|
THƯƠNG NHỚ CỔ BI
Kính dâng Ông bà Nội và đại gia đình Thân Trọng Tuấn
Thăm trại An Cổ Một chút chi để nhớ, để khơi dòng, để trở về thăm chút không gian xưa cũ tan loãng gần năm chục năm nay. Nhớ chi hè? Bụi cây, đường đất. Bông cỏ may điểm tím tuổi hồng. Cây dừa xiêm trơ trọi giữa đồng, miễu Ông Cọp bụi lùm dày đặc. Nhớ những mẫu vụn vặt của chuyện ngày xưa. Mỗi thứ một ít, nhớ hết lại nhớ thêm. Nhớ thương quanh quẩn. Nhớ một chút xưa xưa ở mô dưới nớ. Nhớ vài điều cũ cũ cợ chặng trên ni. Rất dịu. Rất êm. Căn nhà lầu hai tầng lợp ngói đỏ quét vôi trắng toát, bao quanh hoa hồng đủ loại. Dãy nhà ngang lặng lẽ, cái sân gạch hiền hòa. Mấy ràng trâu ngoài góc xa xa. Rơm từng đụn, củi từng chồ ăm ắp. Trại rộng thênh thang, cây xanh tươi mát. Mít, chè, cam, chuối: thẳng lối ngay hàng! Ơi xứ Cổ Bi! Tuy hơi lộn xộn nhưng triền miên nỗi nhớ. Nhớ mảng nắng quái tròng trành sau độn. Nhớ cụm mây buồn lửng đững trên non. Gió núi sấy đen da, khô môi, nhám mặt. Trời thật trong, và lạnh cũng thật trong! Sương buổi sáng kéo bầu trời xuống thấp. Sương lùa từng đợt. Gió thốc vù vù. Đến nửa trưa đứng bóng, mặt trời dọi chói chan, nắng đến độ tưởng chừng nẻ đầu quắn tóc. Lúc giao mùa từ hạ sang thu, thời tiết chuyển vần đổi thay thiệt rõ ràng năm ngày ba tật. Cũng mưa buồn thúi đất. Cũng mưa tắt mất mặt trời. Sấm sét liên hồi. Cơn mưa ngàn ồ ạt mờ trời tối đất. Trùn Cổ Bi ngập nước trồi lên. Màu tím da lươn, vòng khoang cổ trắng. Don thì bằng chiếc đũa, nậy cũng cợ mô chừng chị chị em em như con rắn học trò! Bò thôi lổn nhổn, nằm la liệt đầy đường chật sá. Mấy trự địa long nổi tiếng: Trùn Cổ Bi đuổi vịt chạy băng đồng! Vị thuốc quý trị hen suyễn kinh phong thương hàn sốt rét! (1) Miễu Ông Cọp linh thiêng, rũ buông mành cây dương liễu lơ thơ. Cho dẫu có gan góc tàng trời cũng phải né tránh thiệt xa. Xớ rớ lỡ gặp “huông” liền bị “ôn” cho một cọng râu là rồi đời mốt trọ, sau đó mặc dù cả họ có đến năn nỉ van xin “ôn” cũng không tha. Mấy đứa chự trâu không may đạp róm, bàn chân sưng vù xây tổ đỉa nhức đau. Sức nóng lưỡi cày thổ róm trục râu, đau chết ngất thiệt thương tâm biết mấy. (2)
Bến đò quan Thượng Nắng Cổ Bi nhiều khi mong manh trông còn lỏng hơn hớp nước chè quết sót lại cuối ngày. Trong chập chùng, càng nhìn nắng càng chạy thiệt xa. Sự hoang vu bao trùm lấy mấy bụi tre oằn lên màu xám khói, rã rời mệt mỏi hết muốn đong đưa réo rắt nước sông Bồ trong vùng Tân Sơn vắng lặng. Nắng vàng rất trong phai màu trắng lạnh. Nắng lang thang như có chút duyên còm với lũ đá cuội đỏ nâu nằm tênh hênh dưới mấy cây sim mỡ trên sườn đồi Mâm Sỏi. Xuân ở đất Cổ Bi thật hồng vì muôn triệu cánh hoa Mua đua chen táo bạo. Hạ tím than ấp e bẽn lẽn chùm hoa Sim bên lớp lá đậm màu. Trong hoang dã, tùy theo mùa mà hai loại Sim, Mua trải màu hoa dưới nắng gió rung rinh theo mấy sườn đồi thoai thoải. Người hiếu động không ưa nhìn hoa dại. Kẻ thừa nhàn thong thả chút phù du nên cho dù một chút ti hoa lá cũng trở thành vướng vít bộn bề. Cây trên rú trông xa nên thấy thấp, dọc theo truông lau sậy mọc lao xao. Sát bờ sông, tre nứa kín hàng rào. Trên bến nhỏ, chiếc tròng ngao lặng lẽ. Cái cầu tre xinh xắn, quấn đơn sơ nhưng ngay ngắn mấy nuộc mây. Cây cọc khẳng khiu, thẳng thớm gắn hai hàng lan can láng mướt. Từ dưới thuyền đi lên trên bến, mấy bước chân thong thả qua cầu. Trong đám rong xanh, đàn cá cấn cá bầu bơi lượn. Bến đò Quan Thượng. Suốt cả ngày chỉ đậu mỗi một chiếc tròng ngao. Thuyền có mui che cả trước cả sau. Chiếu bông nẹp vải, gối mây gối dựa. Chiếc sập không chân nhỏ vừa một người nằm kê ngang ở ngoài khoang trước. Sập tuy nhỏ nhưng cũng có hai cánh cửa kéo hai đầu gắn quai cầm bằng đồng sáng giới. Ống điếu thuốc trà, chiếc đèn dầu phụng và bó đóm tre xếp sát tầm tay. Khoang sau là chỗ của phu trạo và lương thực nọ kia các thứ. Sau cùng là cái bếp lò siêu nồi ấm chén và cái siểng đọi gỗ mun. Tuy là chiếc tròng hình con ngao nhưng vẫn gọi là thuyền. Ba người phu tên Đạt, Xáng, Trì luôn luôn túc trực. Chú Đạt chèo lái, chú Xáng chèo đốc, chú Trì là hỏa đầu quân! Khi rảnh việc các chú thay phiên chia bài hầu kiệu! Hàng vạn hàng văn, ông Thang ông Vũ, ông chi chi cũng đủ thứ chi chi. Cổ tài bàn cũ cũ, tách trà mới thơm thơm, viên kẹo cau ngọt thanh hương vị. Quan Thượng thong dong vui thú núi sông. Nghĩ lại thử coi: Bến An Cổ của quan Thượng sang hơn bến Phong Kiều của Trương Kế. Dùng thuyền văn, nương gió bắc, qua tuốt bên Tàu: thấy bến Phong Kiều sóng vỗ phập phềnh, bệ đá tảng ngả nghiêng loạn thạch. Tên là Phong Kiều nhưng cầu toàn bằng gạch đá nặng nề, chẳng có lấy một sớ gỗ phong gỗ gió. Bến ồn ào phàm tục có treo chuông chia bãi hẳn hòi. Thuyền khách, thuyền buôn, thuyền câu, thuyền sách, tụ hội ngoài thành Cô Tô gần chùa Hàn Sơn nhỏ bé. Con sông đào dài nhất Trung Quốc nối Bắc Kinh và Giang Châu mang tên là Đại Vận Hà tưởng là dài rộng theo như tên, nhưng thật ra bề rộng còn nhỏ hơn con sông Đông Ba, nước lại đục ngầu ô nhiễm không thể tưởng. Đại Vận Hà dùng để chở lúa gạo, đào dưới đời nhà Tùy trước khi có Trương Kế. Hàn Giang cũng tưởng đâu nước sâu sóng lớn chạy ngang thành Cô Tô danh tiếng, ai ngờ sông Hàn còn nhỏ hơn cả con sông đào An Cựu nắng đục mưa trong! Mấy con kênh và các rảnh nước như bàn cờ trước thành Cô Tô có một loại cá như cá mương nhưng không nổi trên mặt nước, là món lợi của các ngư ông thuộc kẻ vạn Hàn Giang! Bên ni xứ Tân Sơn gọi theo tiếng An Nam là Núi Mới cho dù rằng núi đã cũ ngàn đời: Bến An Cổ chim hót thay chuông, trúc xanh muôn thuở thay thế cho phong đỏ phong vàng đổi dời theo tứ thời bát tiết. Chiếc tròng ngao lườn đan tre cật trát nhựa chai bền nhẹ an toàn hơn lườn gỗ niệt đinh, tương tự như chiếc ghe bầu đi buôn sông buôn biển. Khi sắm chiếc thuyền, quan Thượng cũng cho đóng thêm một chiếc mẫu tỉ tỉ dài khoảng nửa thước tây giống hệt chiếc tròng ngao thu nhỏ để vừa quán tưởng vừa làm món đồ chơi. Mấy vỏ ốc xà cừ, cửu khổng kêu lanh canh theo gió nhẹ trước mui. Đêm không trăng, bến An Cổ túi thui, trong bụi duối có con chim đỏ mắt. Nỏ cần Phong Kiều Dạ Bạc với Nhật Bạc mần chi cho lôi thôi kiểu cách, bến tiêu sơ tre trúc thầm thì lời giản dị hồn nhiên của sông của núi. Có sao nói vậy, ai hơi mô chơi chữ ví von. Nếu như nói chuyện con chim đậu trong bụi duối bên sông nhìn ra bến nước, cặp mắt chim bắt ánh đèn đỏ rực thì bảo rằng “con chim đỏ mắt”, bắn hạ đem về ướp sả vằm, chiên lên nghe thơm lựng thiệt ngon. Còn chuyện ông Trương Kế thời xưa, vì xa nhà và phải lo việc quan kiểm kê hàng hóa trên bến nước ồn ào không ngủ được, làm bài thơ tạo nhiều cảm xúc khác nhau. Có người thưởng ngoạn hứng quá, diễn tả ra ngoài ý muốn của tác giả, thêm thắt nọ kia trái hẳn ý thơ. Ngay đề tựa “Phong Kiều Dạ Bạc” là sau này người ta đặt giùm, chứ tác giả bài thơ cũng không hề hay biết. Trương Kế tiên sinh nằm trên thuyền trong đêm khuya thao thức có thể là chuyện có thật, chứ chiếc cầu Phong dịch từ hai chữ Phong Kiều không biết ở nơi mô? Câu hỏi trớ trêu, thôi thì cứ gọi đại là Bến Phong Kiều cho tiện. Không cầu thì bến, sông nước gắn liền hai thứ rất chị em! Hai bên bờ sông Hàn, nội trong tầm mắt quanh bến Cô Tô chắc chi đã có cây phong cho dù Trương Kế có viết rõ mấy chữ “giang phong ngư hỏa”. Câu chuyện đơn giản, khi không lại bày đặt giải thích theo