|
Túy Việt
THỔ NHĨ KỲ : TRỜI ƠI, ĐẤT HỠI !
III. Thổ Nhĩ Kỳ
III. Thổ Nhĩ Kỳ
Tôi phải nói sao về Thổ Nhĩ Kỳ nhỉ? Một cách ngắn gọn th́ đó là một quốc gia tân tiến, một đất nước cổ xưa, một xứ sở thánh thiện. Tôi không quá lời khi nói TNK là xứ sở thánh thiện đâu. Ai cũng biết Thổ Nhĩ Kỳ là một xứ Hồi giáo, thế nhưng đă có những vị Thánh Thiên Chúa giáo đă sống và tạ thế tại đó, đáng kể nhất là St. John, một môn đồ của Chúa Jesus và Đức Mẹ Maria, thân mẫu chúa Jesus. Ngày đến Ephesus, tôi đă đến viếng di tích nhà thờ Thánh St. John. St. John là vị tông đồ trẻ tuổi nhất của Chúa Jesus. Sau khi Chúa bị hành h́nh, các môn đồ của Ngài bị truy lùng khắp nơi. Người em trai của St. John là James đă bị kết án chết chém. Để tránh bị hành quyết St. John đă từ bỏ Jerusalem và tới Ephesus. Người ta tin rằng Ông đă cùng Bà Maria, mẹ của Chúa Jesus, đến đây. Trừ khỏan thời gian Ông bị lưu đày trên một ḥn đảo gần đảo Patmos, nơi ông đă viết cuốn sách "The Book of Revelation", Ông đă sống hết phần đời c̣n lại tại Ephesus và vùng phụ cận thuộc Thổ. Ông mất tại Ephesus và một đài tưởng nhớ Ông đă được lập tại chân đồi Ayusuluk. Vào thế kỷ thứ tư, nhà vua La Mă Constantine đă cho xây một ngôi nhà thờ lớn lên trên phần mộ của St. Jonh. Sau đó, vào thế kỷ thứ sáu, một cái nhà thờ khác lớn hơn nữa được xây lên trên nền nhà thờ cũ theo lệnh của nhà vua La Mă Justinian (527-565 AD). Nhà vua và hoàng hậu Theodora đă đóng góp rất nhiều về mặt tài chánh để xây một ngôi nhà thờ thật lớn để tôn vinh Thánh St. John (ghi chú tại chỗ) .
Nơi an nghỉ của Thánh St. John
Nhà thờ Thánh St. tại Ephesus
Ngày nay, cả hai ngôi nhà thờ đều đă sụp đổ, chỉ c̣n lại tấm bia mô. St. John. Dẫu vậy, đây vẫn là thánh địa. Tất cả Các Giáo Hoàng Vatican, sau khi đăng quang đều đến viếng mộ của Thánh St. John để tỏ ḷng tôn kính. Tôi hỏi thăm khi Giáo Hoàng đến, người dân ở đây có làm lễ đón tiếp không, ông tua gai nói không bởi v́ người dân nơi đây vẫn nghĩ rằng Giáo Hoàng cũng chỉ là một người dân b́nh thường đi viếng mộ một bậc đáng tôn kính thôi. Tuy nhiên, khách sạn nơi Giáo Hoàng ở lại sẽ chỉ có Giáo Hoàng và đoàn tùy tùng, không một du khách nào khác được trọ trong cùng thời gian đó. Khi Giáo Hoàng đến mộ cũng có xe ét cọt trước và sau, thế thôi.
Không xa bao nhiêu từ nhà thờ Thánh St. John là ngôi nhà của Đức Mẹ đồng trinh Maria. Như đă nói ở đoạn trên, Bà Maria đă đến đây cùng Thánh St. John, khoản 4 hay 6 năm sau khi Chúa Jesus mất. Chính thánh St. John đă dựng ngôi nhà này cho Bà để Bà sống những năm cuối đời. Ngôi nhà này đă bị chôn vùi dưới đất và được t́m thấy vào năm 1891. Việc t́m ra ngôi nhà này cũng là một điều kỳ diệu. Chuyện kể rằng vào năm 1812, một nữ tu người Đức, Xơ Anne Catherine Emmerich trong cơn mê đă mơ thấy Đức Mẹ Đồng Trinh cùng tông đồ John đang đi từ Jerusalem đến Ephesus. Bà diễn tả căn nhà của Mẹ Maria rất rơ ràng và nói Đức Mẹ đă mất lúc 64 tuổi, an táng bên cạnh căn nhà của Bà. Không lâu sau đó mộ của Bà bị đào lên, nhưng trong quan tài trống trơn, cả vải tẩm liệm cũng biến mất. Căn nhà của Bà đă trở thành nơi thờ tự. Những điều xơ Anne nói đă được ghi lại bởi Brentano. Nhiều năm sau đó, một linh mục người Pháp, Cha Gouyet, đọc các điều ghi chú của Bretano và lần t́m đến Ephesus. Ông đă t́m thấy căn nhà giống y như lời diễn tả của xơ Anne. Ông đă gởi báo cáo về Paris và Rome nhưng không được hồi đáp. Măi đến năm 1891 hai vị giáo sĩ được phái tới Ephesus để chứng thực. Một năm sau đó ngôi nhà của Mẹ Maria trở thành chốn viếng thăm của khách hành hương Thiên chúa giáo (http://www.sacred-destinations.com/turkey/ephesus-house-of-the-virgin.htm).
Vào năm 1896 Đức Giáo Hoàng Leo XIII làm lễ ban phép lành đầu tiên tại đây, mặc nhiên xem đây là "thánh địa", một địa điểm hành hương cho giáo dân. Năm 1951, Giáo Hoàng Pius XII chính thức phong địa điểm này là Nơi Thiêng Liêng cho giáo dân và Giáo Hoàng. Các Giáo Hoàng sau đó đă chính thức đến dâng lễ tại đây gồm có Giáo Hoàng Paul VI (26-7-1967), GH John Paul II (30-11-1979), GH Benedict XVI (29-11-2006) (http://en.wikipedia.org/wiki/House_of_the_Virgin_Mary). Hằng năm có cả triệu người đến đây để kính viếng Đức Mẹ và làm lễ tôn vinh vào ngày 15-8. Họ gồm cả giáo dân Thiên chúa giáo và Hồi giáo. Người Hồi giáo cũng tin Mẹ Đồng Trinh Maria đă sinh ra Chuá Jesus. Bà là người phụ nữ được đề cập đến rất nhiều trong kinh Koran v́ Bà là một người con trong ḍng họ Abraham, người đă vâng lời Thượng Đế truyền bá niềm tin Hồi giáo cho nhân loại.
