Thân Trọng Tuấn

 

PHÚ CAM XÓM ĐÁ

 

           

            Phú Cam nằm sát bờ con sông đào An Cựu, cách cồn Dă Viên của sông Hương về phía nam chừng hơn một cây số ngàn. Phía đông giáp xă An Cựu có cánh đồng sản xuất thứ gạo de mềm mướt thơm ngon nhứt hạng, sánh đôi với con tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi kho om trong cái trách đất dâng lên mời mạ thời. Phía tây Phú Cam giáp phường Phú Ninh thuộc xă Dương Xuân Hạ có chùa Vạn Phước vô ngôn cùng các chùa Pháp Hoa, Linh Quang và nhất là chùa Từ Đàm nổi tiếng. Phía nam Phú Cam là xóm rẫy hiền ḥa thuộc vùng Tam Thai Nội và Tam Thai Ngoại triều kiến núi Ngự B́nh, ngắm lên xứ Thiên Thai có trái núi Thiên nằm bảnh chọe. Phía bắc giáp vùng Bến Ngự với ṭa Tổng Giám Mục và hai trường Đồng Khánh Quốc Học quen thương. Xứ Tứ Tây của Phú Cam nghe xưa lắc xưa lơ. V́ thế đất quư Bối sơn Diện thủy, vua Thành Thái có cho dựng An Lăng nho nhỏ. Con đường mới quanh co mấy độ, xă Phước Quả trổ đường đá dọc ngang. Nhớ ơi là nhớ, cái xóm Phú Cam. Cả một vùng rộng lớn của người ta mà cứ kêu là xóm. Nhớ cái thời có biệt danh Tự Trị. Nhà không cần địa chỉ. Xóm không có tên đường. Hỏi thăm nhà sẽ bị chỉ quanh chỉ quẩn lần ra tới tận mồ ma. Thơ từ gởi về đều tập trung tại nhà cha sở để trước hiên, cứ đến mà kiếm, chậm th́ có chậm nhưng không bao giờ thất lạc. Thời Tây bắt lính đưa qua Pháp để đánh giặc Đức, thanh niên bên phố Huế lẻn sang đây ẩn trốn là khỏi sợ lính sen đầm xét soát giấy tùy thân phiền hà lắm chuyện.

 

Phú hay Phủ?

            Phú 富 là giàu. Phủ là cái kho. Phải giàu có mới đủ tiền xây kho, xây lẫm. Nói hai tiếng Phú Cam 富 甘 hay Phủ Cam 府 甘 chỉ khác nhau một chút giọng nhẹ nhàng. C̣n như Phu Văn Lâu 敷 文 楼  nói nặng thành Phú Văn Lâu 賦 文 楼 đă sai, có người c̣n đổi Văn thành Vân 雲  mới thiệt là tầm bậy. Hỏi thăm quanh quẩn, nhất là dân địa phương, người nào cũng nói là Phủ Cam hiểu theo nghĩa cái kho cam như kho lúa kho gạo. Lại c̣n có nghĩa khác là ở trong dinh thự có nhà cửa sang trọng, vườn tược rộng răi trồng rất nhiều cam. Từ các mệ các mự, mụ o ôn bác, đến các chú các eng, nhất nhất ai ai cũng đều nói Phủ trong ư nghĩa phủ pḥng kho lẫm. C̣n Phú là giàu ít  nghe nhắc đến.