lối suy diễn quá đáng thành ra sai lạc vô cùng. Chi bằng như trong buổi mát trời của một chiều thu trong vùng An Cổ trại, ngồi ghe nan, chèo vô hói ông Đàm câu cá. Nghệ nhân cần phải có chút tay nghề: Biết cách móc mồi và cách giật cần câu đủ kiểu. Cá ăn mím, đội phao nằm ngang là cá diếc, thì phải giật nhẹ hay là “Giở” xong lựa chiều đưa lần cá vào bờ. Kéo mạnh tay, rách mép sẩy mất cá còn chi. Loại cá rô, cá bống, cắn câu kéo phao mấp mô nổi lên chìm xuống thì “Giựt” theo cách bình thường. Nếu cá kéo phao phăng phăng chìm lỉm thường là cá trê, cá phác lác nên phải “Trặc” tức giật mạnh tay, nhiều khi trặc một phát, cá văng tuốt lên bờ. Câu giá diếc thì có cám rang, bùn non và trùn huyết; câu cá rô cá bống thì lấy trùn thường làm mồi câu; câu cá trê thì trùn nước và phải dùng cào quậy bùn chỗ muốn buông câu; câu cá phác lác phải dùng mồi bằng con chàng mày tức là con bà mụ, sống dưới nước, trước khi hóa thành con chuồn chuồn. Chuyện chỉ có vậy. Thiệt dễ nhớ và cũng thiệt dễ thương, tụi con nít nhỏ tí ti đứa mô cũng biết. Ai hơi đâu làm chuyện lục lác xách cần câu ống móc con nhái cơm đi câu mấy con cá mương cho rộn chuyện. Còn chuyện bên Tàu, thời ông Trương Kế cách nay hơn một ngàn hai trăm năm, khúc sông Hàn trước thành Cô Tô, ngư phủ săn cá vào ban đêm với đèn nhựa chai và chim cốc đế. Không dùng lưỡi câu, mắt lưới, mồi, nhữ nọ kia. Một chiếc vòng tre đan tròng ngang qua cổ chim cột theo sợi dây vừa để giữ chim khỏi lạc sang thuyền khác, vừa chận họng không cho chim nuốt cá. Dưới ánh sáng cây đèn, đàn cá bu lại, chim lặn xuống nước bắt cá. Ngư phủ kéo chim lên thuyền, một tay bóp họng chim một tay cầm lấy đuôi cá kéo ngược trở ra. Ui cha, phải chăng từ hình ảnh này mới nẩy sinh ra danh từ nôm na bóp hầu chặn họng, ăn cướp cơm chim? Bốn chữ Giang phong ngư hỏa mà dịch là “trên bờ có những cây phong, dưới sông mấy ngọn đèn chong kẻ chài ” ngâm ông ổng ba bốn mươi năm nay, bây chừ nghĩ lại thấy thiệt là sai. Tản Đà dịch là “lửa chài soi bóng” vẫn chưa hết ý vì sự hạn chế của câu thơ lục bát. Nạn tam sao thất bổn, sách Song Kiều của Lê Anh Minh mới xuất bản tại Việt nam ghi “lửa chài cây bến”. Nguyên nghĩa chữ Giang Phong là cây phong mọc ven sông. Hồ Phong là cây phong mọc bên bờ hồ. Sơn Phong là cây phong mọc trên núi. Tiền Đình Phong là cây phong mọc trước sân. Hậu Viên Phong là cây phong mọc sau vườn. Ý nghĩa chữ Phong trong câu thơ đã quá rõ ràng, nhưng có lẽ phải hiểu theo nghĩa khác. Nửa khuya, trăng mờ, sương giăng đầy trời là điều ai cũng nhìn thấy. Còn cây phong, cứ nhìn thử xem, dáng thì có dáng mù mờ, nhưng màu sắc thì đen thẩm cũng giống như phần lớn các cây khác trong bóng đêm. Càng lớn tuổi, càng thức dậy sớm. Có khi ba giờ sáng đã dậy uống trà. Giờ này, gặp khi trăng vừa lặn, sương phủ đầy trời, thử khoác áo ấm, không cần đèn, âm thầm ra vườn nhìn ngắm cây phong thì sẽ bị cụt hứng! (Ngay như tại quận Cam, đại lộ Edinger ngang khúc công viên Mile Square, giữa hai con đường Ward và Brookhurst lúc nửa đêm thu, cây phong lá đỏ lá vàng trông đen thui cũng giống như cây thông lá xanh một thứ!) Ban đêm, ba thứ: ánh trăng tàn, màn sương bạc và tiếng quạ kêu trong đêm đã quá đủ, thêm cây phong vào thành thừa thải vì không nhìn thấy màu sắc vàng hay đỏ của lá phong! Thừa thải hay mơ hồ là điều tối kỵ trong thơ Đường! Chữ Giang Phong trong bài thơ nên hiểu theo nghĩa khác. Chữ phong trong bài thơ ấn chứng ý niệm về màu sắc rực rỡ của lá phong vào mùa thu như ánh lửa. Lửa đèn nhữ cá trên sông rực rỡ sống động như một dòng sông lá phong. Giang phong ngư hỏa phải gom về một ý. Có như vậy mới đối với giấc ngủ buồn phiền vì ý niệm đối với ý niệm. Lúc nửa khuya, trăng tàn, quạ khóc. Dân Cô Tô chắc đã ngủ say. Dưới sông ánh lửa kẻ chài. Trên bờ tối mịt ai người thấy phong? Hàn giang nước chảy xuôi dòng. Trương Kế thao thức, nhưng chắc chi ông ta đã làm thơ trong lúc này. Người ta đồn rằng Trương Kế chỉ làm được ba câu rồi bí! Đến nửa đêm, nghe tiếng chuông trên chùa Hàn sơn vọng về mới làm tiếp câu cuối: “Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.” (3) Chuông chùa thường đánh vào buổi sáng và buổi tối tức là triêu và mộ. Chuông Thiên Mụ thường “rung” từ tám giờ tối. Buổi sáng ít nghe rung (4). Tiếng trống cầm canh do nhà chức trách lo hàng đêm, có thể nhìn theo hướng chuyển của ngọn lá dâu tằm mà xác định thì giờ(5). Chuông chùa Hàn Sơn dộng lúc nửa đêm về sáng, vọng đến tai của thi nhân Trương Kế đang trằn trọc không yên trên bến nước phập phòng. Thiền gia có thể cho đây là tiếng chuông vô âm vang lừng vọng đến, thức tỉnh cảnh đời đang bị quấy rầy vì tiếng quạ giữa đêm khuya, cuộc sống vất vả tràn đầy săn bắt, cướp giựt, khổ, chấp, nghiệp chướng, luân hồi, thất tình, lục dục, sinh tử, sân si, v.v. Hay thì thiệt hay nhưng bài thơ không thay thế được đọi trà bào ảnh, uống một nghỉn thiệt là sướng khoái bất tử, thư thới từ trước ngực vòng ra tuốt sau lưng! Mà ri nì, hỏi thử chút chơi cho biết, rứa chơ có khi mô nhà eng hay mụ mự được uống thứ trà bào ảnh ni chưa? Uống nước trà gió qua văn thư sách vở hay nghe lời kể chuyện thì mần răng bằng uống nước trà thiệt để sau khi uống xong, cho dẫu hương vị chan chát ngòn ngọt chưa tan hết trong miệng, đã có được cái say nghèn nghẹn hơi khó chịu ở lồng ngực nhưng đầu óc tay chân thông khiếu đã củ tỉ vô cùng. Chuyện ít ai nói ra, nhưng rõ ràng là sướng toát mồ hôi! Có điều, vừa ngồi câu cá, vừa uống đọi nước chè bọt thấy không hợp tình hợp cảnh. Ông ngự ra câu thì nên mang theo bầu rượu chén con cho dễ sắp xếp. Nhắp tí rượu xong nhìn khói sóng xây thành! Nhưng mà nì, liệu có biết uống rượu hay không? Biết uống mới nhìn thấy khói của sóng, còn không biết uống say rớt xuống nước sẽ mất hết vui. Có lẽ Trương Kế thiếu ba chén rượu (bán dạ tam bôi tửu) nên phiền toái không ngủ được trên bến lạnh Cô Tô. Cái xứ chi mô mà núi sông đều lạnh giá nên có tên là Hàn Sơn và Hàn Giang. Bên ni cái con sông Bái Đáp của người ta nước trong veo mát rượi, thi nhân thường ngủ quên khiến nàng thơ đơn lẻ theo sương mù vào núi tắm suối tiên một mình một chắc, để mặc cho thi nhân khi thức giấc ôm vần thơ trinh nguyên như gốc gỗ trầm còn cả lá cả cành tươi. ... Năm ngoái ở phố pháo đì dùng Năm nay ở trại vắng như không! Lấy gì cho trẻ: Xu nửa hai đồng, Lấy gì đãi khách: Trà rượu sơ sịa không người nào không!... (Tết ở Trại) (6)
Sông Bồ là tên gọi tắt từ Thạch Xương Bồ giang, loài cỏ thơm mọc bên bờ nước cạn, tỏa hương thơm xuống dòng nước trong xanh. Bồ giang là con sông có nhiều cỏ bồ. Lại còn tên Bái Đáp (7), vài trăm năm trước kia trên sông Bồ có nhiều loại Tấy tức là con rái cá, lớn nhỏ khác nhau. Có loài rái cá loại lớn, gặp người cắc cớ, chắp tay chào rái, tự nhiên rái thường hay lạy trả, do đó sông mới có biệt danh. Khi quân Trịnh kéo vào, quân của chúa Nguyễn dàn trận lớn ở đây. Ngày nay mấy ai còn biết chuyện? Bây chừ chỉ có vài khúc tre trên bợt đò quan Thượng mà cũng gây xúc cảm nhớ thương, trôi bềnh bồng qua tuốt bên Tàu, lục lạo thi tứ của người ta thiệt cũng lạ đời. Ra thăm Cổ Bi, đi bằng xe, đến bằng thuyền, thiệt là chuyện nhớ chuyện thương không hề câu nệ. Thương nhớ là tình, cho nên thiếu lý. Người ta chỉ cãi lý, không ai cãi tình. Hoài niệm về Cổ Bi: Cấm cãi. Chút bâng khuâng nhớ lại thuở xa xưa!