Ngược ḍng lịch sử, vào năm 2000 trước Thiên Chúa, tại miền đông bắc nước Iran ngày nay, có một người đàn ông tên là Abraham. Ông ấy có một tâm linh đặc biệt, nghe được lời nói của Thượng Đế. Ngày đêm, Ông vẫn nghe tiếng th́ thầm hăy đến Mecca để xây một ngôi đền cho đấng Allah, đấng thiêng liêng sẽ hướng dẫn con người trong cuộc sống thanh b́nh an lạc. Ông và bà vợ thứ hai là Haga đă lên đường, t́m đến thành phố Mecca. Đến nơi, th́ đấy là một sa mạc mênh mông. Hai ông bà cùng chung ḷng khấn nguyện "Hỡi Thượng Đế, Ngài muốn chúng con xây đền nhưng trong vùng sa mạc mênh mông này không có nước, cũng không có đá làm sao chúng con xây đền thờ cho Ngài đây?" Qua một đêm cầu nguyện, hôm sau, bà Haga cầm một cây gậy thọc xuống đất, nước bỗng dưng tuôn ra ào ạt khiến cho bà phải thốt lên "zemzem" , nghĩa là đủ rồi, đủ rồi. Trong khi đó ông Abraham đưa cây gậy lên trời, lạ thay! vô số đá ào ào trút xuống! Thế là có đủ đá và nước để hai ông bà xây đền thờ Thượng Đế. Ngôi đền này có tên Kaaba, đến nay vẫn c̣n tồn tại tại Saudi Arabia. Đối với người Hồi Giáo th́ đây là thánh địa, và những người giàu có, ít nhất một lần trong đời phải đến đây để chiêm ngưỡng và cầu nguyện.
Mở ngoặc để giải thích đền Kaaba: Kaaba có nghĩa là "H́nh khối" hay "Nhà của Thượng Đế". Nó được xây theo một h́nh khối chữ nhật, dài 10 mét, rộng 12 mét, cao 15 mét. Nó được xây bằng đá granite màu xám, mỗi góc của ngôi đền chỉ về một hướng trên địa bàn. Lối vào duy nhất ở hướng Đông-Bắc, cao 2.3 mét từ mặt đất. Bên trong ngôi đền không có ǵ cả ngoại trừ ba cái cột chống bằng gỗ và những bóng đèn treo bằng vàng. Đúng vào góc chỉ phía đông là phiến đá đen, ở độ cao chừng 1.5 mét.
Theo dân Hồi giáo th́ Adam đă xây ngôi đền Kaaba nguyên thủy theo đúng mẫu và đúng ngay bên dưới ngai vàng của Thượng Đế trên thiên đàng. Ngôi đền đó đă bị hủy hoại trong trận Đại hồng thủy, chỉ c̣n lại cái nền. Đền hiện nay là cái do Abraham xây lại. Bên ngoài "Nhà của Thượng đế” luôn luôn được bọc lại bằng một lớp vải đen gọi là kiwash (áo đầm), được thêu chỉ vàng. Lớp vải bọc này mỗi năm được thay một lần. Trước năm 1927 nó thường được những người thợ thủ công Ai cập cung cấp. Họ thường mang theo khi hành hương về Mecca. Lớp vải đen này được làm bằng 670kg bạc nhuộm đen. Khoản 129 kg vàng ṛng và 50kg bạc dùng để thêu những câu kinh trong Kinh Qur'an lên đó. Lớp vải này rộng 658 mét vuông, trị giá khỏan 17 triệu đô la. Ḥn đá đen được đặt tại góc chính đông cách mặt đất khỏan 1.5 mét. Đường kính viên đá chừng 30 phân. Đây là điểm bắt đầu cho hành tŕnh cầu nguyện. Các tín đồ sẽ đi ṿng quanh "Ngôi Nhà Thượng Đế" bảy ṿng, ngược chiều kim đồng hồ. Trong khỏan thời gian này họ cố gắng hôn Ḥn Đá Đen một lần. Bằng cách này tín đồ Hồi Giáo bày tỏ và củng cố lại niềm tin vào Thượng Đế của ḿnh. Truyền thuyết cho rằng nó là tặng phẩm của Thượng Đế cho Adam và Eva sau khi họ bị đuổi ra khỏi Địa Đàng. Ban đầu nó có màu trắng nhưng lần lần bị thẩm thấu tội lỗi của nhân loại, nó trở thành màu đen. Hiện tại, nó đă bị vỡ ra làm nhiều mảnh, người ta phải bọc nó lại trong một khung bằng bạc. Cũng có giả thuyết cho rằng nó là thiên thạch (meteorite) nhưng chưa có một thí nghiệm khoa học nào chứng minh điều đó (http://atheism.about.com/od/muslimholysitestexts/ig/Kaaba-Mecca-Islam-Muslims/The-Kaaba--the-Black-Stone.htm) )
Trở lại với Abraham và công việc của Ông:
Người Vợ lớn của Abraham sinh Isaac, Isaac sinh Jacob, Jacob sinh Joseph & 11 người con khác. 12 người này sau lập thành 12 bộ tộc Israel (Israel là tên khác của Jacob). Ḍng này dẫn đến Moses với đạo Judaism, sau đó sinh Maria - mẹ chúa Jesus dẫn đến đạo Thiên chúa. (the book -Genesis- speaks about how the children of Jacob became the founders of the twelve tribes of Israel.) Vợ nhỏ của Abraham là Haga sinh Ismael... ḍng này, khoản 40 đời sau, sinh Muhammad. Ông là vị thiên sứ cuối cùng mang các thông điệp từ Thượng Đế Duy Nhất đến cho nhân loại. Ông sinh năm 569 AD, tại Mecca, Arabia. Ông mồ côi cha từ khi chưa chào dời, mồ côi mẹ lúc 8 tuổi. Ông phải sống nhờ vào một người cậu không mấy giàu có cho nên phải sớm bương chải dể kiếm sống. Năm 10 tuổi, Ông theo gia d́nh người cậu đến lập nghiệp ở Mecca. Năm 25 tuổi, ông kết hôn với một góa phụ giàu có, lớn hơn ông cả chục tuổi. Cuộc hôn nhân rất đằm thắm và bạn bè trong thương giới rất tín cẩn ông. Đời sống gia đ́nh và sự nghiệp đang êm đềm th́ một biến cố bất ngờ xảy ra làm thay dổi tư duy của ông. Vào năm 605 (ông dược 35 tuổi), lớp vải bao ngoài đền Kaaba bị cháy làm cháy luôn ngôi đền. Người dân Mecca hăm hở xây lại ngôi đền và Muhammad đă có mặt trong công cuộc này. Vai ông đă bị thương khi khiêng đá. Để xác định nơi khởi đầu của các cuộc rước lễ, người ta phải đặt ḥn đá màu đen có từ thời Abraham. Rất nhiều người muốn dành cái vinh dự đặt phiến đá đen đó vào đúng vị trí cũ, nhưng cũng thật nguy hiểm v́ tranh dành như thế dễ dẫn đến bị thương có thể đến đổ máu. Người ta bèn thống nhất với nhau rằng hăy để thần linh pḥ trợ và sẽ chấp nhận sự phân xử của Thần linh qua bất kỳ ai xuất hiện tại đó trước tiên. Đúng lúc đó th́ Muhammad đến để làm việc như mọi ngày và mọi người hoan hỉ chấp nhận sự sai bảo của Ông. Ông bèn trải một miếng vải lớn xuống đất, đặt viên đá vào đó, xong yêu cầu các ông quận trưởng của mỗi quận trong thành phố cùng khiêng mảnh vải lên. Sau đó chính ông đă đặt lại phiến đá vào đúng vị trí cũ của nó, tất cả mọi người rất hài ḷng.
