy núi Rocky. Chúng tôi biết đích đến của nó là
Missouri, và những anh chàng Hassler luôn khẳng định rằng chúng tôi có
thể lên tàu ở Sandtown vào thời điểm lũ lụt, đi theo mũi của chúng tôi
và cuối cùng đến New Orleans. Bây giờ họ lại tiếp tục lập luận cũ của
họ. "Nếu chúng tôi đủ can đảm để thử, sẽ không mất nhiều thời gian để
đến Kansas City và St. Joe."
Chúng tôi bắt đầu nói về những nơi chúng tôi muốn đến. Những anh chàng
Hassler muốn xem các băi chăn nuôi ở Kansas City, và Percy muốn xem một
cửa hàng lớn ở Chicago. Arthur là người đối thoại và không phản bội
chính ḿnh.
"Giờ đến lượt anh, Tip."
Tip lăn người trên khuỷu tay và chọc lửa, và đôi mắt anh ta nh́n ra khỏi
khuôn mặt nhỏ bé, kỳ quặc và căng thẳng của ḿnh một cách e thẹn. "Chỗ
của tôi xa kinh khủng. Chú Bill đă kể cho tôi nghe về nơi đó."
Chú Bill của Tip là một người lang thang, bị sốt khai thác mỏ, đă trôi
dạt vào Sandtown với một cánh tay bị găy, và khi khỏe lại th́ lại trôi
dạt ra ngoài.
"Nó ở đâu?"
"Ồ, nó ở đâu đó dưới New Mexico. Không có đường sắt hay bất cứ thứ ǵ.
Bạn phải đi bằng lừa, và bạn sẽ hết nước trước khi đến đó và phải uống
cà chua đóng hộp."
"Được rồi, kể tiếp đi, nhóc. Khi đến đó th́ thế nào?"
Tip ngồi dậy và hào hứng bắt đầu câu chuyện của ḿnh.
"Có một tảng đá đỏ lớn ở đó nhô lên khỏi cát khoảng chín trăm feet. Đất
nước bằng phẳng xung quanh nó, và tảng đá này tự nó nhô lên, giống như
một tượng đài. Họ gọi nó là Vách đá Mê hoặc ở đó, v́ chưa từng có người
da trắng nào từng ở trên đó. Hai bên là đá nhẵn, và thẳng đứng, giống
như một bức tường. Người da đỏ nói rằng hàng trăm năm trước, trước khi
người Tây Ban Nha đến, có một ngôi làng ở trên không trung. Bộ lạc sống
ở đó có một số loại bậc thang, làm bằng gỗ và vỏ cây, đổ xuống trên mặt
vách đá, và những người dũng cảm đi xuống để săn bắn và mang nước lên
trong những chiếc b́nh lớn đeo trên lưng.
Họ dự trữ một lượng lớn nước và thịt khô ở đó, và không bao giờ xuống đó
trừ khi đi săn. Họ là một bộ tộc ḥa b́nh làm vải và đồ gốm, và họ lên
đó để thoát khỏi chiến tranh. Bạn thấy đấy, họ có thể hạ gục bất kỳ nhóm
chiến binh nào cố gắng bước lên những bậc thang nhỏ của họ. Người da đỏ
nói rằng họ là một dân tộc đẹp trai, và họ có một số loại tôn giáo kỳ
quặc. Chú Bill nghĩ rằng họ là những người sống trên vách đá đă gặp rắc
rối và rời khỏi nhà. Dù sao th́ họ cũng không phải là chiến binh.
"Một lần, những người dũng cảm đang đi săn và một cơn băo khủng khiếp ập
đến - một loại ṿi rồng - và khi họ quay lại tảng đá của ḿnh, họ thấy
cầu thang nhỏ của ḿnh đă bị vỡ tan thành từng mảnh, và chỉ c̣n lại một
vài bậc thang lơ lửng trên không trung. Trong khi họ đang cắm trại dưới
chân tảng đá, tự hỏi phải làm ǵ, một nhóm chiến binh từ phía bắc đă đến
và tàn sát họ cho đến khi chỉ c̣n một người đàn ông, với tất cả những
người già và phụ nữ đang nh́n từ tảng đá. Sau đó, nhóm chiến binh đi về
phía nam và rời khỏi ngôi làng để đi xuống theo cách tốt nhất có thể.
Tất nhiên là họ không bao giờ xuống được. Họ chết đói ở đó, và khi nhóm
chiến binh quay trở lại trên đường về phía bắc, họ có thể nghe thấy
tiếng trẻ con khóc từ ŕa vách đá nơi họ đă ḅ ra, nhưng họ không thấy
dấu hiệu của một người da đỏ trưởng thành nào, và không ai từng lên đó
kể từ đó."
Chúng tôi thốt lên khi nghe truyền thuyết đau thương này và ngồi dậy.
