Vơ Hương An

huế của một thời

 

ẢNH HƯỞNG CUNG Đ̀NH

TRONG PHONG CÁCH HUẾ (2)

 

 

 

          Khó mà xác định đến thời điểm nào th́ h́nh ảnh cô nữ sinh Đồng Khánh với mái tóc thề, chiếc nón bài thơ và tà áo trắng  đă trở thành một trong những biểu tượng của xứ Huế, mang đặc tính tượng trưng gợi cảm chẳng khác ǵ sáu nhịp cầu Trường Tiền mềm mại, ḍng sông Hương lặng lẽ và tháp Thiên Mụ cổ kính soi bóng lung linh.  

 

Hẳn h́nh ảnh duyên dáng yêu kiều  và nên thơ đó không phải được h́nh thành do một quyết định của Bộ Giáo Dục, buộc học sinh trung học  nam nữ phải đồng phục, như người ta có thể nghĩ một cách đơn giản.  Có lẽ nó phải được kế thừa từ một phong cách Huế, thắm đậm từ hàng trăm năm, làm cho người phụ nữ Huế, trong một thời quá khứ không xa, dù giàu hay nghèo, nhàn du hay buôn gánh bán bưng, cũng khoát chiếc áo dài trên ḿnh khi bước chân ra đường.

 

Anh bạn người Cần Thơ của tôi lần đầu tiên bước chân đến Huế đă “nhín cười muốn chết” khi thấy bà bán xu-xoa vai gánh hàng, mặc áo dài, mà . . . chân đất ! Đó là một h́nh ảnh đầy vẻ cầu kỳ và mâu thuẩn của người Huế so với lối sống b́nh dị của người miền Nam. . .  Mặc dù trí nhớ ngày càng tồi tệ với thời gian, nhưng một trong những h́nh ảnh  thời thơ ấu c̣n in đậm trong kư ức tôi trên đất khách này là mụ Ḿ và mụ Ngăi.

 

Mụ Ḿ là một người đàn bà tứ cố vô thân, sống trong một căn lều xiêu vẹo sau lưng lầu Ông Hoàng Tùng Đệ.  Mụ sinh nhai bằng nghề nói vè: Vè Thất thủ Kinh đô, Vè Cô Thông Tằm, Vè Mụ Đội. . . Hàng ngày, với cặp sanh bằng gỗ trắc lên nước bóng như mun, mụ bước ḍ dẫm khắp mọi nẽo đường  của Huế để nói vè, kiếm vài xu độ nhật.  Giọng mụ khàn khàn, khi phải lên giọng diễn tả, cả con người ốm o của mụ rướn lên cùng cặp mắt trắng dă, đă phụ họa hữu hiệu vào t́nh tiết câu chuyện bi thảm và làm cho nước mắt người nghe khó mà ngăn được tuôn trào.  Bà ngoại tôi và mạ tôi đă đổ nước mắt như thế không biết mấy lần, dù nội dung câu chuyện đă được các bà thuộc nằm ḷng.  Tôi gọi đó là những giọt nước mắt nuôi sống mụ Ḿ.  Dù cơ cực như thế, dù làm nghề hát dạo của một kẻ ăn xin, mụ Ḿ vẫn luôn luôn mặc áo dài, một manh áo dài vá chằm vá đụp.          

 

C̣n mụ Ngăi, có khá hơn mụ Ḿ một tí, ở ngay trong xóm tôi, và vốn liếng sinh nhai là đôi triên gióng, chiếc đ̣n gánh lên nước và mấy cái mẹt và mũng đựng nào me, ổi, đào, sấu, khế ngọt, sim, hột móc, hột sót . . . mùa nào thức nấy, cung cấp quà vặt cho bọn tḥ ḷ mũi xanh “nhất quỉ nh́ ma thứ ba học tṛ”.  Tứ thời bát tiết, mụ Ngăi cũng áo dài . . . chân đất.  Thậm chí đến mấy o, mấy chị làng Chuồng hay Cửa Thuận, người tanh ŕnh, gánh cá chạy ào ào, làm đày và chửi rất ngọt, mồ hôi mồ kê tùm lum . . vậy mà cũng áo dài.