             Địa danh xứ Huế thường mang tên kép, có nghĩa là một tên gồm hai chữ như Kim Long, Thừa Thiên, Phú Xuân, v.v. Tên đơn một chữ như Huế, Śnh, Sịa, Truồi, Trẹm, Trạch, Tuần, Lụ, Nong, Chuồn, Sam v.v. Tên đơn thường thêm thắc thành hai tiếng một cách dễ thương như  Phố Huế, Chợ Sịa, Làng Chuồn, hoặc luôn dùng đơn như Trẹm, Lụ, Trạch, Nguồn. Tên Phủ Cam hai chữ. Cam dùng không thay đổi. Phú với Phủ mới rắc rối cuộc đời. Lật trang sách cũ, nhắc chuyện chúa Nguyễn Phước Chu cho nhà cố đạo mua đất làm nơi giảng đạo trên chỗ Phú Cam thuộc xứ Tứ Tây! Nếu chuyện này có thật th́ tên Phú Cam có trước tên Phú Xuân, v́ sau khi chúa Nguyễn Phúc Chu mất, chúa Nguyễn Phúc Khoát mới lập dinh Phú Xuân, phủ Kim Long. Xuân tươi trẻ. Cam ngọt ngào. Trong chữ Hán, Phú và Phủ viết khác nhau. Phía bắc Hương Giang có Phú Xuân, nam Hương Giang có Phú Cam, Phú Ninh, Phú Vĩnh! Phú Cát  gần khu vực Băi Dâu, Phú Ốc gần chợ Sịa. Thêm Phú Vang, Phú Thứ, Phú Lộc ở gần Thuận An… Ngay trước nhà thờ Phú Cam có Phủ Trấn Biên của Quận công Hường Thuyên thân sinh của hoàng thân Ưng Trạo. Trên cửa phủ Trấn Biên có cây thánh giá đường bệ vững vàng. Nếu nói rằng phủ Trấn Biên nằm trong Phủ Cam cũng giống như Phủ Cam nằm trong Phủ Thừa Thiên th́ h́nh ảnh nầy thiệt bao la diệu vợi ít có người tưởng tượng cho ra. Chữ Phủ ít khi dùng trước tên, ngoại trừ trong ngôn ngữ nói. Ta nói với nhau là Phủ Thừa Thiên, nhưng khi viết phải là Thừa Thiên Phủ; hay Phủ Thọ Xuân th́ phải viết là Thọ Xuân Phủ. Phủ Trấn Biên khi viết là Trấn Biên Phủ. Ơi mấy anh Quốc Học, mấy chị Đồng Khánh ở bên tê sông có c̣n nhớ con đ̣ Thừa Phủ? Cam không phải là một phủ. Lại không phải một dinh phủ có trồng nhiều cam tuy trong Phủ Cam có mấy vườn cam. Năm 1930, c̣n sót lại đồi đất trồng cam, vườn nhỏ của ông Hùng. Phủ Cam là một vùng nhỏ thuộc xă Phước Quả. Trong xă có nhiều xóm như xóm Nam, xóm Đường Đá, xóm Chợ Xép, xóm Cồn Mồ, xóm Giếng Khe, v.v. Giấy khai sinh ghi “Làng Phước Quả, Tổng Cư Chánh, Huyện Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên”. Không thấy ghi hai chữ Phủ Cam. Khi ghi bằng chữ Hán th́ dùng chữ Xă thay cho Làng, v́ Làng là tiếng Việt, muốn viết phải dùng chữ Nôm chứ chữ Hán của người Tàu không có chữ Làng. Phủ Cam nằm sát vùng Phú Vĩnh. Phú Vĩnh thuộc vùng Bến Ngự, sau Phú Vĩnh đổi làm phường. Thơ từ đề địa chỉ, không dùng hai chữ Phú Vĩnh, thay bằng mấy chữ Bến Ngự, Huế cho nó rơ ràng, không làm mờ mắt ông đưa thơ khiến lầm địa chỉ. Bến Ngự là Bến Ngự, không phường, không xă, không xứ, không làng. Chợ Bến Ngự đề tên rơ ràng, gắn trên hai cột trụ xi măng chắc chắn. Chợ nằm sát bờ sông, có cây thị xanh um tàn lá. Trường tiểu học Phú Vĩnh nằm phía sau lưng trường Quốc Học. Trụ sở phường Phú Vĩnh gần chợ Bến Ngự cạnh bến xe. Con hẻm nhỏ vô ra nhộn nhịp.