Muhammad đặt viên đá đen vào vị trí cũ (h́nh trích từ http://atheism.about.com/od/muslimholysitestexts/ig/Kaaba-Mecca-Islam-Muslims/Muhammad-at-the-Kaaba-in-Mecca.--1h.htm)
Từ giây phút đó Ông bỗng trầm ḿnh trong suy tư và càng ngày càng chuyên tâm hơn vào việc tĩnh tâm. Ông thường dành trọn tháng Ramadan để rút ḿnh vào động đá trong núi Jabal-an-Nur để cầu nguyện và trầm tư mặc tưởng. Năm năm trường trôi qua. Vào đêm cuối tháng Ramadan năm thứ năm, một vị thiên thần đă t́m đến ông, báo cho ông biết rằng Thượng Đế đă chọn ông làm thiên sứ cho Ngài, giao cho ông nhiệm vụ mang thông điệp của Ngài đến cho toàn thể nhân loại. Vị thiên thần dạy cho ông phương cách rửa tội, nghi lễ thờ cúng Thượng Đế và quy tắc cầu nguyện. Giấc mơ này đă tác động sâu xa đến tâm linh ông. Ông trở về nhà, thuật lại mọi chuyện cho vợ nghe, đồng thời lo ngại rằng có thể đó là một ám ảnh ma quỷ chăng. Bà vợ đă an ủi ông rằng Thượng Dế sẽ luôn luôn che chở một người tốt như ông khỏi sự quấy phá của ma quỷ . Ba năm tiếp theo đó, ông không c̣n nhận bất cứ thông điệp nào từ Thượng Đế, nhưng ông càng tận tụy hơn với việc cầu nguyện và những nhà tu hành. Cuối cùng, ông cũng đă được Thượng Đế soi sáng, Ngài đă chỉ cho ông con đường phải đi: chăm sóc trẻ mồ côi, kẻ nghèo túng, công bố ḷng quảng đại của Thượng Đế đă được truyền qua ông. Kế đó Thượng Đế đă bảo ông hăy cảnh giác mọi người tránh xa các hành vi tội lỗi, không tôn thờ một ai ngoài Thượng Đế Duy Nhất và từ bỏ những ǵ không làm Thượng Đế hài ḷng. Ông đă thực hiện tất cả những ǵ Thượng Đế đă bảo ban ông, ban đầu với những người bà con thân tộc rồi với láng giềng trong khu vực và sau đó mở rộng ra với quần chúng trong thành phố. Ông luôn luôn thành kính với Một Thượng Đế Siêu Việt, Sự Phục Sinh và Sự Phán Quyết Cuối Cùng. Ông đă dành thời gian cần thiết để viết lại tất cả những ǵ được thiên khải từ Thượng Đế, dặn con cháu phải học thuộc ḷng. Ông cũng được dạy rằng phải gọi tôn giáo của ông là "Islam", có nghĩa là tuân phục ư muốn của Thượng Đế. Số người theo ông mỗi ngày một gia tăng bởi hai tôn chỉ trong giáo lư của ông:
1) Sự quân b́nh hài ḥa giữa thể chất và tâm linh cho phép con người hưởng thụ tất cả sự an b́nh do Thượng Đế ban phát, đồng thời hoan hỷ thực hiện nghĩa vụ của con người đối với Thượng Đế như thờ phượng, dốc ḷng tin, làm việc thiện... Như vậy, Islam là tôn giáo của đại chúng chứ không riêng cho một hạng người nào. 2) Những người tôn thờ Một Thượng Đế Siêu Việt (tiếng Ả rập gọi là Allah) đều là anh em và b́nh đẳng, không phân biệt màu da, giai cấp hay ngôn ngữ. Sự khác biệt giữa họ chỉ là ḷng tin và sự tuân phục Thượng Đế nông hay sâu mà thôi. (http://www.usc.edu/dept/MSA/fundamentals/prophet/profbio.html)
Muhammad mất vào năm 632. Sau khi Ông mất, tất cả những diều Ông nói hay rao giảng có liên quan đến Thượng Đế đă được gom lại và viết thành sách Quran. Người ta tin rằng tất cả những điều đó đă đến từ Thượng Đế Duy Nhất cho nên Quran trở thành Thánh Kinh của họ. Họ cũng gom những lời Ông nói ghi thành "khuông vàng thước ngọc" , và những điều Ông làm trở thành tập tục cho xă hội. Kinh Quran, giáo huấn và hành động của Muhammad đă tạo thành mẫu mực sâu sắc cho tinh thần, cho đạo đức và cho nếp sống thường ngày của xă hội Hồi Giáo. Khoản cuối thế kỷ thứ bảy, nhiều nhóm người nói tiếng Thổ từ miền trung châu Á di cư sang phía tây đă cải đạo, theo Hồi Giáo. Làn sóng di dân dầu tiên đă quy thuận Hồi Giáo Sunni và trở thành Hồi Giáo chính thống. Lần lần họ phát triển trên toàn bộ địa phận Anatolia - một vùng đất rất lớn gần như bao gồm hết phần Thổ Á ngày nay. Từ khi vào Thổ, Hồi giáo đă phát