Ấp mới An Cổ Quan Thượng đậu Phó Bảng triều Thành Thái. Lúc giữ chức Bố Chánh Sứ tỉnh Quảng Trị cho chuyển ngữ cuốn Gia Phổ họ Thân từ Hán Văn ra chữ Việt gốc La Tinh và viết tiếp. Làm quan đến chức Tham Tri bộ Hình. Khi về hưu thăng hàm Lễ Bộ Thượng Thư. Vua cho phép khẩn thêm đất xứ ông Đàm thuộc xã Cổ Bi lập An Cổ Trại an hưởng tuổi già. Từ nhà thờ nhánh ở Nguyệt Biều, xuôi theo sông Hương, ra phá Tam Giang, ngược dòng sông Bồ đến nhà thờ họ Thân ở An Lỗ. Bến Song Ngư là tên đặt trong nhà. Cụ Tú họ Nguyễn có hai người con gái là Ngư Chị và Ngư Em mới chừng tám chín tuổi. Trưa hè nóng bức, hai cô rủ nhau xuống bến sông tắm miếng! Bì bõm bơi quanh, thuyền quan Thượng đang đậu hơi tròng trành, Bến Song Ngư có tên từ đấy. Tiếp tục ngược dòng, qua khe Hiền Sĩ đến xã Cổ Bi. Quan Thượng lập ấp mới, đặt tên là ấp An Cổ lấy từ hai tên An Lỗ và Cổ Bi. Ấp An Cổ có cái hói nhỏ, gọi là hói Ông Đàm, vòng quanh trái núi con gọi là đồi Mâm Sỏi. Đất núi có nhiều than bùn non và đá cuội mềm. Từ trên đồi, nhìn xuống biền tre dọc bờ sông Bồ, băng qua bên kia là làng Bường mịt mù hiu hắt. Có một bàu nhỏ thông với sông Cổ Bi, quan Thượng cho thả sen, mang luôn tên là Bàu Sen. Quanh bờ, tre giang và lau lách mọc dày đặc. Dã thú như hươu, nai, chồn, mễn, nhím, heo rừng, tây u (một loại bò rừng), lang (chó rừng), khỉ, vượn, cọp, v.v. Loại bò sát như trăn nước, trăn gió, rắn hổ mang, kỳ đà vô số. Đủ các loại chim rừng từ công trĩ đến gà tre, chim bông lau, chim sâu sâu lách chách. Dưới nước có cá rô, cá trê, cá diếc, cá gáy, cá chình, cá dét, lươn, chạch, tép, tôm v.v. Có một năm mưa lụt thật to, nước dâng bao quanh chân núi. Các dã thú kéo lên cao tránh lụt. Hươu nai cọp sói trong cơn hoạn nạn chia nhau quả núi trông rất hòa bình! Thời tiết thì mùa hè nắng nồng, nhiều gió Lào cháy tóc. Mùa đông mát lạnh, mưa dầm, sương móc mịt mù. Các loại cây như cam, chè, mít có thể tạm trồng. Thanh trà, thơm, chuối không không mấy thích hợp. Nhãn, vải, tranh, tre cũng trồng được. Ruộng chiên và ruộng mùa. Bắp, đậu các thứ. Thổ sản như cây Kè, cây Chằm Tơi, cây Lá Nón thuộc họ nhà Cọ đa dụng trong việc chằm áo tơi để dùng khi trời mưa, hay chằm nón. Mấy thứ sim, móc, ổi rừng, hột xoay, hột muồng trâu tràn đìa khắp lối. Than bùn trên núi, gặp lúc kẹt củi, dùng tạm để nấu cũng chín nồi cơm.
Những chuyện khó quên Quan Thượng có mười sáu người con gồm tám cậu và tám cô. Lúc quan về hưu thì người con trai trưởng đã là Đốc học kiêm giáo sư dạy Toán và người con trai út đang lo bằng Sơ Học Yếu Lược. Người con trai thứ năm của quan Thượng cũng yêu thích thú điền viên, tục gọi là Cậu Ấm Năm, có tài ghép trồng cam xã Đoài vỏ dày múi vàng tươi ngọt lịm. Cậu có một sở cam ở ấp An Cổ. Cậu trồng để vui chơi, không cầu lợi. Vườn cam của cậu có trổ cửa thật lớn. Hàng năm đến mùa cam chín, cậu cho rao, hẹn ngày bán cả vườn. Người muốn mua cam phải là thiếu nữ đẹp, chưa chồng và quán xuyến đảm đang. Ai cũng nghĩ là cậu bày trò kén vợ. Cam chín đỏ nọc, khách mua xếp thúng ngồi chờ chật cả hai bên đường. Cậu đi hỏi lý lịch từng người xong xét thúng gióng và đòn gánh. Ai cũng bị cậu đánh hỏng hoặc vì gióng không đủ dai, thúng không đủ chắc, đòn gánh không đủ sức và nhất là người mua không đủ tiêu chuẩn để gánh cam. Sau ba ngày không bán được, cậu giao cho quản điền xong bỏ đi chơi xa! Năm nào cũng vậy, cậu có được ba ngày vui chuyện bán cam! Người mua cam trì chí, ngày thứ tư ai cũng có phần, giá lại rẻ vì dài công chờ đợi. Cậu ấm Mười Ba lại khác. Cậu cũng thích trồng cây lập trại, nhưng rất thực tế, không đàn địch vui chơi như cậu Ấm Năm. Trại của cậu Ấm Mười Ba không trổ cổng. Quanh trại trồng các loại cây làm hàng rào như trúc, căng và cây móc mèo gai cong dày đặc. Người của cậu Ấm Mười Ba theo tiêu chuẩn “Ngày làm vườn, đêm luyện võ”. Để luyện tập, thay vì trổ cửa ngõ trang trại, cậu cho trồng hàng rào cao ngang ngực. Khi muốn vô ra phải “cóc” thiệt cao. Nhảy vô nhảy ra, cấm không được dụng hàng rào, nếu đụng phải, ngày hôm đó sẽ bị cúp phần đường và thuốc lá. Chân hàng rào, có khoét một lỗ nhỏ cho chó chui qua. Những ai không muốn nhảy hàng rào, thì cứ tự nhiên chui lổ chó! Trại của các cậu chỉ là chỗ trồng cây, nuôi gà, nuôi heo. Nơi ăn chốn ở của các cậu thuộc một khu riêng, gồm cái nhà lầu hai tầng và dãy nhà ngang. Nhân viên của các cậu ấm đều có đất có nhà riêng biệt, quanh gian nhà chính. Bà Thượng Cả ở Nguyệt Biều với người con gái trưởng, cùng nhau nuôi tằm và buôn cau khô vô cùng bận rộn. Bà Thượng Hai mất sớm. Bà Thượng Ba theo quan Thượng ra Cổ Bi. Bà Thượng Ba là em ruột của bà Thượng Cả. Các cậu ấm, cô chiêu chỉ về chơi trong dịp nghỉ hè. Trang trại nhộn nhịp cả lên. Các cậu, các cô khi về An Cổ trại, thường đem thêm vài người bạn. Càng đông, càng vui. Cô út học trường đầm, về chơi đi đâu cũng cỡi ngựa đỏ có người cầm cương. Mùa hè thường là lúc thâu hoa lợi. Mùi rơm tươi, mùi lúa phơi mới vừa khén hừng hực nồng nàn chưa kịp đổ vô bồ. Mùi cây mè ngai ngái mới gánh về chưa ỉu. Mùi bó đậu xanh đậu đỏ nhất là những bó đậu phụng nhung nhúc lủng lẳng những hột tươi mềm vị thơm ngọt như sâm. Mùi mít chín thơm lừng oang oang tiếng quạ. Bắp nếp bắp lòn hột trắng hột vàng quăn xoắn râu ngô. Chuối lau chè lá gánh nọ gánh kia. Khoai sắn Cổ Bi củ trân củ bở, xắt lát phơi khô để phòng khi đói kém mất mùa. Ấp An Cổ vẫn gọi là sở, là trại. Chỉ có cậu Ấm Năm và cậu Út chưa tập ấm ở tại sở thường trực với quan Thượng. Về sau, cậu Ấm Cả dạy trường Quốc Học, qua Nguyễn Tri Phương rồi sau khi về hưu thành lập trường Hàm Long trên chùa Báo Quốc. Cậu Ấm Hai và cậu Ấm Ba sống đời công chức. Cậu Ấm Năm lấy vợ xong ra lập nghiệp ở Thanh Hóa. Cậu Ấm Bảy làm xếp ga xe lửa, sau là Chủ sự phòng Thông Tin Huế. Cậu Ấm Mười Ba đi tập kết. Cậu Ấm Mười Bốn đi Tây. Cậu Mười Sáu thủ từ. Trước khi hồi cư 1947, An Cổ Trại bị hủy vì lệnh tiêu thổ kháng chiến. Cũng may là quan Thượng qua đời trước khi quốc biến nên không thấy cảnh tượng tang thương đau lòng dành cho An Cổ Trại thân thương.
Sập hầm heo rừng Thời gian ở trại, quan Thượng có rất ít cháu ngoại, trái lại cháu nội thì đông, nhất là cháu nội trai, đủ mọi trang lứa. Từ mấy eng nậy nậy xuống mấy cậu tỉ tỉ. Có cô thắt bím mặc áo đầm nhưng lại là cái thằng vì ba mạ không có con gái, bắt cải trang nơ bím đầm đìa một chút cho nó đỡ thèm! Đậu và đường coi như món chính vì lũ trẻ ăn chè suốt ngày. Ban ngày chơi đùa ở đâu tùy ý. Ăn trưa xong phải ngủ một giấc rõ ràng. Thức dậy, sẵn chén chè, thêm trái chuối có khi biểu cầm nguyên cả nải đi chơi. Tối lại, sau khi ăn xong, tụi con nít lo diễn trò đóng kịch để người lớn xem. Theo tinh thần lớn trị bé, đùm bọc và đoàn kết, nên lúc nào cũng chơi chung một đám. Người lớn nhất đám cầm đầu nêu gương và chịu trách nhiệm. Tuổi niên thiếu tuy nghịch ngợm phá phách nhưng trong tinh thần vô tư thánh thiện. Tinh quái có giới hạn thành thử gây nên rất nhiều kỷ niệm thật dễ thương không bao giờ quên. Nhiều khi ngồi nhớ lại mà bồi hồi muốn khóc. Ôi xã Cổ Bi! Ơi An Cổ trại! Chẳng có chi nhiều bằng mấy luống khoai vồn sắn bị heo rừng ủi nát đêm qua. Nhìn ông Cả Dĩnh, người lính hầu còn sót lại của quan Thượng, có tài đâm heo rừng nổi tiếng mang biệt danh “phát một”, luôn tay cầm khăn quàng cổ may bằng thứ vải to, thấm mồ hôi để che dấu sự thương tiếc mấy luống đất bị ủi trồi gốc rễ “Thiệt là dệ két! Thiệt là dệ két! Trình quan cho đào thêm vài hầm trập đi thôi!” Lạ chưa tề, sợ cọp, người ta gọi là ông ba mươi, hay ôn trên núi, gọi tắt là ôn. Còn như mấy con heo rừng, theo như cách nhắc nhỡ thì có vẻ kiêng khem hơn cả cọp, chỉ dám gọi trống không. Dễ ghét nói nặng thành dệ két, sập nói thành trập. Những sợ nói rõ ra heo rừng nghe được ắt chuyện mưu tính trị heo sẽ không thành. Trong đêm tối, đàn heo rừng về phá rẫy. Chúng ủi phá vài thước, mới ăn một củ khoai hay miếng sắn, còn bao nhiêu không động đến, tiếp tục ủi thêm. Chẳng thà heo ủi bao nhiêu ăn bấy nhiêu thì còn ít bực, đàng này đào bày ngổn ngang cả trăm củ mới ăn một củ, lại bỏ mứa dở dang, thấy mới tức lộn ruột. Hầm sập heo rừng thường đào trên lối heo vẫn hay đi. Rộng và sâu khoảng một mét rưỡi, dài ba hay bốn mét. Đào rất tốn công, nhất là việc gánh đất mới đào đi đổ cho xa. Đào xong, gác cây, xếp mành mành, phủ lá rồi rải đất ngụy trang như không có hố. Cẩn thận hơn nữa, dọc theo lối heo hay chạy về, dùng dây chìu chìu đánh lưới, cao khoảng một mét, càng dài càng tốt, có thể hàng trăm mét. Cuối hàng rào để chướng ngại vật như khúc cây khô, mấy hòn đá lớn; liền sau chướng ngại vật căng một cái lưới mây thật chắc, mỗi