            Lại nữa, Phủ 斧 là cái búa. Cân là cái ŕu. Phủ cân 斧 斤 trỏ sự trừng phạt v́ có tội. Kết án Phủ Cân là án tử h́nh. Án Phủ Cân Giam Hậu là án tử h́nh nhưng vẫn c̣n giam chưa ấn định ngày thọ tử. Phủ Cam đă từng là vùng biệt lập lưu đày giam giữ những tử tội v́ theo đạo Thiên Chúa bởi luật cấm đạo của triều Nguyễn, măi cho đến gần cuối triều Tự Đức mới được chiếu chỉ giải tỏa dung tha. Nhà thờ Phủ Cam theo thế đất thuộc loại Bối Sơn Diện Thủy tức là sau lưng có núi, trước mặt có sông, nhưng cũng bị gọi lại là thế đất Bối Sơn Diệp Thủy. Chữ Diệp ở đây được giải thích là tươi mát! Diện hay Diệp 曄  trúng trật ra răng thưa thầy địa lư? Từ Phủ Cân mà đọc lâu ngày trại thành Phủ Cam chăng? Giống như Dữu dân, chữ của ông Nguyễn Văn Tường chỉ người Việt theo đạo Thiên Chúa, tai hại như cây cỏ dữu mọc lẫn trong lúa. Người Pháp không chịu, ông Tường đổi thành chữ Giáo. Lương dân và Giáo dân. Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết có lúc khác nhau. Đọc sai nhiều thứ như chùa Tra Am  có nghĩa là cái am làm nơi nghiên cứu. Chữ Tra không có dấu huyền. Người sau thêm dấu huyền vào, đọc thành Trà Am 茶 庵 nghĩa bóng là tên chùa, nghĩa đen là cái am làm nơi uống trà như trà đ́nh, trà thất, trà pḥng, v.v. có lẽ v́ âm Tra đọc không hay lại nghe ra như có dấu huyền thành Trà .  C̣n Phú Ninh th́ thuộc vùng chùa Báo Quốc, dốc Nam Giao, ga xe lửa Huế, v.v. Sau ga xe lửa có miếu Lịch Đại Đế Vương. Khu vực quanh miếu, người ta gọi là vùng Lệt Đợi ấy là do kiêng tên vua Hàm Nghi (Ưng Lịch) mà gọi trại đi hai tiếng Lịch Đại. Biết đâu âm Cân và Cam v́ lư do nào đó nên có khi lẫn lộn

 

 

Thăm xứ Tứ tây

            Người Huế đến nay vẫn c̣n truyền nhau câu tục ngữ “Phế vua không Khả, đào mả không Bài” để trỏ quan đại thần Ngô Đ́nh Khả không đồng ư nhà nước Bảo Hộ phế vua Thành Thái, và thượng thư Nguyễn Hữu Bài ngăn cản việc người Pháp đ̣i khai quật lăng vua Tự Đức để t́m châu báu. Trong triều, hai cụ Khả (Bảo Hộ) và cụ Bài (Nam Triều) cùng làm quan lớn. Ngoài quận, hai người lại là thông gia với nhau. Khi thôi làm quan, cụ Thượng Bài về cố hương là xă Phước Môn ngoài Quảng Trị sống quăng đời c̣n lại. Cụ Thượng Khả không về quê, ở luôn tại Phủ Cam, khi mất chôn ở đấy. Mộ cụ Thượng Khả cách nhà chừng hơn một cây số.

            Có người Pháp là  ông Gerald chuyên nghề làm dầu sả, lên xóm Phước Quả, xứ Phủ Cam xây nhà lầu gần chỗ ngă ba đầu con đường mới. Lầu ông Gerald c̣n cao hơn cả nhà thờ. Ngă ba nầy sau có dựng một cây thánh giá thật lớn và mang biệt danh là Ngă Ba Thánh Giá. Ngày khánh thành cây thánh giá, có linh mục chánh xứ Phú làm lễ, cùng các linh mục khác như Chân Tín, Cha Thanh đồng tế. Linh mục Thanh rao giảng tuyên xưng ơn thập giá. Năm 1975, linh mục  Thanh  nổi danh chống tham nhũng.

             Ngă Ba Thánh Giá nằm về phía tây nam Phủ Cam, địa thế cao nhất xứ. Đỉnh đồi được san bằng, dùng làm nghĩa trang họ Ngô. Nghĩa trang có trồng thông, hoa mai, cây kiểng. Tứ phía xây tường đá. Lối vô ra có cái cổng sắt rất kềnh càng hoa mỹ.