triển mạnh hơn với các nhà hiền triết cổ súy lư thuyết và thực hành tôn chỉ của Hồi giáo. Hai nhà triết học lớn c̣n lưu danh đến nay là Haci Bektas Veli và Mevlana Celaleddin Rumi. Họ sống đồng thời trong thế kỷ 13, ở hai thành phố cách xa nhau nửa ngày đường lái xe: Hacibektas và Konya. Haci Bektas chuyên về thần học. Các bài giảng của ông thường nhắm vào t́nh bằng hữu và ḥa thuận; riêng cá nhân ông là một ḷng bao dung và t́nh thương trải rộng cho cả con người và động vật. Ngày nay, những bài giảng của ông được gọi là học thuyết Bektashi. Theo ông, niềm tin của người Hồi giáo có bốn cấp bậc:
Thứ nhất: tin và hành động theo giáo luật Thứ nh́: tin và tu tập theo lối khổ hạnh Thứ ba: tin và tự giải thoát Thứ tư: là cấp bậc cao nhất, tin và bày tỏ t́nh yêu chân thật vào Thượng đế
Đồng thời với Haci, nhà đại thi hào, đại triết gia và cũng là người có niềm tin chân chính vào Thượng đế - Mevlana Celaleddin Rumi - đă phát hiện và truyền giảng phương thức cho con người đi vào hoặc t́m thấy t́nh yêu chân thật đó. Ông cho rằng con người có hai "cuộc sống", một thể hiện bên ngoài bằng lư trí và lư lẽ, và một chỉ có thể cảm nhận được bằng nội tâm và cảm xúc. Để có thể đạt đến t́nh trạng tuyệt đối của nội tâm th́ chỉ có một phương cách duy nhất là đi qua t́nh thương chân thật. Muốn có t́nh thương chân thật hăy thực hành semazen! Ông đă khởi xướng semazen (hay whirling dervish dance, xem tại http://video.google.com/videoplay?docid=7555270763310711648 , http://www.youtube.com/watch?v=s63r-8t2ugA , tôi tạm gọi là "thiền quay"). Semazen là một nghi lễ, theo đó nó sẽ đưa con người đến trạng thái xuất thần để đạt được t́nh yêu và niềm tin chân thật vào Thượng Đế. Đó là một hành tŕnh tâm linh, đưa người thực hành tiếp cận sự toàn hảo và sự thật, tự thay đổi bản ngă để kết hợp hay ḥa nhập vào Thượng Đế và sau đó trở về với cuộc sống thế tục với tính cách là một người tôi tớ của Thượng đế, phục vụ cho tất cả muôn loài do Thượng đế tạo ra. Người thực hành sema thường mặc áo ngắn và váy dài màu trắng bên trong và một áo khoác đen bên ngoài. Màu trắng tượng trưng cho sự thật và màu đen nhắc nhở con người đừng quên rằng chúng ta sẽ chết. Khởi đầu họ cởi bỏ áo choàng đen, hai bàn tay đặt chéo lên hai vai tượng trưng cho bản ngă. Họ cúi chào vị trưởng giáo, sau đó đôi tay từ từ mở ra, tay phải dơ lên cao, ḷng bàn tay hướng lên trời để nhận t́nh yêu từ Thượng đế, tay trái đưa xuống thấp, ḷng bàn tay hướng xuống mặt đất, mắt hướng vào trái tim đồng thời bắt đầu quay từ phải sang trái (ngược chiều kim đồng hồ). Trong tư thế này, người thực hành sema nhận và chuyển tải t́nh yêu từ Thượng đế đến thế giới chúng sinh và nh́n chúng sinh bằng đôi mắt yêu thương của Thượng đế, và khi quay là ôm thế giới chúng sanh với hết từ tâm của ḿnh. Triết lư “thiền quay” cho rằng vũ trụ này là một ṿng quay không nghỉ như qủa đất quay chung quanh mặt trời, như những hạt điện tử quay quanh hạt nhân, từ những tế bào li ti cho đến các hành tinh xa xôi cũng ở trong những ṿng quay như thế. V́ vậy, khi thực hiện "thiền quay" là chính ḿnh tham gia vào sự hiện hữu của thế giới quay tṛn này một cách có ư thức. Đă tám trăm năm trôi qua kể từ khi Mevlana khởi xướng semazen. Như người phật tử thực tập thiền, người thiên chúa giáo học tĩnh tâm, người Hồi giáo Thổ thực hành "thiền quay" để nâng cao đời sống tâm linh, bớt vị kỷ, thêm vị tha, mở rộng ḷng từ ra cho thế giới chung quanh. Dù rất khó tập, nhiều người Thổ trẻ cũng như già thực tập thiền quay một cách đều đặn. Họ thường dành tối thứ sáu hàng tuần để cùng nhau thực tập và một ngày lễ chung cho cả nước vào 17-12, ngày Mevlana tạ thế.