"Không thể có nhiều người ở đó," Percy phản đối. "Đỉnh núi cao bao
nhiêu, Tip?"
"Ồ, khá lớn. Lớn đến mức tảng đá
trông không cao bằng thực tế. Phần đỉnh lớn hơn phần đáy. Vách đá bị bào
ṃn ở độ cao vài trăm feet. Đó là một lư do khiến việc leo lên rất khó
khăn."
Tôi hỏi người da đỏ đă lên được bằng cách nào, ngay từ đầu.
"Không ai biết họ lên được bằng cách nào hoặc khi nào. Một nhóm đi săn
đă từng đi ngang qua và thấy có một thị trấn ở đó, và thế là hết."
Otto xoa cằm và tỏ vẻ suy tư. "Tất nhiên phải có cách nào đó để lên đó.
Mọi người không thể kéo dây thừng qua một cách nào đó và kéo thang lên
sao?"
Đôi mắt nhỏ của Tip sáng lên v́ phấn khích. "Tôi biết một cách. Tôi và
chú Bill đă bàn bạc về điều đó. Có một loại tên lửa có thể kéo dây thừng
qua - những người cứu hộ sử dụng chúng - và sau đó bạn có thể kéo một
chiếc thang dây và cố định nó ở phía dưới và buộc chặt bằng dây thừng ở
phía bên kia. Tôi sẽ leo lên vách đá kia, và tôi đă lên kế hoạch cho mọi
thứ."
Fritz hỏi anh ta mong đợi t́m thấy ǵ khi lên đó.
"Có thể là xương, hoặc tàn tích của thị trấn, hoặc đồ gốm, hoặc một số
thần tượng của họ. Có thể có hầu hết mọi thứ ở đó. Dù sao th́, tôi muốn
xem."
"Chắc chắn không có ai khác từng lên đó chứ, Tip?" Arthur hỏi.
"Chắc chắn rồi. Hầu như không ai từng
đi xuống đó. Một số thợ săn đă từng cố gắng cắt các bậc thang trong đá,
nhưng chúng không cao hơn một người đàn ông có thể với tới. Bluff toàn
là đá granit đỏ, và chú Bill nghĩ đó là một tảng đá mà các sông băng để
lại. Dù sao th́ đó cũng là một nơi kỳ lạ. Không có ǵ ngoài xương rồng
và sa mạc trong hàng trăm dặm, nhưng ngay dưới Bluff lại có nước tốt và
rất nhiều cỏ. Đó là lư do tại sao ḅ rừng thường đi xuống đó."
Đột nhiên chúng tôi nghe thấy tiếng hét trên đống lửa, và nhảy lên để
nh́n thấy một con chim mảnh khảnh, đen kịt đang bay về phía nam xa phía
trên chúng tôi - một con sếu đầu đỏ, chúng tôi biết nó qua tiếng kêu và
cái cổ dài của nó. Chúng tôi chạy đến ŕa ḥn đảo, hy vọng có thể nh́n
thấy nó đậu xuống, nhưng nó cứ dao động về phía nam dọc theo ḍng sông
cho đến khi chúng tôi mất dấu nó. Những cậu bé Hassler tuyên bố rằng
nh́n bầu trời th́ chắc đă quá nửa đêm, v́ vậy chúng tôi ném thêm củi vào
đống lửa, mặc áo khoác và cuộn ḿnh trong cát ấm. Một số người trong
chúng tôi giả vờ ngủ gật, nhưng tôi nghĩ chúng tôi thực sự đang nghĩ về
Tip's Bluff và những người đă tuyệt chủng. Trong rừng, những chú chim bồ
câu đang gọi nhau một cách buồn thảm, và có lần chúng tôi nghe thấy
tiếng chó sủa, từ xa. "Có ai đó đang đi vào vườn dưa của Tommy già,"
Fritz th́ thầm buồn ngủ, nhưng không ai trả lời anh ta. Percy nói từ
trong bóng tối.
"Này, Tip, khi anh xuống đó, anh sẽ đưa tôi đi chứ với anh không?"
"Có thể."
“Giả sử một trong số chúng tôi đánh bại anh ở đó, Tip?"
"Bất kỳ ai đến Bluff trước đều phải hứa sẽ nói cho những người c̣n lại
biết chính xác những ǵ ḿnh t́m thấy", một trong những chàng trai
Hassler nhận xét, và tất cả chúng tôi đều đồng ư.