            Các con đường của Phủ Cam được người Pháp chăm sóc kỹ, cho rải đá cho nên vẫn gọi là xóm Đường Đá. Người ta đồn rằng có khi đất của tư nhân bị người Pháp trưng dụng làm nghĩa trang như đất của ông Trương Đ́nh Tùng, tức là ông Thừa Tùng bị lấy một nửa khoảnh vườn, làm rộng thêm Nghĩa Trang Âu Châu. Trong khi đó, đất cất nhà cho ông Gerald lại được bảo vệ tối đa, phóng thêm con đường cho tới ngă ba gần đỉnh đồi, lại trải đá hoa cương cho ông dễ lái xe đi làm. Ôn Tây Gerald có xưởng cất lọc dầu sả bên bờ sông Hương gần cầu Bạch Hổ nh́n qua cồn Dă Viên, xéo góc trường Pellerin tại ngă ba sông Hương và sông An Cựu có cây Cừa cao to chi lạ.  Một chi tiết khác là ông bà Trương Đ́nh Tùng phúc hậu, cho con rể là Nguyễn Văn Bửu đất nhà, sau ông Bửu bán địa trạch lại cho người Pháp thành lập nghĩa trang Âu Châu. Ngay trong lầu ông Bửu trước nhà thờ Phủ Cam có ngôi mộ của người vợ trước của ông Bửu, con gái ông Thừa Tùng. Khi ông Ngô Đ́nh Cẩn trưng dụng lầu ông Bửu để làm Văn Pḥng Cố Vấn Lănh Đạo Miền Trung, ngôi mộ vẫn c̣n. Con đường từ ngă ba thánh giá băng qua An Lăng, thông ra cầu Kho Rèn có tên Tây trước 1944 là đường Nghĩa Trang (Rue De la cimentiere), tên Việt  là con đường Mới. Con đường Mới được tráng nhựa rộng răi, đổi tên là đường Hàm Nghi, sau 1975 cải thành đường Trần Phú. Ông tây Gerald về nước, biệt thự bị trưng thu, nhà cầm quyền cho thả mấy con nai trong vườn làm cảnh. Tên ông Tây là Gerald khó đọc, bèn gọi đại ra thành hai tiếng Đuya-Ra, ai nghe cũng hiểu. Nhà Ngô cáo chung, lầu Đuya-ra do ông Cẩn chiếm chưa kịp khánh thành đă bị một số sinh viên và học sinh quá khích, suốt mấy tuần liên tiếp, mở cổng xông vào đập phá gọi là hỏi tội chế độ độc tài gia đ́nh trị, luôn thể bắt mấy con chim quư như các loại yến và họa mi cùng bẻ găy một số lớn cây cảnh kể luôn những buồng cau non, mang về làm kỷ niệm “chiến thắng riêng”.

            Thời điểm giữa Đệ nhất và Đệ nhị cọng ḥa, nhà chức trách cho lập một chuồng thú trước nhà thương lớn, tức Bệnh viện Trung Ương Huế. Chuồng thú xây trên miếng đất trống sát bờ sông Hương, sau này nằm sát chân cây cầu mới Sông Hương, đối diện với Câu Lạc Bộ thể thao. Vườn thú xây tường đá thêm nhà hầm thả mấy con nai. Chuồng thú lợp mái tôn chận song sắt nhốt mấy con khỉ. Người ta đồn rằng, nai lấy từ biệt thự ngă ba thánh giá, và khỉ bắt về cũng từ lầu ông dầu sả Đuya-ra. Mậu Thân lửa đạn, đàn khỉ biệt tăm, c̣n mấy con nai ngơ ngác bước vào nồi! Mấy trăm thanh niên sinh viên học sinh và công chức Phú Cam bị bắt giải lên khe Đá Mài chết thảm. Đồn ông Mậu, chốt trong lầu ông Gérald khoảng cả đại đội, thường ngày vẫn bị dân anh chị Phủ Cam kiếm cách gây sự. Lính của ông Mậu gồm bọn Cảm Tử Nùng (gọi là Xi Ti Nùng: CT Nùng) và Nùng gác nhà cho tư gia Mỹ từ Saig̣n ra. Đại đội ông Mậu thua trận rút  chạy về Phú Bài. Dân Phủ Cam đánh nhau với Việt Cọng phần lớn thuộc thành phần lính nghỉ phép.