Các đền thờ Hồi Giáo đều có ít nhất một cái tháp
Ngày nay, Thổ là nơi có 99% dân số theo Hồi giáo. Và nói như ông tua gai th́ ở Thổ không có giáo hội, không có giáo chủ, chỉ có giáo dân tự nhắc nhở thực hiện nếp sống an b́nh theo giáo luật. Mỗi ngày ba lần, buổi sáng, vào khoản 5g30, trưa 12g và khỏan 5g chiều, tiếng loa nhắc nhở mọi người chuẩn bị cầu nguyện vang lên từ trong các giáo đường, từ các thành phố lớn đến các xóm quê hẻo lánh. Nhà chùa hay nhà thờ th́ có tiếng chuông, đền thờ Hồi giáo không có chuông mơ ǵ cả, các đền thờ Hồi giáo đều có ít nhất một cái tháp để đến giờ th́ người có trách nhiệm dẫn dắt cầu nguyện sẽ leo lên tháp bắt loa kêu gọi mọi người cầu nguyện. (nghe tiếng gọi cầu nguyện tại: http://www.allaboutturkey.com/pray.htm#saat Listen to Ezan (.wav format, 1Mb). Tất nhiên không phải ai ai cũng toàn tâm toàn ư dốc ḷng cầu nguyện đúng giờ giấc, đúng giáo luật, nhưng tiếng gọi cầu nguyện đó dường như đă gắn liền với cuộc sống tâm linh của người dân ở đây. Nó nhắc nhở người ta tự thức tỉnh lấy ḿnh không nên làm những ǵ trái với giáo luật, trái với lương tâm, trái với thiên chức con người: yêu thương, kính trọng, lương thiện. Quả thật là một xứ sở thánh thiện, không phải mới hôm nay mà đă từ trong huyết thống có tự ngàn xưa... Nếu tôi tự hào với lịch sử bốn ngàn tám trăm năm văn hiến th́ người Thổ hănh diện với tuổi thọ bảy ngàn năm của ḿnh. Ngay từ thời tiền đồ đá cuộc sống của con người đă có mặt trên đất Thổ ngày nay. Vào khoản 4000 năm trước thiên chúa ở đây đă có hai nền văn minh tiêu biểu: một trên vùng núi cao và một dọc theo miền biển Địa Trung Hải.
Nền văn minh miền núi đă được t́m thấy ở Alacahoyuk. Theo các nhà khảo cổ th́ có thể gọi Alacahoyuk là thành phố đầu tiên trên thế giới. Các cổ vật t́m thấy ở đây được lượng giá có mặt từ thời đại đồ đồng, đang được trưng bày trong Viện Bảo Tàng Quốc Gia ở Ankara. Tôi không có cơ hội để quan sát Alacahoyuk tại chỗ, nhưng theo t́m hiểu th́ tôi nghĩ rằng nền văn minh cổ ở miền núi có nét chung là xây nhà dưới mặt đất, họ gọi là thành phố dưới đất. Tài liệu cho biết có đến cả trăm thành phố dưới đất trong khu vực văn minh miền núi này. Tôi chỉ đến Urgup, nơi có thành phố dưới đất tiêu biểu, được khai quang cho du khách vào xem. Không rơ v́ sao mà các thành phố dưới đất đă bị chôn vùi một thời gian rất dài. Không ai nh́n thấy bất cứ một dấu vết ǵ của nó từ trên mặt đất. Ở đó vẫn là những đồng cỏ mênh mông cho các mục đồng thả cừu dê. Nhưng sự lạ là vài ba hôm lại mất một vài con cừu hay dê, phần lớn là con con. Các mục đồng ra sức đi t́m và rất nhiều khi nghe tiếng con vật bé nhỏ kêu lên đâu đó nhưng không thể biết nó ở đâu.
Người ta cho rằng các thành phố dưới đất này đầu tiên được xây lên để tránh dă thú và tránh lạnh vào mùa đông. Sau đó là nơi trú ẩn của giáo dân để tránh sự truy bức của các giáo dân khác vào thời kỳ La mă. Nh́n sơ đồ thành phố dưới đất bên đây tôi thật "lạnh" ḿnh. Không thể tưởng tượng được những ngày tháng xa xưa đó, với kỹ thuật thô sơ mà người ta đă xây được đến bảy tám tầng lầu dưới mặt đất, lại ăn thông với nhau từ phố này sang phố khác. Mỗi phố có sức chứa đến 5000 người cộng thêm súc vật, kho thực phẩm, nơi nấu ăn, nơi chứa nước và cả giếng nước, nơi hành lễ chung, nơi quàng người chết, và nhất là các "toa lét" kỹ thuật cao triệt tiêu được mùi hôi. Dĩ nhiên đây không phải là nơi trú ngụ thường xuyên của người dân, song trong trường hợp ngặt nghèo, họ có thể tránh đại họa một thời gian khá dài. (H́nh trích từ http://www.avanosevi.com/en/cappadocia-underground.html)
Song song với văn minh miền núi, dọc theo bờ biển phía tây và nam Thổ là những thành phố với văn minh miền đồng bằng và sông nước. Công tác của các nhà khảo cổ vẫn c̣n tiếp tục tại các thành phố Aphrodisias, Ephesus, Pergamum và Troy.
Ngày c̣n nhỏ tôi có đọc đâu đó chuyện Con Ngựa Thành Troie, nhưng không biết thành Troie nằm ở đâu. Rồi tôi cũng quên mất câu chuyện này cho đến khi đọc trong chương tŕnh du lịch thấy có mục viếng Troy. Ṭ ṃ, tôi lục lạo trên mạng điện tử, th́ ra đấy chính là nơi xảy ra của câu chuyện trên. Khi đến đó, tôi chắc thế nào cũng được nghe hoặc chứng kiến câu chuyện cổ tích này. Tôi đă đến, xem và leo vào trong bụng con ngựa gỗ, nhưng chẳng nghe ai nói, cũng chẳng đọc thấy quanh đó câu chuyện ly kỳ này. Thực tế, Troy là một trung tâm văn minh cổ đại, mà giờ đây, khi khai quật, người ta t́m thấy có ít nhất 9 tầng văn minh đă chôn vùi dưới đó, lớp nọ đè lên lớp kia.