bề rộng khoảng hai thước tây. Lưới căng bốn góc trên bốn cọc tre rất to chôn thiệt sâu, và mặt lưới cách mặt đất khoảng nửa thước tây. Khi phác giác heo rừng kéo về phá rẫy, người ta làm ầm lên như gỏ mỏ, đánh phèng la cho heo sợ, sẽ chạy dọc theo hàng rào dây chìu, đến chổ chướng ngại vật thì cần phải rượt đuổi thật gấp để heo vội phóng băng qua sẽ lọt vào lưới, nếu không heo sẽ rẻ sang hướng khác thoát ra ngoài. Heo mắc lưới, nhùng nhằng phải dùng mác lào hay mác lồ ô mà xuyên tâm ngay trước khi heo cắn rách lưới, nổi hung quày trở lại rất nguy hiểm. Còn heo bầy sập hố, có khi sập cả đàn. Thường là hầm cũ, hết mùi, mất dấu, hoặc là bầy heo vì lý do nào đó chạy càn sa xuống, chứ heo rừng vô cùng tinh khôn, ít khi sa hố. Khi heo sa hố, người đứng trên bờ chọc cho heo giận ngẩng đầu lên xong dùng mác lồ ồ xỉa vào nách trái xuyên tâm để hạ. Có kẻ không vững, heo quẫy, thất thế sa xuống hầm, heo xúm lại tấn công, nếu kéo lên không kịp có khi rồi đời tánh mạng. Ông Cả Dĩnh biệt tài “phát một” lụi heo rừng không thọc đến hai lần. Heo rừng màu đen, lông thô, trông có vẻ xơ xác, gầy mảnh. Tiếng kêu eng éc, hực hực náo loạn chứ không hiền lành ủn ỉn như heo nhà. Phải đâm cho chết hẳn mới nhặt xác vì nhiều khi chúng tinh khôn giả đò nằm bất động, láo liên đôi mắt lợn lòi, bất thần vùng dậy tất công thì thiệt hết nước đỡ. Heo rừng con khi còn bú sữa có hai sọc trắng dọc theo hai bên sống lưng. Tuy là heo sữa nhưng cũng thiệt là đại hung dữ cách chi! Lớ quớ heo táp cho một cái là rồi đời mấy ngón tay táy máy thò què thọt quẹt. Muốn bắt sống heo rừng con từ dưới hầm phải dùng cái rọ. Xúc heo con về nuôi thử, càng ngày trông càng nhỏ hẳn đi, và không sống được lâu. Thịt heo rừng không có mỡ, mềm ngon. Ướp nước mắm tiêu hành mè sả thêm chút mật mía, nướng trên than ăn ngon nhứt hạng! Nanh heo rừng cho con nít đeo cổ để trừ tà. Tủy heo rừng được cho là bổ chẳng kém lộc nhung! Heo lăn chai, tục gọi là con heo một, lâu lâu cũng xuất hiện. Mỗi lần như vậy, đã có cậu Ấm Năm. Khẩu súng săn gởi mua tận bên Tây, kèm đèn dọi, máy làm đạn, cân tiểu ly, hột nổ, chì, thuốc súng. Thứ heo một về rẫy rất âm thầm, không như heo bầy kêu la eng éc, chạy một hàng như nhật bản động binh. Thủng thẳng từng đêm, con heo một quầy chơi một mảng. Ban ngày ban mặt, heo rúc ngủ bụi lùm. Dấu chân to tổ chảng, ấn rất đều trên đất xốp đỏ nâu. Không vội vàng, heo một đủng đỉnh lựa từng bụi khoai gốc sắn rồi mới ủi, khác hẵn heo bầy cuống quýt tạp phá tạp ăn. Tuy bị cận thị, nhưng mũi heo rất thính, nên thợ săn rất khó lại gần. Hai bên hông lớp nhựa chai dày cộm, súng đạn thường bắn chẳng ăn thua. Phải đối diện mới may ra hạ được vì phần ngực của con heo rất ít nhựa chai. Heo một tinh khôn, không bao giờ bị sa hầm, sập bẫy, lại có tài lẩn trốn như giỏi phép tàng hình. Rõ ràng là thấy lủi vô bụi một cái ào, rồi biến mất tìm hoài không chộ. Nhờ vết máu, thợ săn lần theo dấu. Cẩn thận vô cùng, vì beo cọp cũng không nguy hiểm cho bằng con heo một, nhất là sau khi đã bị thương. Mấy con chó săn có khi bị heo một “hột” cho mấy tiếng, sợ cúp đuôi rên ăng ẳng chạy thụt lui. Trúng đạn, lủi vô bụi nằm im re, heo thà chết chứ ít khi chịu rời chỗ núp. Cậu Ấm Năm thiện nghệ, có khi bắn trúng heo một ngang lưng chừng đồi, nhưng cậu lại xuống bờ suối chờ heo nạp mạng.
Chuyện cậu Ấm Năm Cậu ấm là con trai thứ năm của quan Thượng. Chiếu theo lệ con quan nên được tập ấm. Hơn thế nữa, cậu được sắc phong “Hàn Lâm Viện Đãi Chiếu” nhưng không thích gọi là “Quan Hàn”. Cậu học trường Pellerin, xong có học thuốc. Năm người con của cậu do chính tay cậu đỡ lấy, cắt rốn chôn nhau bằng trách đất cho người đi mua khi vừa chuyển bụng. Tính cậu thích chơi thể thao như tập võ và đá banh lông. Trồng cây, nuôi thú, câu, săn đều giỏi tay nghề. Tiếng đàn mandoline của cậu làm đứt gánh nhiều cô. Dì Hai theo cậu cũng vì tiếng đàn trước ngõ. Tính khí cậu Ấm Năm không thích bon chen danh lợi. Không uống rượu, không hút thuốc, không bạc bài. Triều Duy Tân, Khải Định, vườn hoa hồng của cụ Đông Các Thân Trọng Huề đẹp nhất đế đô, cậu cũng có nhúng tay chút tí. Hoa trồng trong trại, giống thì do bác Ấm Cả mang về, cậu là người đứng ra chăm sóc. Có người bà con bên ngoại làm quản tượng là Hoàng trọng Nột, người Nguyệt Biều, dùng voi cái dụ voi đực một ngà ra khỏi rú Sơn Quả, cậu Ấm Năm đưa vua Bảo Đại vào săn. Thưởng chi cũng không chịu nhận, sau cậu Ấm xin vua ban cho Nột chữ Nghè thuộc hàng Tiến Sĩ, giống như ông Bô tức ông Nghè Thợ Rèn bên tê câu Gia Hôi đã vinh quy bái tổ sau một đêm hàn bóng đèn xe hơi thành công cho Ngài Ngự và đã được phong “Hàn Lâm Viện Cung Phụng”. Ông Quản Nột vốn không được đi học, một chữ bẻ đôi cũng không biết, bây chừ thăng lên thành ông Nghè Nột xênh xang, về nhà vật heo mời họ hàng làng xóm ăn mừng danh xưng “Ông Nghè”. Làng Nguyệt Biều sau này có rất nhiều Khóa, Viên, Cửu, Đội, Quyền, Nghè v.v. (Khóa Thúc, Khóa Duyện, Viên Bái, Viên Sấn, Cửu Trưng, Cửu Khiêm, Đội Tuyên, Đội Dục, Quyền Hàn, Nghè Bộc, Nghè Nột v.v. ) Ngài Ngự có chụp bức hình đứng bên con cá lưỡi kiếm khổng lồ. Cá này do cậu Ấm Năm câu, sai người treo lên để Ngài Ngự đứng bên cạnh chụp hình. Ngài Ngự thưởng cho cậu Ấm chiếc cần câu rút, về sau vì chiếc cần câu này mà cậu mang họa. Tính cậu Ấm hay đùa. Một hôm đi săn về lúc trời còn rơ rơ đất. Bắn được một con trăn gió rất lớn, cậu biểu “mấy cái thằng” hè nhau khiêng về để trước sân, xong chạy đi trốn chỗ khác. Còn một mình, cậu lấy trăn quấn khắp người rồi kêu cứu ầm lên, cả nhà ùa ra thấy cậu bị trăn quấn hoảng sợ cô cùng. Tá điền xúm lại, gở bên này, trăn quấn bên kia, lát sau cậu thản nhiên đứng dậy làm cho mọi người chưng hửng! May mà quan Thượng về Huế lãnh hưu, về sau nghe chuyện cũng cười xòa. Còn mợ Ấm Năm lúc ấy vừa mới về làm dâu, cứ cho là vì vậy mà sau này mợ bị chứng đau tim. Cậu Ấm Năm có bầy chó săn. Lại nuôi thêm một con chồn hương, tục danh là chồn Ngận. Cậu huấn luyện chó và chồn sống chung, thả chồn Ngận ra, chó xúm lại đùa giỡn. Mang chó đi săn, gặp chồn hoang bên ngoài đuổi cắn không tha!
Gà tre chồn cỏ Bàu Sen đầy lau sậy quanh bờ. Chim sâu sâu làm tổ, chim cúc cu vào ăn cắp trứng xong lại đẻ nhờ. Tội nghiệp hai vợ chồng chim sâu sâu bé tí, nuôi đứa con lộn giống ăn chẳng bao giờ biết no, có bộ lông rằn ri xấu xí lại to lò lò lớn hơn cả cái tổ chim sâu! Kêu xèng xẹc đòi ăn suốt ngày. Chợt một buổi bay đi mất dạng, cặp chim sâu kêu chinh chích đi tìm. Trẻ nhỏ thường hay thích bắt chim con trên tổ như loại chuốc miều, sẽ đá manh manh mang về nuôi nhốt trong lồng tre. Chim không sống lâu vì không biết cách chăm sóc. Người lớn cũng nuôi chim cu cườm, khướu, cưỡng. Có dịp họ cũng bắt mấy con gà rừng về nuôi để nghe nó gáy te te! Giống gà rừng lúc bình thường cũng như gà nhà: gáy, cục tác, trè cạnh, kêu trống ỏm tỏi. Khi bóng người xuất hiện thì lủi trốn vào bụi hay bay lên núp trên cành cây rất kín. Mấy chú gà con, hoặc là chui xuống lớp lá khô, hoặc chạy trốn không kịp thì cứ nhắm mắt nằm ngay đơ chẳng nhúc nhích, cho dẫu có dẫm phải cũng không cựa quậy kêu la. Đem về nuôi, cũng như mấy con heo rừng, rất chậm lớn! Khi thả ra, gà không chịu quen chuồng, làm một mạch tuốt lên trên núi như giống chim cu cườm bạc nghĩa vô tình. Đánh bẫy gà tre cũng như đánh bẫy chim cu gáy. Người mê chim cu gáy tức là con chim cu cườm, nuôi trong cái chuồng khum khum chật hẹp, vẫn thường huấn luyện con chim mồi của mình gáy nhịp một, nhịp ba khiến con chim bên ngoài thua tiếng gáy, tức khí bay đến đá, đậu lên cái lẩy cò trên đầu con chim mồi làm sập lưới... tàn đời! Người “sập cu” tùy ý sẽ nuôi hay hầm chim vừa bắt được với đậu xanh thêm tí nếp cho đủ vị dẻo bùi! Đánh bẫy gà rừng, gọi tắt là “đánh gà” cũng tương tự như “sập cu” cần có con gà mồi thật chiến. Gáy thật dài hơi và vỗ cánh rất oai phong! Bẫy sập gà không cần đến lưới, mà chỉ cần cái lồng tre có tấm cửa sập “đúng đô” là đủ! Thịt gà rừng ăn dễ bị phong, sinh chứng ngứa. Khi kho nấu phải cho nhiều sả, ớt! Quanh bãi cỏ tranh có giống chồn Mồn, chuyên lấy nùi cỏ nhém hậu môn giữ ruột. Trời sinh cái giống chi lạ, khuyết tật ngay cửa hậu dưới đuôi. Gặp đám trẻ ranh, cầm cây rượt đuổi, chạy vài chục bước chồn ta phải dừng chân để nhém lại nùi cỏ. Càng đuổi gấp, nùi cỏ càng lỏng thêm, đến khi sút hết, chồn ngồi chịu trận. Lũ trẻ chỉ vây quanh con chồn để la hét cười đùa. Chồn nhe răng nhưng chẳng hề cào cắn. Đùa giỡn chán chê, lũ trẻ bứt quăng cho mớ cỏ, càng quăng vào, chồn càng nhặt lấy cỏ cuốn ngoạm làm nùi, khi vừa đủ, ngửa người nhém nùi cỏ xong cúp đuôi nhảy trái!