            Tên xă Phước Quả cũng dùng đặt cho tên người cả nam lẫn nữ. Tiền Đạo Tướng Quân, có con trai với bà sau, mang nặng đẻ đau ở mô tuốt bên tê thành nội, đặt tên Nguyễn Phước Quả, sau này tức là nhà báo Kinh Châu viết cho báo Sóng Thần. Bài “Ăn cơm Xương Rồng” tả chuyện dưới Mỹ Lợi gây xúc động một thời.

            Hoa khôi Phủ Cam tên là Phước Quả học trường Đồng Khánh, mới mười sáu tuổi tây tức mười bảy tuổi ta, Tết Mậu Thân 1968 theo gia đ́nh chạy loạn, bị lạc đạn trên cầu Bến Ngự thác oan.

            Bảy năm sau, vườn thú trước nhà thương mở trở lại với con hươu sao đủng đỉnh hiền lành. Kể chuyện đời xưa, dưới thời Cậu Cẩn, có ông Quảng mở ḷ bánh ḿ, và ông Lợi mở cơ sở làm men nấu rượu trong xóm Đường Đá. Cả hai trở thành triệu phú đúng như câu “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. Tuy nhiên phước lộc cũng tùy phần, bất đồ năm 1963, sau khi nhà Ngô bị thảm sát, ông Quảng nhường ḷ bánh ḿ để Ṭa Giám Mục Huế cho nhà Chung nhà Phúc cai quản, gia đ́nh ông âm thầm vô tận Ba Ng̣i gió cát tái tạo cuộc đời. Ông Lợi cũng dẹp hăng men sau mùa hè đỏ lửa đốt cháy tháng tư đen.

 

Danh gia vọng tộc:

            Gia đ́nh Cụ Thượng Khả c̣n thịnh một đời nữa, hiện thân qua các cụ Ngô Đ́nh Diệm, Ngô Đ́nh Nhu và Ngô Đ́nh Cẩn. Nhà Cụ Ngô nằm trên dốc lên thẳng vào nhà thờ Phủ Cam và dừng tại đó, tức là con đường Nguyễn Trường Tộ sau này. Có con đường rải đá thứ hai là con đường Bến Trâu song song với con đường lên nhà thờ Phủ Cam từ bờ phía nam sông An Cựu “xuôi lên” gặp con đường đá nữa cắt ngang gọi là con đường Xóm Nam. Sau khi băng qua con đuờng đá Xóm Nam trước mặt nhà thờ Phủ Cam, đường Bến Trâu tiếp tục xuôi lên qua khỏi khu nhà Phúc, dẫn ra tận xóm Giếng Khe. Phía sau nhà cụ Thượng Khả, có nhà của ông phú hộ Tư, ruộng đất vô số ở dưới An Cựu gần khúc quanh ngẹo dàn xay. Phú hộ Tư có rất nhiều trâu, đóng trại sau xóm Cồn Mồ gần Giếng Khe. Lâu lâu, người giữ trâu dắt cả bầy băng qua trước nhà phú hộ, xuống sông An Cựu cho trâu tắm. Trâu tạo lối ṃn xuống bến. Bến đất thường cho trâu xuống tắm gọi là Bến Trâu. Con đường đá Bến Trâu sau này mang tên mới nhưng chỉ những người sống ở đó mới biết tên đường để điều chỉnh giấy tờ hộ tịch. Con đường này ít được tu bổ, vẫn c̣n nhỏ hẹp và mang nhiều dáng dấp cổ xưa, không như con đường Nguyễn Trường Tộ tráng nhựa rộng thênh thang băng ngang nhà Ngô Tổng Thống. Và cũng v́ mở rộng con đường nên cổng tam quan duy nhất có cây thánh giá của phủ Trấn Biên đành triệt hạ, mất đi một di tích của Huế đô!