Có phần an tâm, tôi ch́m vào giấc ngủ. Tôi hẳn đă mơ về một cuộc đua đến
Bluff, v́ tôi thức dậy trong nỗi sợ rằng những người khác đang vượt lên
trước tôi và rằng tôi đang mất cơ hội. Tôi ngồi dậy trong bộ quần áo ẩm
ướt và nh́n những chàng trai khác, những người nằm lăn lộn trong tư thế
bất an quanh đống lửa đă tắt. Trời vẫn c̣n tối, nhưng bầu trời trong
xanh với màu xanh lam tuyệt đẹp cuối cùng của đêm. Những ngôi sao lấp
lánh như những quả cầu pha lê, và run rẩy như thể chúng chiếu qua một
vùng nước trong vắt. Ngay cả khi tôi đang quan sát, chúng bắt đầu nhạt
dần và bầu trời sáng lên. Ngày đến đột ngột, gần như ngay lập tức. Tôi
quay lại nh́n đêm xanh một lần nữa, và nó đă biến mất. Khắp nơi, chim
bắt đầu hót, và đủ loại côn trùng nhỏ bắt đầu ríu rít và nhảy nhót trong
những rặng liễu. Một cơn gió thổi từ phía tây và mang theo mùi ngô chín
nồng nặc. Những đứa trẻ lăn qua và lắc ḿnh. Chúng tôi cởi đồ và lao
xuống sông ngay khi mặt trời mọc trên những vách đá lộng gió.
Khi tôi trở về nhà ở Sandtown vào dịp Giáng sinh, chúng tôi trượt ván ra
đảo và nói về toàn bộ dự án của Vách đá Mê hoặc, làm mới lại quyết tâm
t́m ra nó.
Mặc dù đă hai mươi năm trôi qua, nhưng không ai trong chúng tôi từng leo
lên Vách đá Mê hoặc. Percy Pound là một nhà môi giới chứng khoán ở
Kansas City và sẽ không đi đâu nếu chiếc xe du lịch màu đỏ của anh không
thể chở anh. Otto Hassler đă đi tàu hỏa và bị mất phanh chân; sau đó anh
và Fritz kế thừa cha ḿnh làm thợ may trong thị trấn.
Arthur ngồi quanh thị trấn nhỏ buồn ngủ này suốt cuộc đời - anh ấy đă
mất trước khi hai mươi lăm tuổi. Lần cuối cùng tôi gặp anh ấy, khi tôi
về nhà vào một trong những kỳ nghỉ đại học của ḿnh, anh ấy đang ngồi
trên một chiếc ghế hấp dưới một cây bông trong sân nhỏ phía sau một
trong hai quán rượu Sandtown. Anh ấy rất luộm thuộm và tay anh ấy không
vững, nhưng khi anh ấy đứng dậy, không hề xấu hổ, để chào tôi, đôi mắt
anh ấy trong trẻo và ấm áp như mọi khi. Khi tôi đă nói chuyện với anh ấy
trong một giờ và nghe anh ấy cười trở lại, tôi tự hỏi tại sao khi Thiên
nhiên đă dành nhiều công sức như vậy cho một người đàn ông, từ đôi bàn
tay đến ṿm bàn chân dài của anh ấy, cô ấy lại để mất anh ấy ở Sandtown.
Ông ấy nói đùa về Tip Smith's Bluff, và tuyên bố rằng ông ấy sẽ xuống đó
ngay khi thời tiết mát mẻ hơn; ông ấy nghĩ rằng Grand Canyon cũng đáng
để thử.
Khi tôi rời khỏi ông ấy, tôi hoàn toàn chắc chắn rằng ông ấy sẽ không
bao giờ vượt qua được hàng rào ván cao và bóng râm dễ chịu của cây bông.
Và thực sự, chính dưới gốc cây đó, ông ấy đă chết vào một buổi sáng mùa
hè.
Tip Smith vẫn nói về việc đi New Mexico. Ông kết hôn với một cô gái nhà
quê luộm thuộm, không tiết kiệm, bị trói buộc rất nhiều vào xe đẩy trẻ
em, và trở nên c̣ng lưng và tóc hoa râm v́ ăn uống thất thường và ngủ
không ngon. Nhưng những khó khăn tồi tệ nhất của ông giờ đă qua, và ông
đă, như ông nói, đă đến với vùng nước dễ dàng. Lần cuối cùng tôi ở
Sandtown, tôi đă đi bộ về nhà cùng ông vào một đêm trăng sáng, sau khi
ông đă cân đối tiền bạc và đóng cửa hàng. Chúng tôi đi đường ṿng và
ngồi xuống bậc thềm trường học, và giữa chúng tôi, chúng tôi đă hồi sinh
mối t́nh lăng mạn giữa tảng đá đỏ đơn độc và những người đă tuyệt chủng.
Tip khăng khăng rằng ông vẫn có ư định xuống đó, nhưng ông nghĩ bây giờ
ông sẽ đợi cho đến khi cậu con trai Bert của ḿnh đủ lớn để đi cùng.
Bert đă được đưa vào câu chuyện và không nghĩ ǵ ngoài Vách đá Mê hoặc.
THÂN TRỌNG SƠN
dịch và giới thiệu
( tháng 3 / 2025 )
Nguồn:
https://americanliterature.com/author/willa-cather/short-story/the-enchanted-bluff/

Trang Thân Trọng
Sơn
art2all.net |