Rắn trăn tát nước Từ nhà ngang ra cho tới bàu Sen, con đường mòn trèo lên trụt xuống, vừa đi vừa chạy tuy vui nhưng cũng có lúc hết hơi, mệt thở dốc như chơi trò xoay chong chóng. Lúc băng vạt ruộng, khi vượt khe con, sườn đồi, dốc đất: trời luôn luôn có gió thổi tứ bề. Có lúc cả bầy con nít lặng thinh, chỉ còn nghe gió lùa qua lá và tiếng chim kêu mô trong núi thiệt xa. Trong hoang vắng, chợt nghe tiếng tát nước ngập ngừng uể oải, như khoảng chừng phía dưới bàu Sen. Lũ trẻ nhìn nhau, mắt sáng ngời một ý: Xuống xem chơi, xong xin mấy con cá về nuôi trong bể cạn! Kéo rốc nhau đi không kể đất trời, băng qua khỏi khu vực vườn chè là tới. Gió vườn chè mát rượi. Cỏ ống mọc cao cao. Chè trồng thành hàng thẳng ro, cứ lối giữa chạy vào thì sẽ không bị lạc. Nhưng mà nì, có ai chơi thiệt ác, giữa vườn chè khi không lại đem gác cây ngang, cúi trụp xuống cho mau, nếu không đụng bổ ngữa la làng ai tới cứu? Chui qua cây, xong quay đầu nhìn lại. Cây sào di động, rớt cái sạt xuống một bên cành chè lại còn uốn xoắn lộ vàng đen. Dựng tóc gáy: Trời ơi! Rắn Hổ! Con rắn hổ dài ngoằng, nửa trưa quấn mình qua hai cây chè tắm nắng. Cả lũ nhỏ tuông chạy thục mạng. Qua một khúc đồi mới dám dừng chân. Thôi, lát nữa tìm về theo lối khác bất kể xa gần, chứ theo lối cũ lại sợ gặp ông Thần Rắn! Bàu Sen trước mặt, xuống gặp người tát nước để hỏi chuyện rắn thần! Chuyện xong xuôi có lẽ sẽ hỏi xin được cá. Lạ chưa tề, tiếng tát nước không đều tay, khi lưng, khi đầy, khi dài khi ngắn, lúc liên hồi, lúc ngưng nghỉ một thời gian. Hết nhìn quanh bàu, lại nhìn lan ra đám ruộng, chẳng thấy bóng người. Phải lần xuống tận nơi để tìm cho dễ. Theo tiếng tát nước, cả bọn hướng về. Đứng trên đất cao, nhìn xuống bờ bàu sáng loáng. Con rắn thiệt dài đang tát nước giữa trưa. Đầu đuôi níu ở trên bờ. Tấm thân khúc giữa lững lờ bùn rêu. Thình lình rút thẳng thân lên, nước văng hất cá bay lên trên bờ, vội vàng bắt lấy cá to, cả bọn con nít sững sờ đứng ngây! Rắn bắt cá có thể là rắn nước hiền lành và cũng có thể loại rắn hổ mang rất độc. Cả bọn nhìn xong lặng lẽ rút lui. Trốn giấc ngủ trưa rủ nhau đi dang nắng, lúc trở rồi sẽ bị phạt bị la; nhưng rất vui vì thấy nhiều chuyện quá lạ lùng. Rắn Thần trong sở chè. Rắn Ngài ngoài bờ nước. Biết mô chừng tối ni lại có rắn hổ mang Vua vào trại thổi nọc độc bắt gà. Giống rắn hổ mang ngụy tặc, đứng trước cửa chuồng gà, nghểnh cổ cao ngang đầu người, thổi phì một hơi, con gà đậu trên đà tre chỉ kịp oác lên một tiếng, nhào đầu xuống đất đập cánh vài cái rồi quay lơ. Hôm sau chỉ còn cách đem gà đi chôn cho thiệt sâu để phòng ngừa nọc rắn. Có người tá điền tên Ngựa một hôm đi thăm rẫy, thấy rắn liền dùng cuốc định giết rắn. Rắn tránh thoát, cuốc thêm vài nhát cũng không trúng, rắn hung hăng chống trả. Chú hoảng sợ quăng cuốc bỏ chạy, bị rắn hổ mang rượt theo. Chú Ngựa chạy từ bờ khe, băng qua đám ruộng, nhìn lui vẫn thấy rắn chàng ràng theo dấu. Phóng lên ruộng cao, rắn ta cũng kiếm cách leo bờ. Trèo lên tầng ruộng nữa, chạy thẳng về nhà hớt hãi kêu cứu om sòm. Mọi người ùa ra, mõ tre, thùng thiếc đánh vang trời dậy đất, rắn trốn vào bụi mất tăm. Sợ thất kinh, người tá điền ngả bịnh nằm rên la quẫy đạp liên tiếp mấy ngày. Quan Thượng phải cho uống thuốc an thần quy tỳ thang mới khỏi. Xong cho về Nguyệt Biều tránh rắn cả tháng trời mới phục hồi thần sắc. Lũ con nít tinh quái, bày đặt thêm câu chuyện rắn và ngựa chạy đua, cùng nhau thầm thì to nhỏ, có lúc còn thách nhau vào hỏi người lớn để phân định hơn thua!
Đánh bẫy Trăn, Chình Cổ Bi có nhiều loại trăn. Đáng kể nhất là trăn gió và trăn nước. Trăn gió màu xám nâu, thường ở trên cây. Trăn nước có màu xanh lục, thỉnh thoảng hiện sọc vàng, ở quanh các bờ đầm, khe suối. Trăn nước chậm chạp lúc lên cạn, rất dễ bị bắt. Giống trăn nước hiền lành, nuôi chơi cũng dễ. Trăn nước thường thấy ở Cổ Bi dài hơn một sải tay, thân to vuông lớn gần bằng bắp chân người lớn. Răng có chấu như lưỡi liềm, cắt đi sẽ mọc lại rất chóng. Trăn nước ăn cá, ếch nhái, chim gà các thứ. Loại trăn gió có thân to như cột nhà, dài cả mấy thước. Dưới bụng con trăn gió gần phía đuôi thường có hai cái mấu vẫn thường được người địa phương gọi là chân. Thỉnh thoảng, gặp con trăn gió mọc thêm hai mấu phía dưới phần ngực, thành ra trăn có đến bốn mấu. Trăn gió lúc bình thường di chuyển nhẹ nhàng, không gây tiếng động, chuyền từ cây này sang cây khác theo những cành cây đan vào nhau. Khi cần để báo động, trăn ép gió kêu phì phì như tiếng máy xe lửa. Lúc biến động cần kíp như rượt theo bắt khỉ hay trốn tránh kẻ thù, trăn ép gió, phóng ào ào nghe như gió bão thổi qua trong cánh rừng yên tĩnh. Vì lý do này mới mang tên trăn gió. Hàng năm, vào tháng bảy nhằm dịp kỵ bà thân mẫu quan thượng, tổ chức tại Nguyệt Biều. Ông Cả Dĩnh ngoài việc kiếm những thổ sản cần thiết, vẫn thường lo thêm một vài món riêng dâng lên bà Cố. Khi thì con nai, lúc thì con heo rừng. Có năm ông dâng hầu kỵ bà Cố con trăn gió với tất cả lòng thương kính của ông. Gánh trăn về Nguyệt Biều để trước sân. Đêm đó trăn thoát cũi, sáng hôm sau mới biết, cả nhà hoảng sợ. Quan Thượng sai người đi tìm. Bất chợt sát nhà có tiếng kêu phì phì. Thì ra trăn còn núp trên cây măng cụt. Quan Thượng khiến ông Cả Dĩnh bắt xuống và cho làm thịt ngay. Có năm ông Cả Dĩnh lại bắt đưa về mấy con chình bông nặng cong đòn gánh. Chuyện bắt mấy con cá chình bông to như cột nhà đối với ông Cả Dĩnh chẳng có chi là khó khăn. Trước hết, ông đi dọc theo bờ đá ven sông, nhắm chừng mấy cái bộng tức là mấy cái hang ngầm mà loại chình hay ẩn náu. Với một mớ trùn Cổ Bi loại khoang cổ dài cả nửa thước tây, cột từng con vào sợi dây, thả xuống trước bộng. Nếu là cá lấu, sẽ phóng ra bắt trùn xong thụt vào rất nhanh. Cá lấu chỉ lớn bằng cánh tay là cùng, màu vàng xám sỉn như đất thường khó nhận, chỉ thoáng một cái là mất dạng. Còn chình bông thì sẽ ra thong thả, khoan thai bắt mồi, thấy rõ cả cái đầu vằn vện xanh đen và hai con mắt. Giống cá chình hay cá lấu, nếu dùng dây câu sẽ không bao giờ kéo lên cho được vì mấy loại nầy sau khi mắc câu sẽ chui tọt vào hang, quấn chặt cứng, quẫy mấy cái là đứt dây nhợ, gãy lưỡi câu trong nháy mắt. Dùng lưới giăng, chình cũng tránh không vào. Chỉ có cách là làm rọ bẫy. Khi biết chỗ nào có chình bông hay chình mun ẩn náu, phải kiên nhẫn dụ chình. Hàng ngày thả trùn cho chình ăn. Lại phải lựa chừng mà đan rọ vì có khi chình lườn ra khỏi hang rồi phóng trở vào, cũng đủ phỏng chừng kích thước lớn nhỏ của chình. Lấy tre đan rọ cho khít sợi. Rọ to và dài như thân cây chuối sứ. Rọ nhốt heo thân tròn, đan mắt cáo, tròn đầu, chỉ có một cửa hay nắp phía đuôi rọ. Rọ bẫy chình có bụng phẳng, đan dày khít rịt, sống lưng rọ chừa vài lỗ nhỏ để thả trùn cũng như xem chừng là chình đã nằm trong rọ hay chưa. Lại đan thêm hai vòng quai để khiêng rọ. Rọ bẫy chình rỗng hai đầu, vì khi nhử mồi, chình có thể vào thám thính xong phóng thẳng ra rất lẹ. Nếu bịt một đầu, chình sẽ quẫy và biết rằng nguy hiểm, sẽ không vào rọ nữa. Rọ có cột theo đá đủ nặng cho chìm hẳn dưới đáy sông và không bị nước chảy làm chao động. Hai đầu rọ có hai nắp đậy nằm lọt hẳn vào phía bên trong rọ. Nắp và miệng rọ được “bất” vành kiên cố như vành cái rá nhỏ. Nắp rọ được điều khiển bằng sợi dây câu, khi cần, kéo dây là đóng được nắp, có cái lưỡi gà khóa lại. Hai sợi dây chằng cột ở hai đầu dùng để giữ rọ yên dưới nước cũng như kéo rọ lên bờ. Khi chình ăn quen, cứ thả mồi xa dần miệng hang, tiến dần đến miệng rọ. Sau đó, để hẳn thức ăn trong rọ, chình sẽ chui vào ăn. Liệu chừng đã đến lúc bắt chình, thường là buổi sáng sớm, thả thêm mồi xong chờ chình chui vào rọ hẳn hoi hoặc còn lòi tí đuôi mới kéo dây đóng nắp. Kéo sợi dây phía đầu cá chình lên trước để chình sẽ theo phản ứng tự nhiên mà chùng lại, khi chình bắt đầu quẫy thì đã bị kéo lên bờ. Chỉ cần thắt sợi dây tại hai cái nắp