            Trong khu vực nhà Chung nhà Phúc, O Kinh tức là Xơ Kinh lập ḍng Mến Thánh Giá, có ḷ làm bánh lễ, cắt xếp suốt ngày, phân phối cho họ nọ họ kia khắp vùng khắp xứ. Ba miếng bánh rẻo, Xơ Kinh cũng để dành, thỉnh thoảng gởi tới các trường nội trú dùng làm quà cho những em học tṛ trong khi thiếu bánh ḿ khô. Mấy em học tṛ trong tức là mấy em nội trú, nói theo tiếng Tây lẫn tiếng Việt là mấy em inh tẹc, lúc về thăm nhà, có khi đ̣i bọ mạ lên ḍng Mụ O mua bánh rẻo mang về ăn bắt đă bắt bưa.

            Nhà cụ Khả  kín cổng cao tường, trồng mấy cây bách cao vút xanh um. Thông gia là Cụ Nguyễn Hữu Bài, nhà ở bên bờ sông Bến Ngự, sát Ṭa Tổng Giám Mục, hàng xóm của cụ Ưng Tŕnh. Sau này nhà cụ Thượng Bài là nhà in Thánh Tâm của Thiên Chúa giáo.

             Nhiều tay hào kiệt trú ngụ trong phạm vi mấy chục mẫu đất mấp mô, khe rảnh dọc bờ đường sâu hun hút của xóm Đường Đá. Nhà Cụ Ngô vinh hiển th́ ai mà chẳng biết. Từ cụ Ngô Đ́nh Khả với trường Quốc Học Huế, đến Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu và Cậu “Cố Trầu” Ngô Đ́nh Cẩn v.v. đều quy tụ dưới chân dốc nhà thờ. Thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, hàng năm vào trưa mồng một Tết, học sinh trường Quốc Học thuộc thành phần học giỏi, được nhà trường tuyển lựa mỗi lớp chừng năm người, mặc đồng phục trắng lên nhà Cố Hiệu Trưởng Ngô Đ́nh Khả hầu kỵ. Thức ăn xếp trên bàn kê giữa sân, gần bàn thờ có dựng tấm bia. Lệ thường, sáng mồng một Tết, gia quyến Ngô Tổng Thống sau khi tan lễ tại tư gia, mọi người đều lên thăm mộ trên vùng ngă ba thánh giá, xong kéo về ăn trưa, ngồi nhà trong. Một số khách thường và các em học sinh ngồi bên  ngoài. Bà Ngô Đ́nh Nhu thường đi quanh các bàn chăm sóc thực khách.