 

Chế độ phong kiến nào cũng tạo ra đẳng cấp với sự phân biệt về đặc quyền đặc lợi trong đời sống, v́ đó là một nguyên tắc phải có nhằm mục đích  duy tŕ quyền uy của chế độ và sự hưởng thụ của người ngồi trên.  Những đặc quyền đặc lợi đó được thể hiện rơ rệt trong ở trong lối ăn, mặc và ở.  Giai cấp quan quyền, ngoài phẩm phục vua ban, họ c̣n có khả năng may mặc với lụa là gấm vóc, chế tác theo sở thích trong khuôn khổ của luật pháp.  Các bà có chồng làm quan, dĩ nhiên cũng được thơm lây, được sắc phong tùy theo chức tước và địa vị của chồng, từ đó có những quyền lợi phụ thuộc đi kèm. Chiếc áo “mạng phụ” (mệnh phụ) của các bà cùng với chiếc khăn vành về sau đă được phóng tác và phổ biến trong xă hội  qua chiếc áo cưới khoác ngoài và cái khăn vành rây đội đầu của các cô dâu ngày nay.  Những ǵ về ăn mặc đă được vua qui định, dĩ nhiên không ai dám vi phạm, nhưng không cấm được những chế tác mô phỏng từ những qui định đó  để làm cho cuộc đời tươi đẹp hơn.  Chẳng hạn, phụ nữ vào các dịp lễ lạc, không phân biệt giai tầng, nếu có điều kiện tài chánh vẫn diện được áo “mớ hai mớ ba” như ai.  “Mớ hai” là mặc hai lớp áo dài, “mớ ba” là ba lớp.  Các bà chọn màu theo “gam” các bà thích và bảo thợ may các áo đó cùng một lần.  V́ sao?  V́ các áo đó phải mặc chồng lên nhau và các màu sắc phải được phô bày nên thợ phải đo may một lần mới tính toán được.  Áo trong bao giờ cũng hẹp và ngắn hơn áo ngoài để khi mặc vào các lớp áo ôm sát nhau  và khi bước đi, những tà áo theo bước chân phe phẩy khoe màu theo thứ lớp, trông đẹp mắt và khác lạ hơn người.

 

Áo mớ hai, mớ ba, áo gấm, áo mệnh phụ hay bất cứ loại áo đẹp nào cũng phải đi với quần “xếp con”, là loại quần có hai ba đường xếp nhỏ, rộng độ năm sáu ly, chạy hai bên hông.  Đường xếp chạy dọc từ lưng xuống lai.  Hai tà áo gặp nhau vừa đúng đường xếp của quần.

 

 

Khăn vành và áo mạng phụ, tiền thân

của khăn và áo cưới của cô dâu ngày nay.

 

Phụ nữ Huế b́nh dân c̣n có một kiểu áo dài khác rất sáng tạo, đó là “áo nối khoác”.  Cơm ăn và áo mặc là hai vấn đề bức thiết trong cuộc sống, nên càng tiết kiệm càng tốt.  Thế nên khi các bà có áo dài rách vạt hoặc rách vai, rách cổ, thấy chằm vá cũng kỳ mà bỏ đi  th́ phí của trời, vậy nên các bà mới đem nửa dưới lành lặn của cái này chắp với nửa trên lành lặn của cái kia, tạo thành một chiếc áo mới với hai màu sắc khác nhau, có khi rất nhă.  Diễn tả như thế, bạn đọc cũng đă hiểu được chữ “nối” trong “áo nối khoác” là ǵ.  Thế c̣n “khoác” là ǵ?  Đây không phải là một từ đệm, nó có một nghĩa ngang hàng với “nối”. 

 

Như đă nói, mặc áo dài ra đường là phép lịch sự tối thiểu của phụ nữ Huế, bất kể giàu nghèo sang hèn.  Tỏ ra lịch sự, nề nếp, con nhà, là điều cần thiết, dù ăn rau ăn mắm đi nữa, nhưng . . . thiệt t́nh mà nói, đôi lúc cũng phiền toái.  Bước ra đầu xóm hỏi thăm chút việc, ra quán đầu ngơ chờ cá Cửa Thuận gánh lên, bước qua nhà bà Cửu cách có ba nhà để xin ít lá chanh nướng thịt . . . mà cũng mặc nguyên chiếc áo dài sao? Có vẻ long trọng quá!  Đă thế, tiết hè oi ả, có việc ǵ quan trọng để phải chịu  cực h́nh trong chiếc áo dài như thế ?  Trong những trường hợp đó, chiếc “áo nối khoác” thật là thích hợp:  quơ vội cái áo, các bà khoác lên ḿnh, không xỏ tay, chỉ cài một khuy cho chiếc áo khỏi rơi, và cứ thế ung dung dạo xóm, vẫn giữ được phép lịch sự mà không thiếu thoải mái!  Trong ư nghĩ “cù lần” của tôi, chiếc áo nối khoác này là một sáng tạo có giá trị như giá trị sáng tạo của món cơm hến.

