|
Thân Trọng
Tuấn
NHỚ MÁI TRƯỜNG XƯA

Bia đá trước Di Luân Đường (Ảnh Sơn Tùng)

Dăy pḥng phía tay trái (Ảnh Sơn Tùng)

Dăy pḥng phía tay phải (Ảnh Sơn Tùng)

(Ảnh Lê Hoành Pḥ -1975-hamnghihue.com)

Dăy pḥng phía tay trái
Cửa bên trái là nhà ông thư kư Phương(Ảnh Sơn Tùng)

Dăy pḥng phía tay phải Cửa bên phải là nhà ông Cai Lợi. (Ảnh Sơn
Tùng)
Đời học sinh, khoảng thời gian lo lắng nhất là vào những mùa thi.
Năm 1961, Bộ Quốc Gia Giáo Dục băi bỏ việc thi bậc tiểu học, tức là
thi “Ri Me” (tiếng Pháp: Primaire). Ai nấy đều vui mừng chi lạ. Học
sinh người nào có đủ điểm trung b́nh cuối năm lớp Nhất là được “Miễn
thi”. Như vậy chỉ c̣n lo việc thi vào Đệ Thất tức là thi “Cồng Cua”
(concour) mà thôi. Bấy giờ ở Huế chỉ có bốn trường công lập cho thi
tuyển để thâu nhận thêm học sinh lớp đệ Thất (lớp 7) là Quốc Học,
Nguyễn Tri Phương với Hàm Nghi dành cho thí sinh phái nam và Đồng
Khánh cho phái nữ.
Không biết tự bao giờ, danh từ “Gởi” được bà con, lối xóm và nhất là
bạn cùng lớp lập đi lập lại nhiều lần. Nguyên do cũng tại v́ ḿnh có
ông Bác ruột vốn là Đốc học Trường Quốc Học. Tuy Bác đă về hưu,
nhưng bạn và học tṛ của Bác “đầy trường”. Bác cũng đă từng dạy
trường Nguyễn Tri Phương, cho nên cả hai trường cũng đều là “của
Bác”. Bên trường Hàm Nghi, con trai của Bác cũng đang dạy Toán và
Anh Văn. Tư thế của ḿnh thi vô Đệ Thất như vậy “chỉ c̣n thua cái
con cọp ở côi non”. Ḿnh thuộc thành phần đầu tiên được miễn thi
bằng Tiểu học tức là thi “Ri Me”. Bây chừ chỉ cần thi đệ Thất tức
thi Cồng Cua vô các trường Công Lập là trường của chính phủ khỏi
phải trả học phí hàng tháng. Trước ngày nạp đơn, xuống hầu thăm Bác,
luôn tiện hỏi ư Bác là nên thi trường nào? Bác biểu nên thi vào Hàm
Nghi “cho dễ”! Sướng mê tơi tṛ đời
“ỷ thế”! Đến nước ni th́ học làm
chi cho mệt cuộc đời! Tuy chưa thi, nhưng biết chắc đă đậu rồi:
“Gởi!”. Ngày đi thi, thong dong “nh́n đời bằng cọng rau má”! Đề thi
hỏi chuyện vua Hàm Nghi ra Tân Sở! Trúng tủ viết ngon lành! Luận hỏi
về “thích biển thẳm hay núi xanh”, viết bậy bạ lạc đề nên
“bài luận
tả tơi v́ bị sóng biển đùa chơi trên cát”. Bài thi cuối cùng, toán
ra chi “khó ác”! Tỉ trọng của kim loại đồng biết rơ ràng là “8.8” mà
sao nhân chia măi vẫn không ra! Nhưng lo chi, chuyện thi cử đă có
“ông anh họ của ta đang dạy toán!”. Vài ba ngày trước khi “có bảng”,
đến hầu thăm Bác, luôn tiện thăm “Anh”! Hỏi thử xem cho biết sự
t́nh! “Thưa Anh đă chấm…?” “Ừ!” “Anh đă gặp bài?” “Có!” “Thưa anh
cho mấy điểm?” “Một điểm!” Trời đất ơi! Đớn đau biết mấy! Anh em cái
kiểu chi mà lạ như ri? Đă “gởi gắm theo đúng như lời của Cô, của
Bác”, anh lại nhẫn tâm cho thằng em ngây thơ
“chống gậy bước ra
ngoài” thấy c̣n hơn chơi cái kiểu “mang con đem bỏ chợ Đông Ba!” Đi
thi vô lớp đệ Thất v́ ỷ y có “gởi” nhưng khi không đem dè bị rớt một
cái “bịch!”, đau như rứa th́ thôi!
V́ trượt vỏ chuối, nên phải theo học trường tư. Xin vô học lớp đệ
Thất trường Hàm Long trong chùa Báo Quốc tại v́ có ông Bác sau khi
về hưu, mở trường này và đang làm hiệu trưởng! Bác mở trường, cháu
vào học thiệt vẹn toàn với điều Bá Điệt tương giao! Được hơn một
tháng, Bác biểu xuống học trường B́nh Minh của bà Ngô Đ́nh Nhu cho
“tiện”. Thế là tha hồ “cúp cua” hay
“nhảy cửa sổ” hát bài “Tẩu:
Chạy” mút mùa. Hàng Đoát buổi trưa, bến Me đứng bóng! Giáng sinh năm
đó, bà Cố vấn Ngô Đ́nh Nhu có ra thăm nhà
“chồng” trên xứ Tứ Tây tức
là Phủ Cam, tiện thể thăm trường và cho học tṛ cả trường B́nh Minh
ăn thịt gà rô ti với bánh ḿ và uống chai nước chanh
“lùn” thơm
ngọt. Thành quả thâu lượm chỉ được bấy nhiêu, v́ suốt cả niên học,
măi lo thả lỏng đi chơi đi giởi!