rọ, tháo bỏ mấy viên đá chằng, xong hai người xuyên cái đòn khiêng cò ke gánh chình về trại. Trong chiếc rọ chật chội, chình thường nằm im re, thỉnh thoảng ép hơi nghe chút chít. Việc bắt trăn nước hay trăn gió đối với ông Cả Dĩnh cũng chẳng khó khăn chi. Muốn bắt trăn nước thì cứ dò theo dấu trăn bò gần bờ nước mà đặt bẫy. Trăn gió thì khó hơn vì kiếm không ra dấu vết. Bẫy trăn nước đặt để trên mặt đất. Thường đan mắt cáo hay bện mành mành. Cửa ra vào tháo ráp thay đổi tùy theo trăn lớn nhỏ dựa theo dấu vết dò được do trăn trườn bò để lại trên đất ẩm. Trong bẫy để tối thiểu một con gà lớn gấp đôi lỗ cửa. Trăn vào ăn gà, bụng lớn, không chui ra được. Hôm sau đi thăm bẫy chỉ việc bắt lấy dễ dàng. Bẫy trăn nước có khi bị lang sói hoặc rắn hổ mang phá bẫy. Lang sói cắn nát tan hoang, còn các thứ rắn khác vào bắt gà thì bẫy vẫn còn nguyên, không biết được trong bẫy là rắn hay trăn cho đến khi tháo lớp cành lá cây che bẫy. Bẫy trăn gió thường đặt trên cây. Bẫy được đan thật chắc chắn, cột chặt vào các cành cây. Cũng bẻ cành lá phủ che để mấy con gà làm mồi nhốt trong bẫy ngủ qua đêm khỏi bị trúng gió nhiễm sương. Cửa bẫy trăn gió “bất nứt” thiệt kỹ, lỗ to có thể đút lọt cây chuối bà lùn. Trong bẫy ngăn hai lớp để gà khỏi chui ra. Lớp vách ngăn này gọi là tấm mành mành, đan thưa đủ để chặn gà, khiến đầu trăn chui lọt qua thư thả, xong trăn phá cũng dễ trước khi bắt gà. Nuốt hết mấy con gà, trăn chỉ còn cách cuộn tròn nằm ngủ vì muốn chui ra cũng không được. Hôm sau khi thăm bẫy, nếu không có trăn thì cho gà ăn và uống nước, còn như trăn đã vào bẫy thì cột thêm miếng cửa chắc chắn để trăn khỏi chui đầu ra, xong tháo dây thòng bẫy xuống đất gánh về.
Cách lấy ngọc rắn Luôn tiện chuyện trăn, nhắc luôn chuyện lấy ngọc rắn. Trong những bộng cây, thường khi có mấy con rắn lạ ẩn núp. Không ai biết là loại rắn gì. Hình dáng xù xì xám mốc, dài chừng một thước và to bằng bắp tay. Kẻ chuyên môn bắt rắn sau khi thoa thuốc ném vào tay, vỗ bộng cây, rắn bò ra sẽ nắm cổ bỏ vô bao dễ dàng như vấn điếu thuốc hút! Bắt rắn về, giam đói một vài tuần, luôn thể ngắm chừng là ngọc đã đủ tuổi để lấy hay chưa. Khi sẵn sàng, lấy một cái vại tức là cái ang đất nung, đáy vại lót một lớp cát. Thả một con gà vào vại, xong chồng lồng rắn lên trên miệng vại. Rắn đói thấy gà trong vại, kiếm cách bắt. Loay hoay di chuyển uốn lượn, viên ngọc rắn sẽ bất chợt chui từ bụng qua cổ họng rắn rớt ra ngoài rơi xuống vại. Ngọc thường có màu xám, hình dẹt, thô nhám, lớn cỡ móng tay út. Người ta cho rằng lấy ngọc rắn theo cách này thì ngọc mới tốt, chứ mổ rắn tìm ngọc, phẩm lượng sẽ kém đi rất nhiều. Dùng ngọc rắn áp vào các vết rắn hay rít cắn để hút chất độc. Khi đặt vào, ngọc rắn dính chặt như nam châm hút sắt, lúc hết chất độc, ngọc sẽ rời ra. Đem ngọc thả vào bát nước lạnh để giải hết nọc độc. Khi không có ngọc rắn, có thể dùng cục nam châm cũ tháo từ bình điện của chiếc xe đạp, áp vào vết thương có khi cũng hút nhưng không hiệu quả lắm. Mấy em bé chăn trâu khi với tay hái quả dứa dại thường hay bị rắn hổ gấm hay hổ lửa nằm trên sống lá cắn phải, hoặc những người “bứt tranh” tức là cắt cỏ tranh dùng lợp mái nhà cũng thường hay bị rắn lục hay rít núi dài cả mấy gang tay cắn khi lùa mớ cỏ tranh cho vào liềm để cắt. Viên ngọc rắn áp vào là có thể cứu tính mạng và làm giảm sự đau nhức. Sau đó đắp thêm thuốc ngoại hay thuốc dấu tùy người. Khi có được viên ngọc rắn, thường cho vào túi vải khâu nhỏ tí mang ở cổ. Lúc cần dùng, tháo ra cho mượn để cứu người làm phước. Ngọc rắn có thể là viên sỏi trong mật của con rắn bị bệnh. Trâu bò cũng có sỏi gọi là ngưu hoàng. Sỏi của chó cũng gọi là cẩu hoàng. Sách thuốc của đông y rất ít khi nhắc đến chuyện ngọc của rắn rít!
Ôn Cọp đã ra Miễu Ông Cọp linh thiêng không ai dám phạm. Những người canh tác bên ngoài cũng thường tránh né một vòng đai. Nhìn vào khuôn viên thấy vắng hoe. Ngôi miếu cổ đen rêu khuất trong xa, cây lá khẳng khiu, lưa thưa cỏ dại cao quá thắt lưng, vàng hoe èo uột. Khuôn viên chừng vài mẫu tây, vì coi như đất cấm nên trở thành bí hiểm. Người ta kháo nhau rằng lâu lâu gặp bữa thiệt tối trời ông Cọp ngự về chơi. Biết được ông có về, vì sau khi ông đã hồi sơn, vùng miếu lạnh còn vương lại mùi giẻ cháy. Ông cọp hiển thần hay vẫn còn là cọp thường sống trên núi không ai dám chắc. Những tối ông về, chó thường chui vô nhà rúc xuống gầm giường. Ông về bắt trâu, bắt heo mang lên trên núi. Ăn quen bén mùi luẩn quẩn suốt mấy đêm liền. Không bắt được trâu, ông xoay bắt chó. Đói quá ăn càn chứ thịt chó làm ông cọp say đi lảo đảo, nước miếng nhểu hai hàng như hai cọng bánh canh. Ban đêm, cọp đóng đèn, đôi mắt lóe màu đỏ rực. Mùa thu dùng súng bắn đạn chài đi săn chim đỏ mắt, nhưng phải liệu chừng vì mắt cọp cũng như mắt chim. Cọp bẻ súng săn như người ta bẻ chiếc đũa. Mấy hột đạn chì làm trầy da khiến ông cọp nổi hung. Giữa đêm khuya đen tối mịt mùng, người bắn cọp hay cọp vồ người chỉ có núi rừng biết chuyện.
Thả bò, xổ bổi Mùa mưa lụt tháng mười không làm việc đồng áng rẫy nương. Tá điền rảnh rỗi. Chặt bổi thả bò. Kiếm những cây không gai, khó rụng lá, chặt lấy cành dài cả thước, bó lại từng ôm như cái chổi. Cây hoang đủ loại, nhiều tên, cứ gọi chung là “bổi”. Cuối bó bổi, có sợi dây dùng cột vào cây cọc trên bờ để khỏi bị nước cuốn trôi. Cái rổ sề thật lớn, thật sâu dùng để xổ cá. Bó bổi sau năm ba ngày nằm dưới nước, được nhẹ nhàng kéo vào trong cạn, chuồi lọt vào cái rổ sề kê treo trước bụng. Một sào tre nho nhỏ có làm móc ở đầu để nâng nẹp rổ bên ngoài lên khỏi mặt nước cho cá khỏi bơi ra khi bổi vừa đụng trong rổ. Gác cái sào tre, tay cầm cuống bổi, giở lên xổ xuống vài lần cho ra hết cá tôm, xong quăng ra ngoài, lại lấy cây sào tre đẩy bó bổi ra cho xa, từ từ chìm sâu xuống nước. Cái rổ sề có sợi dây cột hai bên nẹp quàng qua cổ được chiếc sào tre móc giở phía ngoài cao khỏi mặt nước khiến cá trong rổ trôi về phía người. Chiếc oi cá vẫn đeo bên hông, bây chừ xoay nhẹ một cái chuyển ra trước bụng, xách bỏ vào rổ sề để đựng những con cá vừa xổ bổi xong. Tiếng xổ bổi xào xạc, nước bùn lạnh tê tê. Trời mưa buồn, cơm gạo mới, cá kho khô. Ngon hí? Bó bổi dễ làm. Thả bò mới công kỹ. Cái bò hình hộp, cao và rộng chừng một thước; chiều dài từ một thước rưỡi tới hai thước. Phải dùng tre đan năm miếng mành mành dày khít. Ba miếng hình chữ nhật, dùng cho hai bên hông và dưới đáy chiếc bò. Hai miếng hình vuông ghép ở hai đầu. Mặt trên để trống, hoặc có công làm nắp bò thì chừa lổ đủ to để cá vô ra cho dễ. Mỗi góc cạnh của bò đều kẹp cây tre chắc chắn. Trong bò bỏ lá bổi. Bốn góc của miệng bò cột bốn sợi dây xong thắt chùm hai múi một. Từ múi dây này cột sợi dây nữa dùng thắt vào hai cây cọc đóng ở trên bờ, giữ cho bò thăng bằng và nằm yên dưới nước. Bò thả năm ba ngày lá bổi có mùi chua, chờ cho cá tôm rúc vào ơ, sẽ kéo. Kéo bò gồm hai người hai đầu dây, đồng loạt kéo thiệt êm. Khi miệng bò lên cao hơn ngang mặt nước tí xíu thì ngưng, thắt dây giữ bò nằm yên, xong từ từ vớt bổi cho ra ngoài rồi bắt cá. Dùng bò thường bắt được cá lớn và nhiều hơn xổ bổi. “Bổi” có thể do chữ Bối mà ra. Còn “Bò” thì do chữ chi, ai biết? (8) Mùa nước lụt thì đi cất rớ. Cứ xuống bờ sông, chọn chổ nước êm êm hạ cọng. Phần nhiều là cá gáy và cá lúi. Mưa gió lụt lội, ra đồng lên rẫy ướt át lại sợ dẫm đẹ đất dập nương. Không có việc chi làm, vác sào ôm lưới xuống bờ sông cất rớ kiếm vài ba con cá ăn chơi! Lụt hết, nước êm, xách cần đi câu cá. Chiếc ghe mành hạ xuống, mấy cần câu lách cách chạm ống trùn. Cá thia mốc, thia tho to hơn bàn tay núp dưới rễ bèo cắn lưỡi câu giật nghe kêu cái ộn. Cá trê vàng lườm, con cá hẻn xám đen, kéo lên bờ cứ vênh râu uốn mình ép miệng kêu dim díp. Phải coi chừng cái ngạnh, lớ quớ để cá nẻ cho một cái đau tá hỏa tam tinh, cho dù có bôi mấy vệt bùn lên trên trán, vẫn cứ còn buốt nhức tận tâm can.