Các tầng văn minh t́m thấy ở Troy
Nền văn minh sớm nhất ở đây tồn tại từ 3000-2400 trước thiên chúa (có sách ghi 3000 – 2600 BC). Vào thời kỳ đó th́ đây là một thành phố có thành bằng đá chấn chung quanh, bên trong, ở trung tâm là nơi ở của nhà vua, dược xây bằng đá và gạch nung bằng nắng trời. Người ta đă t́m được rất nhiều loại nữ trang cùng vàng bạc thuộc nền văn minh thứ hai tại đây (2400-2200 B.C.). Thành phố cũng được bao quanh bởi những bức tường dày bằng đá và cổng vào thành phố là một tầng cấp có nhiều bậc. Nền văn minh này đă bị thiêu rụi bởi một trận hỏa hoạn. Sang đến thời kỳ thứ ba (2200-1800 B.C.) những đường phố hẹp được thiết lập dọc theo những căn nhà bằng đá, tiếp theo đó một "lâu đài" được dựng lên tại trung tâm thành phố. Vào thời kỳ thứ tư (1800-1700 B.C.) văn minh được phát triển hơn với thành bao quanh lớn hơn, nhà xây bằng đá ở phần dưới và bằng gạch ở phần trên cùng các vật dụng cho thấy đă có sự giao thiệp buôn bán và học hỏi với các khu vực xung quanh. Cứ thế thành phố từ từ phát triển lớn hơn, nhiều nhà cửa được xây dựng thêm (thời kỳ thứ năm 1700-1550 B.C). Vào thời kỳ thứ sáu (1550-1275 B.C.) thành bao quanh thành phố được xây cao 9 mét xen kẽ những tháp canh. Hệ thống dẫn và thoát nước dọc theo đường đi trong thành phố, khu vực buôn bán và dấu tích lễ nghi hoả táng người chết cũng như nơi ở của nhà vua ... vẫn c̣n t́m thấy được dù chúng đă bị hủy hoại bởi một trận động đất. Người ta đă tái xây dựng thành phố sau trận động đất kinh hoàng đó (thời kỳ thứ bảy 1275-1100 B.C.) và tiếp tục phát triển ngành gốm được gọi là "Buckel Ceramics". Có một điều đáng ngạc nhiên là các nhà khảo cổ cho rằng thời kỳ văn minh thứ tám trải dài từ năm 700 - 334 B.C. Như thế, toàn bộ thành phố này đă "ngưng" hoạt động trong bốn trăm năm từ 1100 - 700. Dấu tích c̣n lại trong thời kỳ thứ tám này là những bệ thờ trong đền Athena và một nhà hát xây vào thời kỳ Roman. Tiếp đó là tầng văn minh thứ chín (334 B.c. - 400 ẠD.) với những xây cất nhỏ hơn như toà hành chánh, nhà hát và nhà tắm. Toàn bộ thành phố đă bị sụp đổ sau một trận động đất trong thời kỳ Byzantine và bị bỏ hoang cho đến khi Heinrich schiemann, một nhà khảo cổ Đức t́m thấy và đào lên (All of Turkey, Serhat Kunar, Net Turistik Yayinlar ẠS., pp. 31).
Ngoài Troy, ba thành phố cổ c̣n lại - Aphrodisisas, Ephesus và Pergamum - có tuuổi đời trẻ hơn và hầu như phát triển cùng thời trong thời kỳ sáng chói của nền văn minh La mă.
http://www.turizm.net/cities/aphrodisias/index.html http://www.turizm.net/cities/aphrodisias/index.html
Sự khai quật ở Aphrodisias cho thấy thành phố này đă dựng nên vào khoản 3000 BC. Nó c̣n được gọi là thành phố thiêng bởi v́ những người nông dân từ thời kỳ hậu đồ đá (5800 BC) đă từng đến đây để làm lễ tế cầu cho được mùa và làm ăn thịnh vượng. Họ đă dựng đền thờ Nữ thần Yêu thương và Sung túc nhưng cho đến khi văn minh La mă xâm nhập vào Thổ nó mới được phát triển mạnh mẽ . Dấu tích của thịnh vượng c̣n lại là một bức tường dài hai dặm bao quanh thành phố, một văn pḥng hội đồng nhân dân, một nhà hát xây dựa theo sườn đồi với sức chứa 12 ngàn chỗ ngồi, và một vận động trường cho 30 ngàn khán giả. Đây là nơi tranh tài của các lực sĩ, nhưng về sau nó được dùng để diễn xiếc cùng các cuộc chiến đấu mất c̣n của các loại dă thú.
Thành phố này được xem là trung tâm nghệ thuật, đặc biệt là ngành điêu khắc. Rất nhiều tác phẩm điêu khắc với chữ kư của tác giả đă được luân lưu rộng răi trong khối Hy Lạp và La mă (http://www.allaboutturkey.com/afrodit.htm). Ngoài các tác phẩm điêu khắc riêng rẽ c̣n có những họa phẩm điêu khắc trên tường thành của nhà hát mô tả các tâm trạng khác nhau của con người như buồn, vui, giận ...
Tôi vẫn thường nghĩ La mă là một đế quốc, với những ông vua là các bạo chúa, những ông tướng trong những bộ quân phục rườm rà, bản tính hung ác thích coi những trận giác đấu đẫm máu, c̣n người dân th́ "cầu xin cho bạo chúa sống lâu" v́ sợ ông bạo chúa này bị lật đổ th́ một ông bạo chúa khác c̣n tàn bạo hơn lên thay. Tôi đă nhầm! Thật sự, trước khi là bạo chúa, văn minh La mă đă là một nền dân chủ cộng ḥa. Dù là đế quốc, dù là đi xâm lăng các nước láng giềng để đặt nền đô hộ, họ cũng đă mang đến các nước thuộc địa nền sinh hoạt dân chủ bằng cách xây các pḥng hội nghị để cho đại diện dân cư phát biểu ư kiến. Bằng chứng là trong cả ba thành phố cổ c̣n lại như tôi nói trên đây, mỗi nơi đều có một pḥng hội đồng như vậy. Thiết kế của pḥng này là một h́nh bán nguyệt, đường kính là bàn chủ tọa gồm các vị chính quyền cao cấp, các vị đại diện nhân dân ngồi theo h́nh ṿng cung, hàng sau cao hơn hàng trước như trong rạp hát; như thế các vị đại diện dân đều được nh́n thấy và nh́n thấy được các vị đại biểu nhà nước. Ghế ngồi của mỗi đại diện dân có qui định riêng, ví dụ, vị đại diện cho một khu vực dân cư 5000 người th́ ghế ngồi có mang h́nh con cọp, được phát biểu ư kiến trong ṿng 15 phút; 3000 người th́ h́nh con gấu, phát biểu 10 phút... chẳng hạn. Tôi thật cảm động quá và h́nh như mơ màng đến một cuộc đời đầy ắp t́nh cảm khi nghe ông tua gai giải thích những điều trên đây. Nh́n lại nét mặt lạnh lùng của những bức tượng la mă với con mắt không có tṛng bỗng dưng tôi thấy dường như chúng đang mang một nội tâm u uẩn, không giải thích được những mâu thuẫn trước mắt: vua quan thích tṛ chơi đẫm máu vẫn chịu khó lắng nghe tiếng nói của người dân nghèo hèn! Ngày nay, người ta thường dùng thuật ngữ dân chủ để đánh giá tŕnh độ tiến bộ của một quốc gia; dường như họ cho rằng dân chủ là một khám phá mới mẻ. Nhưng có ǵ là mới mẻ đâu, nó đă từng có mặt từ gần ba ngàn năm trước, và nó đă từng hiện diện trên đất Thổ ngày nay. V́ thế, tôi có thể nói Thổ Nhĩ Kỳ là một quốc gia tân tiến, tân tiến trong từng thời kỳ một . Ngay từ buổi sơ khai của cuộc sống con người, tại thành phố Troy, họ đă biết xây nhà bằng gạch. Di tích của căn nhà này chỉ c̣n một phần nhỏ của một bức tường, tôi không thể h́nh dung hết căn nhà đó ra sao, nhưng nh́n thấy sự trân trọng ǵn giữ nó tôi đă bồi hồi biết bao! Sự trân trọng ǵn giữ đó nói lên niềm hănh diện của người dân Thổ, đó không những là một cổ tích mà c̣n là dấu ấn của tiến bộ , của văn minh, của đoàn kết, nêu cao thuộc tính của loài người. Bên cạnh đó là sự xây cất các thành phố ngầm dưới mặt đất như tôi đă nói ở đoạn trên. Nếu thiếu đoàn kết, nếu thiếu suy tư lư luận, thiếu tính toán kỹ thuật th́ các thành phố ngầm đó đă không có mặt. Lần lượt, khi xă hội rộng mở hơn, dân số gia tăng hơn, tiếp xúc giữa các nhóm dân cư trở nên thường xuyên hơn th́ tính tân tiến của Thổ cũng rơ nét hơn. Tôi xin đơn cử thành phố Ephesus.