Năm 1962, khi hạn nhận đơn thi vô lớp đệ Thất tới nơi, cũng tự động
nạp đơn thi không cần ai bày, ai chỉ! Cương quyết một ḷng, nhất
định xin thi vô trường trung học Hàm Nghi bên tê thành nội, âm thầm
“khỏi gởi”, tự ḿnh ta chọn thi vào ngôi trường có h́nh dáng cổ kính
sang vàng trời! Sang trọng v́ trường được thành lập dưới triều vua
Gia Long thời Lập Quốc, với Di Luân Đường cổ xưa đồ sộ, kiến trúc
theo lối cung đ́nh và hai bên phải và bên trái có hai dăy nhà gạch
chạm trổ công phu quư phái, mỗi bên đắp nổi ba chữ Hán Quốc Tử
Giám 國 子 監 ngay trước hàng hiên phía trên bậc tam cấp cùng những hàng
câu đối cho dù đang hư mờ theo thời gian. Năm 1972, trong dịp về lại
trường Hàm Nghi thực tập giảng dạy môn Quốc văn, ngắm đọc ba chữ
Quốc Tử Giám này lại càng bồi hồi khoái tỉ!
Ông anh họ đă xuất ngoại, qua tận xứ Mỹ mù khơi! Cho nên cứ coi như
góc bể chân trời, “Ai có th́ giờ mô mà thèm để ư!” Học lại bài cũ,
kí cóp đi thi! Ngày truyền lô cũng chẳng buồn coi. Vài ba bữa sau,
thong thả tới chơi. Xem bảng yết dưới Di Luân Đường xong cười kh́:
“Cũng được cho: Ta th́ đậu chót”! Ngày tựu trường, cái mặt ngớp
ngớp, chờ chẳng nghe tên không biết lớp mô? Chợt nghe Thầy Tổng Giám
Thị gọi trên “mi cờ rô” nghe oang oang “Thầy xếp em vô lớp đệ thất
một!”. Ui cha ốt dột! Ḿnh ghi Pháp Văn, chỉ v́ đậu chót, phải sang
Anh Văn, nếu như “cằn nhằn”, cứ việc nghỉ học! À há! Ngu dại chi mà
bực tức! Anh văn hay Pháp văn, cứ coi là ngoại ngữ giống như nhau!
Nhận lớp cho mau, kẻo Thầy đổi ư! Thôi th́ cứ vui đi hí!

Những pḥng học của dăy nhà bên phải, trên cao là ba chữ Quốc Tử
Giám 國子監 đọc từ phải sang trái. Pḥng cuối phía tay phải là pḥng số
2, lớp ḿnh học suốt ba năm đệ Thất, đệ Lục và đệ Ngũ.
Thứ hai đầu tháng, lệ học sinh mang quần dài trắng để làm lễ chào
cờ. Ḿnh cũng diện quần trắng, nhưng không phải quần dài, mà là quần
“sọt”. Trơ trụi một ḿnh, “trẻng ơi là trẻng”! Giờ Anh văn đầu đời
do cô Yến dạy, mấy “cái thằng cu tê” v́ đă học trước nên nói tiếng
Anh trơn lu nghe c̣n hay hơn tiếng Mỹ! Ḿnh chẳng biết cái “cóc
khô”, nên khi bị cô chỉ, biểu đứng lên “gút mo ninh” đành trơ bản
mặt lănh cái “mo lùi mo nướng!” v́ chẳng biết
Ninh, Hầm, Lùi, Nướng
bên Anh, bên Mỹ là cái chi chi!?. Ối trời ơi! Sợ hao phải mút! (How
much?) Sợ tàn đời cái cảnh “Guốc bay!” (Good bye!). Lại nữa, phải
chạy bay tóc trán mới mượn được cuốn “Lét Lớt In Lít” (Let’s Learn
English) khỏi phải đi mua. Ghét của nào, trời trao của ấy, suốt ba
mươi mấy năm qua sau ngày sang Hoa Kỳ, ngày mô cũng y chang như ngày
nấy, mở miệng ra hỏi là toàn mấy tiếng “A dua?” (Are you?) Nhớ
chuyện ngày xưa, nói răng cho ngạ, mới vô đệ Thất, thiệt sự thích
nhất là giờ quốc văn của Thầy Dật! “Mấy chú đă lọt được vô đây, phải
lo mà học! C̣n như không thích học, th́ đi chỗ khác chơi!” Thầy nói
ro ro, nghe đă quá trời! Kiểu như Thầy, tài giỏi như ri có lẽ Thầy
dư sức viết đến hàng chục cuốn sách!