Khỉ bẻ măng vòi Dọc theo bờ sông vòng chân núi, quan Thượng cho trồng tre nứa lồ ô. Khỉ bên tê sông bơi sang bẻ trộm măng vòi. Mùa đông tháng giá, thực phẩm hiếm khan, măng vòi là một trong những thứ khỉ bầy ưa dùng đến. Vấn đề khỉ bẻ ăn mấy mụt măng bằng ngón tay không có chi đáng nói, cứ như việc khỉ bắt chước người bẻ bắp ạo ạo, cầm lên rớt xuống nhảy nhót la hét rộn quăng cũng chẳng có chi vì chỉ là trò khỉ! Chuyện khỉ vấn lận măng vòi đáng nói hơn cả chuyện khỉ bên Phi Châu dùng cọng cỏ non câu con mối đất. Cây dây chìu trong núi thuộc loại lá nhám như lá mít, thân leo, bền dai số một. Vẫn dùng làm dây nuộc trâu hay giăng lưới làm hàng rào trong việc đuổi bắt heo rừng. Hoa trắng li ti thơm lừng nở suốt mùa xuân. Không biết học ở mô mà lũ khỉ biết lấy khúc dây chìu nhỏ quấn vòng quanh bụng làm đai, bơi qua sông, bẻ măng vòi dắt quanh thân mình mấy chục mụt rồi bơi trở lại. Tre dày đặc, ngả nghiêng, sà sà mặt nước. Theo ghe nan lủi vào, tóm lấy khỉ êm rơ. Thả trong ghe, khỉ ta từ từ lần ra ngồi trước mũi, trông hiền lành ngoan ngoãn như đứa trẻ thơ. Khi đến khúc quanh cách bờ chừng chục thước, khỉ nhảy tòm xuống nước bơi thật lẹ vào bờ. Cả và bầy trên đất liền la ré vang trời, kêu hồn hột, gải đùi, chỉ chỏ! Có con lại cầm khúc dây chìu đập lên đập xuống, chạy tới chạy lui, kẻ ngồi trên ghe cũng phải bật cười. Thiệt là chuyện lạ đời, ới khỉ ơi là khỉ!
Dẫn chó đi săn Những khi tốt trời, rảnh rỗi, vác gậy tre, lùa đàn chó rủ nhau đi săn chồn, bắt nhím. Các giống chồn đèn, chồn vòi, chồn vỏ cua thường săn được quanh rồn tre, hốc đá. Chồn Ngận Hương thiệt quý vì túi xạ hiếm hoi. Chó sủa vang, cào xới phá hang, chồn lặng lẽ trèo lên bụi tre, leo từ rồn này qua rồn nọ. Khi thung dung, khi vội vã chồn leo. Người đi săn cầm gậy thọc, hay chống sào vào mắt cây tre mà rung ào ạt, miệng la to hồ hụi liên hồi. Chồn sợ hãi, tuột chân, vướng nè, sa xuống đất. Chó chờ bên dưới, xúm nhau chận đạp cắn đánh chồn hoang. Tiếng chồn ré nhiều khi nghe chói óc. Bầy chó săn vờn cho chồn mệt lữ, hết kêu la cựa quậy, chỉ nằm yên. Người đi săn bắt lấy, kéo chân chồn trói ôm quanh cây gậy, thế là chồn hết đường vùng vẫy hay cắn đứt dây chằng để hòng chạy thoát thân. Vui ở lúc chạy sau đàn chó sủa, đuổi theo chồn chui đầu lên từ dưới mấy gốc tre. Ẩn hiện màu lông vằn vện vàng nâu, có lúc thật lẹ bóng chồn lướt qua như ánh chớp. Miệng hò la ơi ới “Vàng, Vá, Vện, Mực, Khoang, Đốm, Luốc”, ồn ào như ông tướng cầm quân. Con chó đầu đàn khôn thật là khôn, bao tài cán hiện ra rõ rệt. Chó đang non đứng sủa vòng ngoài. Con lão luyện bắt mồi dâng chủ. Chó chuyên môn, chủ vừa trói con mồi vào cây sào, chưa kịp vác lên vai là vội chạy đi tìm con mồi khác để săn. Chó tập sự, sau khi bắt được mồi, cứ chạy theo hục hặc, hư hử, khìn khịt, chồm chồm, như bực tức vì mấy vết thương bị chồn làm sướt mặt. Chó săn già dạy chó săn non. Cùng trong bầy học lẫn nhau chóng vánh. Con có tài âm thầm làm việc, chủ trọng dụng, thương yêu nuôi nấng suốt đời. Chó bất tài chạy sủa rộn quăng, không nên việc có ngày vui riềng é! Săn chồn vui nhưng khó hơn săn nhím. Chồn bắt gà. Nhím đào hang, làm ngạch, rủ rê nhau phá khoai sắn bộn bề. Giống nhím tuy chậm nhưng coi chừng gai nhím. Chó bị lông nhím ghim phải vào mép vào tai, càng lắc quẫy, lông nhím càng dính chặc. Chà xuống đất càng đau, chó kêu rên ăng ẳng. Chủ phải liệu đường sớm nhổ đi cho. Khi bị chó tấn công, nhím thường cuộn cong người lại, xòe lông nhọn lởm chởm bảo vệ lấy thân, nằm yên một chỗ. Bầy chó săn cũng xoải cẳng nằm sấp chúi mũi vào nhím sủa vang lừng chói lói. Chủ săn vác cây, huện cho nhím vài đùi phải xếp lông thẳng cẳng. Từ nhím mẹ đến con làm cả đàn sạch bách. Người ta đồn nhím biết bắn lông để tự vệ, cần đề phòng mà đứng xa xa. Thực ra, mấy cọng lông già, chó dụng phải tạo thành huyền thoại. Lông nhím đem rửa sạch kỹ càng, dùng ghim mứt bí, mứt khoai gọi là ăn chơi kiểu cách. Lúc đi săn nhím, thỉnh thoảng cũng lôi lên con trút xám nâu. Giống trút tức là rút chậm chạp, chuyên ăn kiến lửa. Sách ghi là Xuyên Sơn Giáp, vảy dùng làm thuốc. Thịt trút ít người ăn. Bắt được con trút, chỉ ngó chơi một lúc xong rồi thả. Người rành đi săn, đêm nằm nghe tiếng mấy con lang tức là mấy con chó rừng sủa tru trong núi, đoán biết được lang bắt chụp con mồi ở phần cổ hay phần đuôi. Chúng chỉ ăn bộ đồ lòng còn xương thịt để cho người. Trước khi bỏ mồi để chạy đi chỗ khác, cả bầy sủa tru báo hiệu. Sáng hôm sau, nhằm chừng theo phương hướng, người ta rủ nhau vào trong rú vác nai về. Người đối với lang cứ để tự nhiên, không hề săn đuổi. Lang cũng không bao giờ xuống làng xâm phạm rẫy nương. Đồi Mâm Sỏi đá cuội mòn trơn láng. Có thể bắt sống nai tơ bằng cách vây ép cho chúng nó nhảy càn sau những lúc trời mưa. Sỏi cuội trộn bùn kẹt cứng giữa móng chân, không đi được đành đứng yên một chỗ. Thòng dây ngang, quấn vòng trói cẳng, xong xỏ đòn cây rồi hai người hè nhau gánh tréo ngược tòn teng. Quan Thượng năm xưa có lần bị bệnh nặng, người hầu cận trung thành là ông Cả Dĩnh nghe theo lời thầy thuốc, rượt bắt sống con mễn tí hon bằng con dê non (9) trên núi Mâm Sỏi vác về làm thuốc. Quan Thượng phục hồi, thọ thêm được mấy năm.