            Phía bên tê con đường đá, tục gọi là con đường Bến Trâu, trên khúc đường đá gồ ghề mấy trăm thước tây, kể từ đường rầy xe lửa xuống tới bờ sông cũng có thêm hai nhân vật nổi tiếng cư ngụ. Từ ngă ba bờ sông, tức là từ đường Phan Chu Trinh, rẻ vào con đường Bến Trâu, bên tay phải là nhà ông Dân Biểu Phạm Văn Nhu, giữ chức Thư Kư Quốc Hội thời Đệ Nhất Cộng Ḥa Ngô Đ́nh Diệm. Kế đó là nhà Chuẩn Đại Tá Đính chỉ huy trung đoàn ba Bến Hải. Mùa hè đỏ lửa 1972, địa đầu giới tuyến sôi động, Tướng Vũ Văn Giai từ Sài G̣n sai thả dù lon Đại Tá cho vị chỉ huy trung đoàn ba ngoài mặt trận, nhưng dù hoa lạc lối, cuốn luôn ông ra Bắc. Trung đoàn ba mất chủ tướng “chạy làng từ Quảng Trị vô Huế, thiệt là đại ra chi tài giỏi trong việc đốt phá chợ Đông Ba”. Sau năm 1975, thiên hạ đồn rằng ông được Hà Nội thăng Thượng Tá. Từ nhà Tá Đính, nh́n qua đường rầy xe lửa, xéo phía bên phải thấy phía sau nhà cụ Ngô, vẫn gọi là nhà ông Cẩn. Sau nhà Cậu Cẩn lại là nhà Dân Biểu Bùi Tuân, Phó thư Kư Quốc Hội đồng thời với Dân Biểu Phạm Văn Nhu. Mấy nhà danh gia vọng tộc quy tụ trong một xóm “Đường Đá” thuộc xă Phước Quả xứ Phú Cam, tổng Cư Chánh, huyện Hương Thủy tỉnh Thừa Thiên! Xét về nguyên quán, th́ hoàng thân Ưng Trạo của phủ Trấn Biên là “dân Huế xưa”, c̣n những người khác như cụ Khả, ông Nhu, ông Tuân là dân thuộc tỉnh khác mới đến tạm trú tại Phủ Cam sau này. Hoàng Thân Ưng Trạo nhận Bùi Tuân làm nghĩa tử, sau đó cho trở lại đạo cùng một lần với Trần Điền. Từ phong trào Hướng Đạo, Trần Điền, Trần Nhật Tân và Bùi Tuân kết nghĩa vườn đào. Sau này, cả ba người đều có danh phận: Giáo sư, Tỉnh Trưởng, Nghị Viên, Dân Biểu. Ông cố của ông Tuân là Bùi tiên sinh nguyên quán Vĩnh Yên, con cháu họ Mạc Đĩnh Chi, là một trong những vị thầy của hoàng tử Hồng Nhậm tức vua Tự Đức. Chưa rơ lư do v́ sao đổi họ Mạc ra họ Bùi. Trần Điền thuộc ḍng dơi quan Phụ Chánh Trần Tiễn Thành.

            Kể thêm  một nhà nữa có danh nhưng không có phận nổi tiếng xa gần là nhà mụ Vỹ danh tiếng làm nem! Nem của mụ thiệt là ngon ngụy tặc, thường dành riêng cho những hạng vọng tộc danh gia, phải quen biết đặt hàng mới có và không bao giờ bán ngoài chợ hay hàng quán nọ kia! Nhà mụ Vỹ cũng ở trên con đường Bến Trâu, gần đường xe lửa nh́n ra nhà Cậu Cẩn! Trước hàng hiên nhà mụ Vỹ cũng có treo mấy lồng chim chuốc miều, cu gáy, vành khuyên tức là chim ch́u ch́u, lúc réo hót chẳng thua chi mấy con chim trong vườn nhà Cậu Cẩn.

 

 

Nhớ chuyện ngày xưa

            Kể chuyện xưa từ cái thuở Tây qua. Gần nhà thờ, có ṭa Khâm mạng của nước Vatican gồm hai vợ chồng đức ông, bốn người con nhỏ và mấy người giúp việc. Ṭa Khâm mạng này chỉ là văn pḥng giữa hai quốc gia, giống như ṭa Lănh sự hay Sứ quán. Đức Ông là do chữ Monseigneur của Pháp. Đức Ông không phải là linh mục, nên có vợ con, làm việc hành chánh.  Đây là điểm đặc biệt nên nhớ măi. Ngôi nhà thờ Phủ Cam mấy lần tu sửa. Cái thuở xa xưa, nhà thờ có hai lớp sân thật rộng, hàng lan can thấp thấp quét vôi trắng, mấy bậc cấp thỉnh thoảng nẩy viên đá rời gập gềnh lổn nhổn. Ghế nhà thờ cũ cũ, ánh nến sáng lung linh. T́nh Thánh gia ấp ủ. Bức tượng thánh tử đạo buồn tênh. Nhà thờ càng tu sửa, càng thêm nhiều đường nét kỷ hà. Đi xem lễ tự nhiên nghe lành lạnh. Không bằng như xưa, nhà thờ tuy cũ kỹ nhưng rất mực yên vui. Cũng từ cửa giáo đường nh́n xuống, lầu ông Bửu vẫn im ĺm, nhưng h́nh như cây dừa có cong hơn một tí. Đường Nguyễn Trường Tộ thẳng ro, từ nhà ông Cẩn xuống đến hăng rượu tây phía bên tê đường bây chừ c̣n mô nữa. Hăng rượu SICA (Sociaté Indochinoise des Compagnies D’Alcoole) do nhiều hăng rượu độc lập của Pháp đóng cửa trước khi Nhật đảo chánh 1944. Tuy mang nhăn hiệu bằng tiếng tây do Pháp nấu, nhưng thật ra chỉ là loại rượu gạo tức là rượu trắng của Việt nam. Nhà nước Bảo Hộ cấm dân An Nam nấu rượu. Đại lư hăng rượu SICA là hăng độc quyền nấu rượu của người Pháp tại Huế đô. Năm 1945, sau ngày vua Bảo Đại thoái vị, Việt Minh cải tên xă Phước Quả thành Phước Thủy. Ṭa Khâm mạng đóng cửa. Xă trưởng là ông  Lư Quyền bị Việt Minh đâm chết trước sân. Con ông là anh Thừa chui vô núp trong lu. Việt Minh đi, xă lại lấy tên Phước Quả như cũ.