Năm ni ḿnh đă thi đậu vô học trường công, tự hứa là không được lêu
lổng như năm ngoái. V́ chịu khó ráng học chăm nên đủ điểm trung
b́nh, đương nhiên cuối năm phải được thầy cô cho lên lớp. Dạn dĩ ra
tṛ! Bài vở đă biết lo! Lại “sơ mi” môn quốc văn mới thiệt là
“ác
liệt”! Nguyễn Huy Đương tự nhiên đến kết bạn. Hắn trắng, tṛn mũm
mỉm như con gái, nhưng giọng nói oang oang và môn chi cũng giỏi.
Nhưng giỏi nhất, là khi bị kêu lên bảng, hắn viết một câu năm bảy
chữ là đă hết một hàng từ bên này qua bên kia tấm bảng! Thầy hay cô
cũng sững sốt ngỡ ngàng! Năm sau, hắn vào học trường Phan Chu Trinh
Đà Nẵng. Một ḿnh hắn tự lo liệu sang du học Úc Đại Lợi thiệt tài.
Một Nguyễn Văn Cổ, vừa lùn, vừa đen, vừa loa, vừa khó! Rứa mà ḿnh
ch́u chuộng hắn thiệt là hết nước tàn canh! Cưng như hoa thiên lư
trên cành! Được mấy tháng, hắn cũng bỏ ḿnh, theo gia đ́nh lên ở
trên Đà Lạt! Ông trời thiệt ác! Ḿnh thiệt thằng ngu! Nhưng thôi,
trời cho răng chịu rứa, biết nói răng chừ? Năm đệ Lục, được mấy
“sơ
mi” môn Sử Địa của cô Kiều My, môn Công Dân của Thầy Lê làm thêm mệt
xác, kể luôn môn Nhạc của Thầy Văn Giảng càng thấy nặng tay. Năm đệ
Ngũ, ḿnh cũng chẳng kém ai, “sơ mi” quốc văn v́ bài nghị luận văn
chương của Thầy Dật! Những giờ thuyết tŕnh theo nhóm, cùng họp nhau
đọc sách, trích thơ. Lại rủ nhau theo phong trào Hướng đạo. Từ
Thiếu, lên Kha đoàn Trần Quốc Toản lừng danh! Đi trại Đạo Vạn Niên,
52 cờ giải nhất, đoàn đoạt sơ 51 cây cờ, cây thứ 52 là giải Kỷ Luật,
nhường cho đoàn Nguyễn Trường Tộ mới mở! Tinh thần Hướng Đạo ngời
sáng! Trưởng Nhơn, Trưởng Cường, Trưởng Tường, Trưởng Ngọ! Yêu quê
hương, trưởng Vơ Thành Minh thổi sáo bờ hồ! Đoàn Trường Sơn, Mai An
Tiêm, Nguyễn Trường Tộ! Vừa mới lún phún mọc râu, mặt đốm trắng long
beng, ồm ồm vỡ tiếng, mụn cám mụn cơm, lại bày đặt ngứa ngáy thày
lay học… Vơ! Mấy “thảo” Đồng Nhi, B́nh Thân, Ngọc Trản đi quyền như
gió, tay chân luyện tập ngày đêm, ngay cả trong khi ăn, lúc ngủ
nên “lỏng lẻo như quai chèo”! Ḿnh là người Việt Nam, phải học vơ
Việt Nam. Không như ai kia, “học dọi kẻ phù tang”. Vơ sư Suzuki, vốn
gốc Nhật Bản, nhưng làm cảnh sát Việt, mang tên là Phúc, dạy Karate
đá “Kê a ghê và kệ cố mi” thiệt ngọt! Trương Phương Tuyên thi băng.
Đậu xong chuyển sang Quốc Học. Một số học sinh Hàm Nghi được cho
t́nh nguyện chuyển về trường Trung học Tổng Hợp Gia Hội vừa mới mở
trong khuôn viên phủ cũ của ông Hoàng Mười Bửu Liêm. Ông Bửu Liêm là
em vua Khải Định, con thứ 10 của vua Dục Đức và bà thứ phi Vơ Thị
Đông em gái cụ Tiền quân Vơ Văn Kiêm người trên Kim Long. Lớp
đệ Ngũ
một không ai muốn chuyển. “Ông Anh họ” cũng vừa giải ngũ, về trường
Hàm Nghi dạy lại môn Toán và Anh Văn, do đó ḿnh
“bị” cả hai môn
thiệt là cao hệ số.
Năm 1965, băi bỏ thi “Đíp Lôm” tức là bằng Thành Chung Trung Học.
Ḿnh cũng thuộc thành phần đầu tiên được miễn thi bằng Thành Chung!
Học hết năm đệ Tứ, v́ thích văn chương nên muốn trốn sang Quốc Học,
chui vào ban “C” liền bị “Ca” một mách! Bèn trở lại trường Hàm Nghi
chọn lấy ban “Khoa Học Toán” tức là Đệ Tam B cho xứng đáng
“nam
nhi”! Như vậy, ḿnh lại thuộc lớp đàn anh học lớp đệ tam của trường
Hàm Nghi gồm hai lớp Đệ Tam A và Đệ Tam B vừa mới mở! Cũng chẳng khó
chi, cuối năm kết quả đứng hạng thứ ba, nhưng bị Thầy Đổ Toản đề
nghị cúp phần thưởng v́ lời phê trong sổ điểm! Oan và đau
“hơn
hoạn”! Đùa giỡn cả bầy nhưng chỉ chịu
“mỗi ḿnh ta!” Thôi cũng đành!