Ơn vua lộc nước Đến kỳ lãnh hưu, chọn các tháng mạnh, trọng hay quý của bốn mùa, quan Thượng đi thuyền vào Huế. Từ Cổ Bi từ lúc hừng đông, qua An Lỗ cũng vừa buổi chợ. Dừng ăn trưa ở vùng chợ Sịa, xã An Gia. Gió lộng Tam giang, thủng thẳng chèo qua. Vượt bến sông Cổ Cò thì trời đã xế. Ngang khúc phân giang, ấp Vỹ Dạ êm đềm, lửng lơ Bến Cạn. Góc ngã ba cồn thầm lặng, miệt Phủ Ba Cửa vàng son. Đêm thanh vắng vọng ra chương nhạc phủ. Khúc Phú Lục chậm nỉ non, điệu Hành Vân rộn rã. Có lúc quan Thượng cũng hứng tình biểu Trì, Xáng hò ca. Đèn vườn sau bật sáng, Cụ Thúc Dạ cho thuyền ra mời rước. Khách thi thư hội kiến chủ nhân ông, trong không gian thanh nhã, hương mai trắng tưởng chừng thoang thoảng trong đêm. Chuyện vãn, canh khuya, khách lui chủ nghỉ. Thuyền đi êm lên thẳng bến Phủ ở Nguyệt Biều. Ngày hôm sau quan Thượng thăm hết bà con, xa gần nội ngoại. Mấy bó chè tươi, bắp, khoai, mè, đậu, mỗi thứ một tí gọi là chút từ bên Sở Cổ Bi. Cháu chắt mỗi đứa vài đồng xu nửa. Đãi khách đến thăm: trà rượu sơ sịa mời quan Phủ quan Tiên. Kêu người dạy việc: công cán rõ ràng, giao ông Thừa, ông Cửu! Anh em con cháu, chuyện cửa chuyện nhà, quan Thượng nhất nhất hỏi thăm cặn kẻ. Giỏi thì khen thưởng, hư dở răn la! Ngày chạp ngày kỵ, phân minh bàn định. Phải năm ba bữa, mới rảnh rang lo đến chuyện lãnh lương hưu. Xuôi dòng Hương Giang, chèo băng ngang qua Kim Long Bạch Hổ. Quan cho đậu thuyền ở bến cây Me trước cửa nhà Đồ, xong hai chú Trì, chú Xáng võng vào trong Bộ (Nội Vụ). Ký sổ lương xong, hoặc là ra đường Lục Bộ thăm nhà quan thông gia họ Lê, hoặc ra cửa Đông Ba hầu thăm nhà quan Đông Các. Hai chú Trì, Xáng gánh lương tiền xuống thuyền. Thuyền nặng thêm một chút vì một hai thúng lúa, thúng gạo, những chuỗi tiền xâu. Quan Thượng cho gắn thêm mái chèo đốc phía đàng trước để cho chú Trì giúp sức, nhưng chú thường gác mái chèo bàn vẫn vơ chuyện chợ búa chè xôi. Về tới bến, quan Thượng bèn giở sổ: Lương tiền lộc nước, cả họ được nhờ. Phân phát sạch, vợ con chỉ nghe tiếng là quan Thượng phải dùng thuyền lãnh “bỗng” nhưng không bao giờ trông thấy một đồng “lương”! Có lúc gặp chuyện, quan Thượng lại còn hỏi mượn thêm nơi bà Thượng Cả. Gánh nọ gánh kia, quan thừa quan thiếu. Mượn nhưng không bao giờ trả, cứ cấn qua cấn lại vui thiệt là vui! Bà Thượng Cả đảm đang: con trai con gái theo học trường Tây, ngoài phần học bỗng, còn lại bao nhiêu phải trả bằng bạc Đông Dương bà lo đều đặn. Có lần cậu Ấm Năm đi săn cầm súng bắn trật con nai, bà cười hiền hòa đùa rằng thế là mất tiêu viên đạn ngang hàng với số tiền cả nhà dùng cho buổi chợ. Bà Thượng Ba, em ruột bà Thượng Cả, rất mực căn cơ nhưng lại không có số giữ tiền. Quan Thượng giao cho cai quản cả An Cổ Trại thế mà nhiều khi vẫn còn có lúc lo toan không đủ. Thời cuộc chuyển vần thiệt ngụy tặc, chứ không phải bà bất tài, cầm tiền không đậu. Năm 1965 bà có đưa đơn kiện Mỹ về vụ thả thuốc khai quang làm mít chè chết hết. Mấy năm sau bà qua đời. Hè 1975, Luật sư của bà hủy hồ sơ, lên đường di tản.
Thắp nén hương lòng Sông Cổ Bi nhỏ hơn sông An Cựu. Núi Cổ Bi thấp hơn núi Ngự Bình. Đường thủy bộ vào tới Kinh đô, xa cả trăm dặm lẻ. Khỏe đi bộ, yếu dùng thuyền; đi cả ngày mới tới. Quan Thượng bẩm tính nhân hậu, luôn luôn tươi vui, không bao giờ gắt gỏng. Thuở thiếu thời, tuy là con quan, nhưng vì gia đình thanh liêm nên vẫn có khi bị thiếu hụt, chẳng hạn như ngày giỗ kị nhà thầy, mỗi người học trò phải góp hai giác bạc (20 xu), cụ bà thân sinh phải tảo tần cả hai tháng mới lo xong. Tập viết chữ trên những tờ giấy đã dùng xong, lộn ngược trở lại, hoặc là trên những miếng lá chuối cau phơi khô dằn ép phẳng phiu, hoặc viết trên cát. Cuối cùng là viết trên tấm kiếng, vật mà quan Thượng đã đổi với người thợ mộc khi sửa nhà thờ bằng mấy chữ đại tự. Do đó chữ viết của quan Thượng rất xấu. Lúc đi thi, tuy khi khảo hạch đỗ đầu xứ, nhưng vì cứ lo làm bài thuê nên hỏng mấy kỳ, về sau người anh cả phải cử người theo kèm không cho làm bài thuê nữa mới đậu Hương Cống. Kế thi Hội đáng lẽ đậu Tiến Sĩ nhưng vì nét chữ xấu nên bị trừ mất mấy phân, phải đậu Phó Bảng. Lúc làm quan, chuyên lo về đê điều kiều lộ. Khéo ngoại giao nên được lòng các quan sở tại. Ngoài ra cũng được các bậc vương tôn thương mến vãng lai. Quan Thượng lo cho gia đình dòng họ rất mực chu đáo. Lúc bàn việc, không giữ kẻ như một số quan lại đương thời, chẳng chút nề hà khi ngồi chung bàn với mấy ông bộ ông xã. Đối với bà con, luôn luôn hòa nhã thăm hỏi thật tình. Với kẻ dưới, cũng xử sự thương yêu như kẻ thân tình. Thấy như cảnh người tá điền bị rắn hổ mang rượt theo mấy cánh đồng, về nhà sinh bệnh, quan Thượng cho về Nguyệt Biều điều dưỡng cả tháng trời. Hoặc có anh chăn trâu vẫn được quan Thượng hỏi chuyện, và được các cậu ấm dạy đánh vần ABC, lại giảng cho nghe về đời sống văn minh. Sau nhờ thời cuộc, anh chăn trâu theo con đường của Đào Duy Từ mà được vinh quang tướng ấn (10)! Quan Thượng nghỉ hưu, hưởng thú vui đồng nội. Lấy thiên nhiên thay thế dã viên. Lại chọn sẵn sinh phần dưới chân núi. Hai cây kiền kiền còn đang non chưa đầy một ôm, trồng một bên làm cây lọng che lăng. Tấm bia đá khắc chữ quốc ngữ gốc la tinh tô son đỏ chói: MỘ ÔNG THÂN TRỌNG NGẬT - THƯỢNG THƯ TRÍ SỰ Quan Thượng mất năm 1946. Thời buổi loạn ly, đám tang phải đưa bằng thuyền vào ban đêm, không đèn đuốc vì sợ máy bay bỏ bom. Sau năm 1975, gặp thời buổi khó khăn. Dân Cổ Bi cầu chuyện làm ăn, và nhất là ốm đau bệnh tật, cầm ba cây nhang thắp trước mộ phần, khấn xin phần nhiều đều linh nghiệm. Đường ra mộ xa xôi bất tiện, dân trong làng xin rước linh vị vô đình, trước là thờ vong linh ông khai canh ấp An Cổ, sau thờ lên như vị Thành Hoàng, hàng năm đèn nhang tế hưởng. Một số kẻ gian sống bằng nghề đào trộm lăng mộ, lợi dụng đêm khuya canh vắng, động đến lăng quan Thượng cả thảy hai lần. Cậu Mười Sáu không đành tâm, cãi dời vô Huế, chôn ở nghĩa trang họ Thân trên núi Nguyệt Biều, cũng dễ bề thăm viếng. An Cổ Trại bây chừ chỉ là chút ít dư âm. Có nhắc lại cũng ít người còn nhớ!
Thân Trọng Tuấn California tháng 2, 2003
Ghi chú: (1) Địa long: Nuôi vịt con bằng trùn. Người ta hay đùa rằng trùn Cổ Bi quá lớn khiến vịt thấy phải sợ không dám ăn. Lại dùng làm thuốc chữa bệnh và thuốc bổ. -Trị thương hàn, sốt rét, bụng báng: Trùn Cổ Bi mổ rửa sạch, phơi khô, tán bột, hợp với mật ong, dầu mè mỗi thứ 2 đồng cân, pha vào đọi nước chè quết, uống nóng: thần phương. - Chữa cao huyết áp: Địa long 2 đồng cân, Hạ khô thảo 3 đồng, Ngưu tất 3 đồng, Liên tiền thảo (Rau má) 7 đồng rưỡi, Trúc diệp (lá tre) 7 đồng rưỡi, Liên tâm (tim sen) 2 đồng, Bạch mao căn (rễ cỏ tranh) 5 đồng, Tang ký sinh (tầm gửi cây dâu tằm) 5 đồng. Sắc ba chén còn tám phân, uống ấm. (2) Đạp róm: Mấy đứa chăn trâu dẫm phải râu cọp, làm độc, tạo nùi to như tổ đĩa, đen như con sâu róm, không cách chi khều ra được, phải chờ cho “chín”, xong cột chân đau trên cột tre cho chắc, bên dưới chân cách khoảng gang tay kê lưỡi cày sắt nung đỏ dể vỡ tung nhọt mủ ra,thầy thuốc giúp thêm bằng cách vỗ mạnh vào mu bàn chân sưng vù của bệnh nhân để cồi độc rơi xuống sẽ bị lưỡi cày đốt cháy gọi là “thổ róm”. Đau đớn vô cùng. (3) Xem thêm bài “Giang Phong Ngư Hỏa”. (4) Chuông nhà thờ Sơn Quả thường nghe lúc giữa trưa (đúng ngọ). Ngày trước, đồn An Lỗ lính Tây vẫn thường cho nổ một tiếng súng vào lúc đúng 12 giờ trưa. Chùa khuôn hội Phậtt giáo Cổ Bi không có chuông treo. (5) Người xưa thường dựa theo mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao để ấn định thì giờ. Dùng nhang đốt lên để tính thời gian theo từng khúc cháy. Đồng hồ nguyên là cái bình bằng đồng chứa cát mịn hay nước chuyển đổi vào ra để theo đó mà ấn định mức thời gian. Sau này chế biến dùng máy thay cát, đổi hình dạng vẫn gọi là đồng hồ. Giới biết xem quẻ diệc, quẻ dâu, gặp ngày mưa bão hay những lúc không có mặt trời, mặt trăng, cùng các ngôi sao thì dựa vào sự chuyển hướng của chiếc lá dâu trên cành mà định giờ giấc. (6) Quan Thượng không làm thơ chữ Hán hay chữ Nôm mà làm thơ chữ Quốc ngữ viết trên tờ giấy tây có kẻ hàng với ngòi bút muỗng bằng sắt chấm mực đựng trong chai thủy tinh có nắp. Người lo dịch gia phổ từ chữ Hán ra chữ Quốc ngữ, sợ rằng sau này con cháu không đọc được chữ Hán, vì “có ngó thì cũng như ngó bụi tre”. (7) Triều Minh Mạng, còn đâu vài con. Có một con lang thang trên bãi cát Nguyệt Biều Lương Quán, vua tuần hạnh thấy được, lấy làm lạ, sau khi hỏi chuyện, liền cho tên bãi cát la Lại Bái Châu và dựng bia đá để truyền hậu thế. Thạch xương bồ dùng làm thuốc, có mọc ở Mỹ, loại cỏ Cat tail, tên khoa học là Acorous gramineus thuộc họ Ráy Araceae. (8) Bồ đựng lúa hình tròn, không đáy, cũng có lúc dùng chận bắt cá dưới ao, khác hẳn cái bỏ bẫy cá. (9) Loại hươu xạ, nhỏ. Rất hiếm. (10) Tướng Nguyễn Chí Thanh
|