            Gần cầu Phủ Cam, ngôi nhà T́nh Thương nh́n ra bờ sông lẻ loi buồn tủi. Thấp thoáng sau lớp cửa gỗ sơn xanh, h́nh ảnh vài trẻ mồ côi nghèo ốm, nghèo luôn cả tiếng cười. Cầu Phủ  Cam vẫn vậy! Năm 1947 theo lệnh tiêu thổ kháng chiến, cầu bị Việt Minh giật sập. Sau này dưới những tảng xi măng sập ch́m dưới chân cầu, cuối thu đầu đông, hàng đàn cá phác lác kéo nhau về nương náu, khiến chiều chiều đông nghẹt kẻ buông câu. Người câu đứng chen nhau chật một bên cầu hướng về  phía  Bến Trâu ngả Kho Rèn, An Cựu. Cá câu lên con mô con nấy thiệt to, dài cả hai gang tay là ít. Mồi câu phải là con chàng mày, thứ côn trùng sống dưới nước, sau này lên bờ lột vỏ thành con chuồn chuồn, c̣n thứ mồi khác cá chê không thèm đớp. Và lạ chưa tề, dưới chân cầu Kho Rèn, cầu Bến Ngự, cầu Nam Giao, cầu Ga cũng có những tảng xi măng to tổ chảng do cầu sập bởi Việt  Minh giật ḿn năm 1947, nhưng chẳng có con cá phác lác nào ẩn núp!

            Sau nội chiến Tết Mậu Thân, bên tê đầu cầu Phủ Cam, đối diện ṭa Tổng Giám Mục Huế, cư xá Nguyễn Trường Tộ có lầu, Trịnh Công Sơn rền rĩ Ca khúc Da Vàng nhức nhối.

            Gái Phú Cam hai thứ mỹ miều. Em nữ sinh đài các yêu kiều. Em chằm nón thiệt đáng chiều biết mấy. Tây thiệt là tây, trường đầm nhún nhẩy. Dáng kiều thơm thiếu vành nón Huế yêu thương. Xe hơi xe kéo đưa đến tận trường, tiểu thư đài các lề đường thiếu em. Vành nón lá nghiêng nghiêng, sầu riêng xứ Huế. Từ trường Mê Linh qua Đồng Khánh xa ghê! Cầu Phú Cam đưa đón lối đi về. Chuông xóm đạo tràn trề ơn thánh Đá.

            Ơi Chút Tí Cu Tèo ở đường Xóm Nam gần lầu ông Bửu trước mặt nhà thờ cho ta hỏi thăm một chút: Rứa chơ hai cái cây thầu đâu ở đầu cửa ngỏ nhà cụ mi trước tê hàng năm cứ ra hoa thơm lựng, vẫn thường mang một màu tím than thống hối mỗi độ xuân về, bây chừ có c̣n ra hoa không hỉ?

 

Thân Trọng Tuấn

California Thu 2003

 

 

 

 

Thơ Văn

art2all.net