Tết Mậu Thân 1968 xớn rớn! Tuổi đôn quân bám sát! Thi Tú Tài 1 có
tên trên “bảng trắng” và nguyên tên họ cùng số kư danh được đọc đến
hai lần trên đài phát thanh Huế! Như rứa là được hoăn dịch
“ở nhà đi
học” thêm một năm. Năm sau, 1969, trường tổ chức vở kịch
“Trận Bạch
Đằng Giang” ở trên sông Hương trước Phu Văn Lâu do Thầy Giám học Vơ
văn Dật “đạo diễn”: Cũng dàn trận chèo thuyền, quân Việt quân Tàu
theo tiếng trống tiếng chiêng chèo chống đuổi nhau la hét vang lừng.
Cao Minh Tân đóng vai Trần Hưng Đạo, trong khi ḿnh bị chỉ định giữ
vai tṛ trưởng ban “cứu thương” để lo
“vớt kẻ trôi sông” bất phân thù
bạn. Nhận chức vụ, nhưng không có việc làm v́ chẳng có ai chịu rơi
xuống nước để cho xuồng tới cứu! Không biết ai tḥ què thọt quẹt,
thưa với thầy là ḿnh chèo thuyền giỏi
“một cây”! Thầy lập đội cứu
thương bèn chọn ḿnh làm trưởng nhóm! Việc biết chèo đ̣ là chuyện
như ri: Nhà ở Bến Ngự, sang học Hàm Nghi. Đ̣ Thừa Phủ có ngày đi hai
buổi! Đi riết phải quen ôn mụ Đẩu, anh Em tức cả nhà ba người của
hai ôn mụ chèo đ̣ qua lại. Chèo đốc, chèo lái thực tập hàng ngày,
“cạy, bát” quen tay, đ̣ vô thẳng bến. Mấy anh Quốc Học và mấy chị
Đồng Khánh phải thường chen nhau khi xuống đ̣, trong khi ḿnh ngược
đường lại thong dong với mấy người bạn như Đông, Trai, Thành, Lân,
Phúc, Thía, v.v. lúc sang sông! H́nh như ai “phe mền” cũng biết chèo
đốc, chỉ riêng ḿnh là được ông Đẩu, anh Em dạy cho chèo lái! Chỉ có
mấy nuộc mây tṛng vận tai chèo là không được học cách chẻ, chuốc,
lận, xây quanh v́ ôn Đẩu cho rằng ngón tay ḿnh
“thư sinh” không đủ
mạnh! Liên tiếp năm sáu năm trời chèo chống, mần răng mà chèo đ̣
không cho giỏi đă chư? Trường Đồng Khánh và Quốc Học cũng tham dự
chương tŕnh văn nghệ liên trường, với chủ đề riêng, bây giờ không
nhớ rơ. Mà cũng không cần nhớ làm chi. Chỉ nhớ vài buổi học với
những giờ Toán và Lư Hóa, có lần cả lớp ngồi dưới đất v́ những bàn
ghế c̣n lại sau chiến cuộc, nhường cho các lớp đàn em. Thầy Phước
dạy Toán, Thầy Nhiều dạy Lư Hóa ngập ngừng bước tới bước lui trên
bục, không muốn chùi bảng mạnh tay sợ bụi phấn bay vào lũ học tṛ
trong tư thế “phủi chân ngồi xuống đất!”. Tuy chỉ ngồi
“xếp bằng” có
mấy lần, nhưng vẫn c̣n nhớ măi. Cuối năm, Đoàn Văn Hồng, trước tê
mấy năm đệ Ngũ, đệ Tứ vẫn ngồi bên cạnh, bây chừ đổi sang ban A làm
“thợ tụng” lănh phần thưởng danh dự toàn trường khiến cho Đỗ Văn
Tùng nổi danh “Văn Vơ Toàn Tài” có lẽ buồn
“năm phút”, trong khi
Nguyễn Hồng Tuấn năm ngoái đậu Ưu ở trường khác, năm nay
“sáp nhập”
vô lớp đệ Nhất B của Hàm Nghi, thi tú tài 2 đậu xuống hạng B́nh, lại
mê theo mấy nốt nhạc lời ca líu công xàng xự! Cũng v́ mấy lời ca lư
t́nh tang này mà ḿnh với Nguyễn Hồng Tuấn đến với nhau và thân
nhau. Kỳ thi tú tài 2 năm 1969 ban Toán tổ chức tại trung tâm Đồng
Khánh, Nguyễn Hồng Tuấn và ḿnh có số kư danh liền nhau, khiến cho
một số các bạn cùng lớp “có thành kiến”, cho đến khi biết chỗ ngồi
thi, tuy cùng pḥng, nhưng mỗi đứa ngồi một góc cách nhau cả đường
chéo căn pḥng có Đỗ Văn Tùng ngồi chính giữa lớp! Ngày có bảng, một
số kéo về nhà ḿnh ở Bến Ngự. Trưởng lớp Cao Minh Tân sáng giá lại
hỏng kỳ đầu, nói không ai tin, phải thi kỳ sau đậu B́nh Thứ thiệt
oái oăm tức trí! Ban B gồm 28 người, kỳ đầu đậu 20 tên, với hai
người đậu B́nh là Đỗ Văn Tùng và Nguyễn Hồng Tuấn. Đậu B́nh Thứ như
Hồ Đ́nh Hưng, Nguyễn Duy Tâm, Nguyễn Văn Thành, v.v. Tỉ lệ đậu trước
sau cả hai kỳ trên 85% thiệt là cao nhất nước, đúng y chang lời
truyền “cái ngạch đất nhà trường!”.