Nhờ vị trí địa lư thuận tiện (bên bờ Địa Trung Hải, tây Thổ) và đất đai mầu mỡ, Ephesus thường bị các nước thực dân láng giềng ḍm ngó. Cứ mỗi lần thay đổi chủ nhân th́ thành phố lại tiến lên một bực, và nó được phát triển rực rỡ dưới thời kỳ đế quốc La mă . Lúc này là cùng khoản tầng văn minh thứ chín ở thành phố Troy. Trong khi Troy bị tàn lụi dần th́ Ephesus phát triển thêm thành phố với những con đường lát đá khá rộng răi, có đặt tên - đường Marble, đường Harbor v..v.. Hệ thống thoát nước được thiết kế kín đáo dọc hai bên đường để tránh lụt. Để tránh trường hợp mưa lớn quá khiến nước thoát không kịp, từng khỏan cách một lại có một miệng "ga" cho nước tràn ra, rồi thoát vào đường cống khác đặt dưới mặt đường. Hệ thống dẫn nước sinh hoạt cho thấy tư duy kỹ thuật tiến bộ rất nhiều. Nước dù sạch đến mấy cũng có kết tủa sau một thời gian. V́ thế các ống dẫn nước lâu ngày sẽ bị đóng muối kim loại làm nghẽn ống, do đó phải thay. Muốn thay ống cho dễ dàng, hệ thống dẫn nước sạch được lắp đặt hai lớp: một ống lớn bên ngoài, một ống nhỏ bên trong. Khi ống nước bị kết tủa làm nghẹt ống, người ta chỉ việc đẩy ống nhỏ bên trong ra, chèn ống mới vào.
Thành phố cũng có khu "phố đèn đỏ" và đặc biệt nhất là dăy nhà tiêu công cộng chưa từng có ở nơi nào khác.
Dấu hiệu nhà thuốc & nhà thương
Đây cũng là trung tâm y học nổi tiếng. Ông Asklepios, một bác sĩ đă chế tạo thuốc từ nọc rắn. Ông dă t́m cách lấy nọc rắn bằng cách dùng một cái phễu cổ dài miệng rộng h́nh thuẫn, xong dụ rắn bằng cách đun sữa ḅ bên dưới phễu cho hơi sữa bốc lên. Người ta nói rằng rắn rất thích sữa ḅ, khi ngửi thấy mùi sữa rắn sẽ ḅ đến, nhưng không thấy sữa, rắn sẽ tức giận cắn vào thành miệng phễu, do đó nọc rắn sẽ tiết ra. (Ông tua gai cũng kể kinh nghiệm cá nhân rằng lúc c̣n nhỏ, ông thấy mỗi lần mẹ ông vắt sữa ḅ đều đặt một khúc cây bên cạnh; ông hỏi để làm ǵ th́ mẹ ông đáp để đập rắn v́ rắn nghe mùi sữa sẽ ḅ đến). Cũng do đó người ta dùng h́nh ảnh hai con rắn quấn quanh một thân phễu dài làm biểu tượng cho nhà thuốc tây. Vào thời kỳ này, Asklepios ngoài việc chế thuốc c̣n kiêm chữa bịnh, cho nên dấu hiệu trên c̣n trở thành h́nh ảnh của một nhà thương.
Đây c̣n là nơi mở đầu cho ngành tâm lư trị liệu. Chuyện kể rằng nhà vua Ephesos có cậu con trai bị bịnh, đă chạy chữa nhiều nơi nhưng không bớt. Nghe tiếng đồn Ephesus có nhiều danh y, ông bèn gởi con trai đến cùng với một số người hầu hạ. Ngày đầu tiên, ông bác sĩ bắt mạch bệnh nhân, miệng hỏi những người hầu cận rằng các vị ở thành phố nào. Họ trả lời thành phố A (chẳng hạn). Ông hỏi tiếp các thành phố lân cận của thành phố A là ǵ, họ trả lời B,C,D.. cho đến thành phố G th́ ông nhận thấy mạch của bịnh nhân nhảy mạnh lên. Ông cho bịnh nhân ra về, hẹn vài hôm sau đến. Lần thứ hai đến khám bịnh, ông bác sĩ cũng theo lối trên, bắt mạch tay bệnh nhân, miệng hỏi những người hầu hạ rằng trong thành phố G có những con đường tên ǵ. Họ trả lời đường H, K, M... cho đến khi nghe tên đường Q th́ mạch của bịnh nhân nhảy mạnh lên. Ông cho bịnh nhân ra về, hẹn vài hôm sau đến. Lần thứ ba đến khám bịnh, ông bác sĩ tiếp tục vừa bắt mạch bịnh nhân vừa hỏi những người hầu hạ rằng, trên con đường Q có những gia đ́nh nào sống ở đó. Họ trả lời có gia đ́nh ông bà N, O. khi nghe đến gia đ́nh hai ông bà S th́ bịnh nhân giật nảy ḿnh lên. Bác sĩ cho bịnh nhân ra về, hẹn hôm sau đến. Lần khám bịnh thứ tư, ông hỏi tiếp trong gia đ́nh này có những ai, tên ǵ. Khi nghe đến tên Y th́ bịnh nhân la lớn lên. Ông ngưng khám và viết báo cáo cho nhà vua Ephesos: Thưa ngài, Con trai của ngài mang bịnh yêu cô Y, con gái của ông bà S, nhà ở trên đường Q, thành phố G.