Sau kỳ thi tú tài 2, Đỗ Văn Tùng, Nguyễn Khoa Hội học Khoa Học.
Nguyễn Hồng Tuấn thi đậu Đại học Sư Phạm Toán, ngành thường xuyên 4
năm. Khi học xong, sẽ ra giáo sư trung học đệ nhị cấp, chỉ số lương
là 430, chánh ngạch hạng A. Nhưng chỉ sau một năm theo học, Nguyễn
Hồng Tuấn tỏ ư chán không muốn tiếp tục học ra đệ nhị cấp, bèn kư
giấy xin ra trường sau hai năm, chọn đi thực tập ngay, vội ra trường
dạy Toán đệ nhất cấp, chỉ số lương c̣n 370, ngạch hạng B, thành thử
học trước sau chỉ có 2 năm! Trước ngày ra trường, Nguyễn Hồng Tuấn
thường tâm sự với ḿnh: “Tau ngu quá, phải chi biết trước mà bắt
chước mi để thi vô ban Việt Hán!”. Nhớ ngày hai đứa rủ nhau cùng nạp
đơn thi vô Sư Phạm, Nguyễn Hồng Tuấn nói:
“Bộ mi khùng hay răng mà
thi vô ban Việt Hán?” Hai thằng cùng đậu, cùng rủ nhau đi
“bụi đời”
sống bằng cách dạy kèm trong Tây Lộc. Hơn một tháng, hai đứa lại rủ
nhau về lại nhà của Nguyễn Hồng Tuấn ở trên đường Nguyễn Hiệu gần
ngă tư Âm Hồn. Sống ké nhà bạn, qua Tết, ḿnh v́ trong lúc bất b́nh
nổi máu Trương Phi, dẹp yên các “Anh Hùng Cư Xá” nên được thầy Hà
Thúc Hoan đang giữ chức Sinh Viên Vụ của Đại Học Sư Phạm cho vô giữ
chức Trưởng ban Kỷ Luật của cư xá Sư Phạm trên đường Đội Cung sau
lưng trường Kiểu Mẫu, ở cho đến khi ra trường. T́nh cảnh của Nguyễn
Hồng Tuấn có lẽ cũng tại số phận: Học ban Toán-Lư Hóa: Thi tú tài 1
đậu ưu; tú tài 2 đậu b́nh nhưng không được du học có lẽ v́ không
“quen biết” với người trong Bộ Giáo Dục, lại vướng cảnh nghèo! Được
biết, năm 1969, chính phủ Mỹ cho 6 học bổng
“Quốc Gia” dựa theo tiêu
chuẩn kết quả hai kỳ thi tú tài ai đậu cao nhất sẽ được. Toàn quốc
chỉ có 4 người đậu ưu tú tài 1 và tú tài 2. Nguyễn Hồng Tuấn và một
người nữa có một ưu và một b́nh. Thế mà lại lọt sổ để cho một người
có thần thế chỉ có tú tài 1 hạng b́nh và tú tài 2 cũng hạng b́nh du
học! Biết chuyện, Nguyễn Hồng Tuấn chỉ cười một cách b́nh thản,
không lộ vẻ tức giận hay than tiếc! Chuyện thi
“lộn ban” cũng
thường. Chẳng hạn, cùng niên khóa, có Nguyễn Văn Tư thi đậu vào sư
phạm Anh Văn, chợt nhận ra là ḿnh nạp đơn thi lộn ban, sẵn sàng trả
50 ngàn đồng (hai tháng lương giáo sư) cho những ai bên ban Việt Hán
muốn đổi, nhưng chẳng ai trả lời! Hồ Đ́nh Hưng du học Đức. Nguyễn
Duy Tâm học Kiến trúc. Riêng ḿnh lại trở chứng, muốn làm ông đồ,
thi vô Sư Phạm học bốn năm, mày ṃ chuyện sắp cây
“ngang bằng sổ
thẳng” theo cái kiểu “thiên trời địa đất” với ư chỉ
“tri hồ giả
dă!”. Sau khi thi đậu vào Đại Học Sư Phạm Huế, hai đứa rủ nhau vác
mặt về thăm trường, Nguyễn Hồng Tuấn được Thầy Dật khen
“Giỏi”, c̣n
ḿnh, thầy phán “Cái thằng ni, tưởng cụ mi vô Y khoa bác sĩ, hay ít
ra cũng Toán Lư Hóa nọ kia, ai từng đời theo Sư Phạm Việt Văn, thôi,
ta không thèm nh́n mặt!” Ra Di Luân Đường, chào ông Lục đang giữ
việc đánh trống, “À, cái thằng quỷ sứ của trường Hàm Nghi, mi c̣n
trở lại đây để định làm cái chi chi?” Chưa hết, Thầy Tổng Giám Thị
là Lê Hiếu Kính gọi oang oang trên máy: “Tṛ tê mau lại đây, v́ răng
không đồng phục?”.
Đoàn văn Hồng bị đôn quân, phải đi làm “Cán Bộ Kỹ Thuật”. Cao Minh
Tân vào Khoa Học nhưng lại bỏ dở nửa chừng khoác áo Hải quân. Số
những bạn bè c̣n lại chịu cảnh chia phân t́nh đời ngang dọc!
Năm 1970, nghe tin trường Hàm Nghi nhận thêm vài nữ sinh do bà hiệu
trưởng Tôn Nữ Tiểu Bích của trường Đồng Khánh Thành Nội gởi sang.
Th́ cũng hơi giống chuyện nam nữ học chung như bên trường Khải Định
thuở trước!
Năm 1975, thế sự đi đến chỗ tan hàng bể dĩa, dân Hàm Nghi phân tán
tứ phương. Trường Hàm Nghi giải thể. Bây chừ, nói như Đoàn Văn Hồng:
“Vui nhất là tha hương ngộ cố nhân”. Trước hết là mừng gặp lại Thầy
hiệu trưởng Hồ Văn Lê, Thầy hiệu trưởng Nguyễn Đ́nh Phiên, Thầy Giám
học Vơ Văn Dật và cô Minh Lệ ở bang California. Sau lại nghe tin cô
Túy Hồng ở bang Washington. Đă gặp lại các bạn Hồ Công Dương, Thân
Đ́nh Châu ở Úc; Vơ Văn Trang, Đoàn Văn Hồng ở Mỹ. Qua điện thoại “mi
tau” với các bạn Nguyễn Duy Tâm, Nguyễn Thiện Mật, v.v. Thương nhớ
các bạn học giỏi nhưng kém may mắn như Cao Minh Tân, Nguyễn Hồng
Tuấn. Qua Email, liên hệ được với các bậc đàn anh của các niên khóa
trước, và các bạn Hàm Nghi cũ mới, thắt chặt t́nh thân hữu tương
giao.
H́nh ảnh và tên các Thầy các Cô vẫn rơ ràng trong trí: Thầy Hồ Văn
Lê, Thầy Nguyễn Đ́nh Phiên, Thầy Nguyễn Duy Khác, Thầy Vơ Văn Dật,
Thầy Lê Hiếu Kính, cho đến Thầy Tùng, Thầy Phổ trong ban giám thị
điều hành. Thầy Phước, Thầy Toản, Thầy Nhiều, Thầy Lan, Thầy Hoa,
Thầy Vơ, Thầy Chân, Thầy Thiện, Thầy Lữ, Thầy Chữ, Thầy Ái, Thầy
Uyển, Thầy Huế, Thầy Xước, Thầy Liễn, Thầy Thắng, Thầy Thuyên, Thầy
Trí, Thầy Bính, Thầy Châu, Thầy Tài, Thầy Khuê, Thầy Giảng, Thầy
Bằng, Thầy Hiếu, Thầy Oanh, Thầy Tri; Cô Hoắc Hương, Cô Minh Lệ, Cô
Sa Đa, Cô Yến, Cô Kim Tiêu, Cô Túy Hồng, Cô Kiều My, Cô Nguyệt
Blanc, Cô Nguyệt Noir; Cô Hương Hảo, cô Hạnh. Ngoại trừ các Thầy
Phiên, Kính, Tùng, Phổ, Thiện, Bằng, Lữ, là không có duyên được theo
học, c̣n các thầy cô khác, nhiều th́ hai ba năm, ít th́ một vài
tháng! Kể ra như ri không biết có c̣n sót tên Thầy Cô mô nữa không
hè? Thôi, có sót th́ cũng đành ráng chịu v́ chất xám trong đầu với
lứa tuổi lục tuần trải qua nửa thế kỷ mà nhớ được như ri là … quá
khá chứ đừng có tơ có tưởng nọ kia!
Tên các bạn cùng lớp trước kia như Hồ Ngọc Sơn vào Quốc Gia Âm Nhạc;
Trương Huế sang học Nông Lâm Súc; Phan Chánh Nguyên vào Cao Đẳng Mỹ
Thuật, Nguyễn Viết Dờ đi Quân Cảnh; Trương T́m, Nguyễn Văn Ngắn,
Phan Văn C̣, Trần Văn Ngư đi Hạ Sĩ quan Đồng Đế; Hoàng Ngọc Điền đi
Phi công; Đoàn Văn Hồng đi Cán Bộ Kỹ Thuật; một số lớn như Nguyễn
Văn Lợi, Nguyễn Văn Cổ phải vào trường Bộ Binh Thủ Đức; Bùi Kế Giản,
Cao Minh Tân đi Hải quân; Nguyễn Duy Tâm học Kiến Trúc; Hồ Đ́nh
Hưng, Nguyễn Huy Đương xuất ngoại! Một số tiếp tục học lên các ngành
như Thân Trọng Tuấn, Nguyễn Hồng Tuấn học Đại Học Sư Phạm; Đỗ Văn
Tùng, Nguyễn Khoa Hội học Khoa Học Tạo tác, Hồ Công Dương chọn Y
Khoa. Thân Đ́nh Châu, Nguyễn Thiện Mật học sư phạm Quy Nhơn. Các bạn
c̣n lại như Thái Nguyên Đại, Ngô Đ́nh Lô, Trần Thiện Tuấn, Nguyễn
Tuấn, Cao Xuân Thiện, Nguyễn Thiện Chiến, Đỗ Văn Nam, Lê Thành Trai,
Nguyễn Sửu, Nguyễn Thành Trung, Vĩnh Vơ, Trần Sung, Phan Đ́nh Tôn,
Trịnh Sỹ, Vơ Quang Minh, Nguyễn Văn Điền, Hoàng Ngọc Chánh, Vơ Bá
Chức, Lê Đức Huế, Hoàng Ngọc Thi, Nguyễn Chí Thành, Cung Trọng
Thống, Trần Ngọc Phú, Hồ Phú, Lê Đ́nh Thám, Nguyễn Nghĩa, Vũ Khắc
Thọ cùng các bạn khác không nhớ họ như Mộng, Hải, Lộc, Hà bắc kỳ và
những bạn cũ nhưng quên hết tên, không biết bây chừ ra răng?