Khi nhận được hồ sơ bịnh lư, nhà vua đă hỡi ôi, bởi v́ hai ông bà S là kẻ thù của nhà vua!
Câu chuyện trên đây do ông tua gai kể. Ông có nói tên vị bác sĩ này là Globo. Tôi đă t́m ṭi trên nét để t́m thêm tin tức về vị bác sĩ này nhưng chẳng thấy ǵ liên quan đến ông. Quư vị và các bạn có biết th́ xin vui ḷng điền khuyết dùm tôi, đa tạ.
Dù muốn hay không, đă có thịnh th́ có suy. Văn minh La mă đă dần dần tàn lụi vào khoản thế kỷ thứ tư sau công nguyên. Đúng lúc đó, các đoàn quân viễn chinh khác từ Mông cổ tràn qua miền tây, theo phía bắc biển Caspiene, tiến đến châu Âu rồi xâm nhập vào Thổ, đặt nền đô hộ ở đây. Mặt khác, các bộ lạc du mục từ Trung Á cũng tràn vào Thổ theo phía nam biển Caspiene, và thế là chiến tranh vẫn thường xảy ra giữa các nhóm dân du mục từ Mông cổ và Trung Á di cư vào Thổ. Dù vậy họ cũng thiết lập được hai nền đế chế (Great Hun Empire và Gokturk Empire), mà đường lối cai trị là "không phải bằng chiến tranh và gan dạ mà chính là sự khôn ngoan" (http://en.wikipedia.org/wiki/History_of_the_Turkish_people). Thật là tuyệt vời! tôi phải tán tụng họ như thế mới được. C̣n ǵ tân tiến hơn khi trước đây cả ngàn năm, nhà lănh đạo quốc gia đă dùng sức mạnh của lư trí, đề cao nhân vị để điều hành đất nước. So với họ, ngày nay c̣n nhiều quốc gia thua xa lắc, xa lơ. Tính tân tiến của Quốc gia Thổ lộ rơ nét nhất khi Mustapha Kemal dành được độc lập cho đất nước, chấm dứt sự chiếm đóng của các thực dân Tây phương trên đất Thổ. Sau khi hạ bệ đế chế Ottoman cùng đồng minh của họ là Đức, Mustapha Kemal đă làm một cuộc tổng thay đổi cho xứ sở như sau: Bỏ văn tự viết theo lối Ả rập. Dùng mẫu tự La tinh, có thêm một vài chữ cái đặt biệt như ö ü ç để diễn đạt đúng cách phát âm của Thổ. Bỏ cách ăn mặc thụng thịnh đă có từ ngàn năm trước, quốc phục trang phục theo Tây phương. Tôn giáo không được phép xen vào chính quyền cũng như giáo dục và ngược lại. Vào lúc này thế lực của Ottoman cũng c̣n rất mạnh, rất nhiều người đ̣i phải dành hai giờ vào mỗi thứ sáu để công nhân viên chức thực hành cầu nguyện. Chính quyền mới không cấm công nhân viên cầu nguyện trong giờ làm việc, chính quyền chỉ trả lương cho giờ làm việc chớ không trả lương cho giờ cầu nguyện. Ai muốn đi cầu nguyện th́ cứ việc, cuối tháng lănh ít lương th́ ráng chịu. Bằng biện pháp này chính quyền đă chấm dứt việc can thiệp của tôn giáo một cách êm ái, vừa ḷng đôi bên. Đổi thể chế từ phong kiến sang dân chủ cộng hoà. Duy nhất Thổ là quốc gia Hồi giáo có chính thể cộng ḥa. Đổi lịch từ âm lịch sang dương lịch. Bắt tay với các nước tây phương, học tập văn minh kỹ thuật tây phương, đặt lại hệ thống giáo dục theo tây phương. Đặt nặng phát triển kinh tế nội địa, dành lại các đặc quyền kinh tế trong tay ngoại nhân. Xây dựng lại quân đội quốc gia. Đề cao nữ quyền, phụ nữ được quyền đi bầu và có chân trong nội các, bỏ tục đa thê. Hôn nhân dựa trên hôn thú và ly dị là hành vi dân sự. Dời thủ đô từ Istanbul sang Ankara. Về mặt đối ngoại, đặt nặng công tác ngoại giao mềm dẻo. Mustapha Kemal đă thay đổi toàn bộ h́nh ảnh nước Thổ. Người dân Thổ rất chân thành ghi ơn Ông. Ông mất năm 1938, lăng mộ của Ông là nơi được mọi du khách đến chiêm ngưỡng dù nắng hay mưa. Trong cái nh́n của tôi th́ lăng của ông thật khô khan quá, thiếu hẳn bóng cây. Một người nào đó trong nhóm của tôi có nhận xét rằng lăng của Ông có nét giống kiến trúc lăng mộ của Ai cập. Ông tua gai cho biết "v́ rằng nguồn gốc của chúng tôi là dân du mục (di dân từ Mông cổ) nên không có truyền thống xây lăng mộ cho người chết. V́ thế khi xây lăng cho Mustapha Kemal, các kiến trúc sư phải sao chép một kiểu nào đó, có lẽ họ đă chọn theo lối Ai cập."
Ngày nay, Thổ là một thành viên của khối NATO, có quyền duy tŕ quân đội tối tân với quân số 750,000 người gồm không quân, hải quân và bộ binh. Thổ đang là chuẩn thành viên của EU. Họ cần phải sửa đổi một số luật lệ cho phù hợp với yêu cầu chung của khối EU, sang năm (2010) họ sẽ được kết nạp chính thức. Họ cũng đang trên đà hiện đại hóa và tiêu chuẩn hóa đời sống thường nhật, không thua ǵ các nước đă phát triển từ lâu.
xem tiếp :
|