Viết tới đây chợt nhớ thêm mấy chuyện bèn gài thêm mấy chút, thiệt
rơ ràng trái lời Thầy Dật trong cách “em tập làm văn”. Tùy bút kiểu
ni: Cứ mặc kệ cho ư tuôn ra được cái chi th́ vội ghi liền cái nấy!
Nhớ những lúc trước khi vô trường phải chờ phải chực ông Cai Lợi
chơi cái kiểu đủng đa đủng đỉnh ôm xâu ch́a khóa leng keng ra mở
cổng! Ông Lợi nhỏ người nhưng có giọng thiệt to! Ông Lục hiền lành,
đánh trống rất đúng giờ. Nhiều khi ông Lục phải cho mấy cái thằng
quỷ sứ trường Hàm Nghi mượn đỡ đôi dép làm bằng vỏ bánh xe cao su
của ông để cho tụi hắn “quang vào lớp” xong chờ hết giờ mang ra trả
lại. Bác Phương thư kư có ống điếu thuốc lào
“bắc kỳ thứ thiệt!”.
Buổi sáng chào cờ, hát quốc ca có một anh lên đánh nhịp. Thầy Tổng
Giám Thị đứng trên bậc cấp của Di Luân Đường trước máy vi âm kiểm
soát học sinh, kêu những kẻ đi dép không quai, không huy hiệu lên
ghi tên vào sổ… Hàng tháng, sau khi nhận chia phiên trực, học sinh
phải đi trực đúng giờ đúng giấc. Trước kia phải đồng phục trắng, sau
bỏ, chỉ đồng phục thường quần xanh áo trắng nhưng có mang băng trên
cánh tay để phân biệt. Lên tŕnh diện Thầy Tổng Giám Thị là Lê Hiếu
Kính và thi hành chỉ thị phải đúng y bong! Thầy ngó
“oai nghiêm”
trước máy vi âm trên Di Luân Đường như
“Hàn Tín điểm binh” khiến học
tṛ sợ “théc léc”; nhưng khi làm việc mới thấy Thầy Tổng Giám Thị
“hiền thiệt là hiền” và “cách ăng noái của Thầy dễ thương chi lạ!”.
Học sinh trực có trách nhiệm như: Mang thông cáo đến các lớp. Cầm
giấy gọi học sinh lên văn pḥng với mọi vấn đề. Sắp xếp hồ sơ các
thứ! Nhắc nhỡ kỷ luật: Cấm đi xe đạp trong sân trường. Cấm ngồi lộn
chỗ trong lớp. Cấm hút thuốc lá. Cấm đập bậy. Cấm đi dép đến trường!
Có khi, thông cáo cấm chen chúc trong bếp nhà ông Lợi! Ui chao! Ổ
bánh ḿ xịt x́ dầu sáng sớm! Cái bánh ram vàng nâu béo ngậy có con
tôm ôm miếng thịt đầu ngày. Miếng kẹo đậu phụng kẹp bánh tráng thơm
ngọt dẻo bùi lúc ra chơi! Suốt bảy năm trời, chưa hề nghe thông cáo
cấm ăn chè hay uống nước mía của mụ Kư góc đường Tống Duy Tân và
Đinh Bộ Lĩnh nh́n ra cửa Thượng Tứ xéo góc Tam Ṭa! Nhớ khúc đường
sau trường băng ngang qua viện bảo tàng Khải Định, lâu lâu có một mụ
ăn mặc thiệt sự ra chi đúng cái kiểu
“mượt mà chỏng lỏn” theo cái
mốt “áo gấm bảy màu nón thượng quai găng”, kêu réo ngân nga giọng
dài thậm thượt “Ơi! Con trai mụ bán cháo gà mau trả tiền lại cho
tau!” Mụ tuy nhỏ người nhưng không biết cách răng mà mụ lại có cái
giọng kêu la thiệt lớn, điếc óc đinh tai! Ngài Ngự Bảo Đại đă qua
bên Pháp sống từ mô cái thời “ông Tam Tạng thỉnh kinh” mà mụ vẫn
chưa hề hay biết, nên chi thỉnh thoảng mụ mới đi ṿng quanh cửa Hiển
Nhân “chơi cái tṛ kêu la” đ̣i nợ! Nhớ ơi là nhớ! Tết đến, văn nghệ
Tất niên vui quá là vui. Hát riêng trong lớp có Trần Đ́nh Châu, Trần
Ngọc Phú lo toan! Phan Chánh Nguyên cũng “nhảy tuưt nhảy tiếc” qua
bài Đêm Đô Thị giật gân. Báo Xuân, Bích báo rộn ră hương xuân. Có
năm trường Hàm Nghi lại thuê nguyên nhà hát lớn, cho tổ chức chiếu
phim Tarzan đen trắng, hay ca kịch rộn ràng này nọ. Tài năng mới
không ai ngờ, tự nhiên xuất hiện. Mấy tên
“nghệ sĩ” này lâu nay mai
danh ẩn tích không ai biết tiếng, cứ tưởng
“mấy eng” cũng giống như
các tượng đá kê trước sân trường, im ĺm dưới gốc mấy cây cối lẫn
lộn cây mù u to tổ chảng lớn hơn ṿng tay ôm, bây chừ ra sân khấu
với áo da, đàn guitar điện, nhấp nháy ánh đèn màu khua âm thanh
“de
dé” hay hết chỗ chê!
Gần năm chục năm rồi c̣n chi? Mấy cái thằng cùng lớp ngày xưa bây
chừ có đứa đă lên làm ông nội, ông ngoại, sống rải rác khắp năm
châu. Thời thế tạo nên cảnh dân Hàm Nghi đem chuông Việt Nam đi đánh
nước người: Có kẻ hoạn lộ thênh thang, giữ chức ông Đốc, ông Ty, ông
Trưởng; hoặc chính khách xa lông, làm ông nghị, hay mơ làm ông thống
đốc. Quư vị làm Bác sĩ, Kỹ sư, Kiến trúc sư, Giáo sư, Thương gia, Kỹ
nghệ gia, Khoa học gia, v.v. xét ra có đủ, và h́nh như chỉ thiếu mấy
vị Mục sư, Thượng tọa, Phù thủy, Thầy mo các thứ. Cũng có kẻ như
ḿnh nhận chân cảnh thế phù du, vừa đến tuổi đă vội nghỉ hưu non …
cho nó khỏe! Tùy phước đức ôn mệ! Cùng trang lứa với nhau, có kẻ
sống sang giàu, có người lo tất bật! Cho dù sướng hay cực, học chung
trường vẫn t́nh nghĩa đồng môn! Tuy nước chảy đá ṃn, nhưng t́nh xưa
vẫn thế! Năm 2006 ḿnh đề nghị với Thầy Vơ Văn Dật tổ chức buổi họp
mặt Hàm Nghi Hải Ngoại trong tinh thần Quốc Tử Giám. Thầy đồng ư.
Thế là ḿnh xung phong làm “Thằng Mơ Hàm Nghi Quốc Tử Giám”, dùng
điện thư dưới tiêu đề Tiếng Trống Hàm Nghi rao truyền khắp thế giới
ra ră suốt mấy tháng. Địa điểm hội ngộ là quán Sea Food World của
Bửu Lộc tại thành phố Westminster thuộc quận Cam, California vào
chiều chúa nhật 21 tháng 2 năm 2007. Thầy Hiệu Trưởng Hồ Văn Lê ở
San Jose v́ lư do sức khỏe nên không thể đi. Thầy Cô Hiệu Trưởng
Nguyễn Đ́nh Phiên, Thầy Cô Giám Học kiêm Quyền Hiệu Trưởng niên khóa
1969-1970 là Vơ Văn Dật – Minh Lệ và Thầy Cô Phan Văn Cự hiện diện
chẳng quản đường xa và phải dùng khách sạn. Các đồng môn cựu hữu
đang sống trong tiểu bang California cũng như răi rác các tiểu bang
khác cũng về. Ngay cả Đỗ Văn Tùng đang ở Canada cho dù rất bận rộn
công việc v́ chức vụ cũng lấy mấy
ngày nghỉ sang tham dự. Những ai không
đến được đều gởi điện thư chúc mừng, ủng hộ. Buổi hội ngộ thành
công. Vơ Đ́nh Hữu được bầu làm Hội Trưởng Hàm Nghi Hải Ngoại vĩnh
viễn! Ḿnh tự thôi làm “Thằng Mơ Hàm Nghi” theo tinh thần
Hết Xôi
Rồi Việc! Vui như rứa th́ thôi!

Họp mặt Hàm Nghi Hải Ngoại 21/2/2007

Từ trái: Thầy Dật, Thầy Phiên, Cô Phiên, Cô Phan Văn Cự, Cô Minh Lệ.

Từ trái: Đỗ Văn Tùng, Đoàn Văn Hồng, Nguyễn Khoa Hội.
Nghĩ tới “cái hồi c̣n trẻ”, nhớ cách chi mà nhớ rứa a thê! Ơi các
bạn Hàm Nghi! Ơi ngôi trường nhỏ tí! Thôi xin tạm gởi chút chi, từ
những ǵ xưa cũ! Không biết v́ răng mà cứ thương, cứ nhớ măi như ri?
Thân Trọng Tuấn
(HN 62-69)
California Dec. 2006
art2all.net
|