 

H́nh như cơm hến được chế tác trong mục đích  tiêu thụ cơm nguội của tối hôm trước với vật liệu sẵn có trong tầm tay:  ruốc, mỡ hẳn là luôn luôn sẵn có trong nhà; môn bạc hà, bắp chuối, rau thơm, ớt tươi . . . có sẵn sau vườn.  Chỉ cần chịu khó đợi “con mệ bán hến” đi ngang ngơ là có đầy đủ thành phần cho một bữa ăn khoái khẩu.  Không có một sáng tạo nào vừa tiết kiệm lại vừa có tính nghệ thuật cao tuyệt vời đến thế, vừa vị nghệ thuật vừa vị nhân sinh.  Cái áo nối khoác ra đời cũng trong điều kiện tương tự.

 

Sau năm 1975, với “nếp sống văn minh” thể hiện từ những “đỉnh cao trí tuệ”, tà áo dài chợt biến đi như một quá khứ.  Trong một lần đi quét vôi thuê cho một gia đ́nh nọ để chuẩn bị đám cưới, tôi đă được nghe một mẩu đối thoại lư thú giữa hai bà sui về chiếc áo dài truyền thống.

 

Bên đàng gái ở Huế, thuộc gia đ́nh “có công với cách mạng”. Đàng trai gốc Quảng B́nh, bà mẹ là một cán bộ trung cấp làm việc tại Hà Nội, có con trai vào làm việc ở Sàig̣n và gặp người yêu ở đó.  Cả hai dẫn nhau về Huế, đón mẹ từ Hà Nội vào để làm lễ cưới.

Bà sui gái:

-Chị có đem theo áo dài không?

Bà sui trai:

-Chị nói áo dài ǵ cơ?

-Th́ áo dài để mặc vào các dịp lễ như cưới hỏi như ri ń.

-Ồ, làm ǵ có.  Loại áo đó xưa rồi, ở ngoài ta họa may chỉ có mấy bà cụ già bảy tám mươi mới c̣n có loại áo đó.  Bây giờ, nếp sống văn minh, để tiện công tác, sinh hoạt, lễ lạc ǵ người ta cũng  ăn mặc đơn giản thôi.

-Ở ngoài đó th́ được, chớ ở đây cưới hỏi như ri mà mặc rứa không được mô, bà con người ta cười chết.  Thôi, chị cở người cũng bằng em... chị coi cái mô mặc vừa và ưng ư th́ lấy để mai mốt mặc khi làm lễ.  Ở mô th́ phải theo phong tục ở đó, làm không giống ai, thiên hạ người ta cười, em chịu không được mô.

-Ồ, ồ, hay nhỉ.  Mà làm sao chị có nhiều áo dài đẹp thế ?

Câu chuyện xảy ra vào mùa hè 1985.  Cũng may nhờ có “đổi mới tư duy” nên nay chiếc áo dài truyền thống đă sống lại, nếu không, nghề may áo dài chừng mươi năm nữa th́ tuyệt giống và các nhà dân tộc học quốc tế hẳn sẽ khổ công t́m kiếm cái gọi là quốc phục của một nước có hơn bốn ngàn năm văn hiến! 

 

Thành ngữ “ăn Bắc mặc Kinh” phổ biến khắp mọi miền, ai cũng biết.  Chữ  “Ăn” với nghĩa là “nói năng” hay “ăn uống”, người ta vẫn c̣n bàn căi, chưa ai chịu ai, nhưng “mặc Kinh” th́ ư nghĩa đă quá rơ ràng, hiển nhiên.  Do ảnh hưởng của lối sống cung đ́nh, việc ăn mặc ở chốn kinh đô đă trở thành một tiêu chuẩn thời trang chẳng khác ǵ thế giới khi hướng về  thời trang Paris hay New York.

 

Vua Minh Mạng, sau cuộc kinh lư miền Bắc (ngự giá Bắc tuần, 1821, thấy lối mặc váy của phụ nữ ngoài đó không được nhă, đă hạ chiêu bắt phải thay đổi cách ăn mặc.  Dư luận nhao nhao lên phản đối, phản ảnh  qua bài ca dao sau : 

Tháng Tám có chiếu vua ra,

Cấm quần không đáy, người ta hăi hùng.

Không đi th́ chợ không đông,

Đi, th́ phải lột quần chồng, sao đang?

Có quần th́ ra đứng đàng,

Không quần, về đứng đầu làng trông quan. 

 

Cũng may là con người có ư hướng hướng thượng, dần dà rồi cũng hiểu ăn thế nào là ngon, mặc thế nào là đẹp, và dù phản đối, dần dà rồi chiếc váy sồi dày như mo cau kia cũng lui về quá khứ, nhường chỗ cho chiếc quần dài tha thướt, hài hoà với chiếc áo dài xinh đẹp, làm tôn giá trị của người phụ nữ Việt Nam.  Trong tiến tŕnh làm đẹp cho dân tộc, Huế không dấu diếm niềm hănh diện mở đường. Nếu bài thơ “Áo lụa Hà Đông” đă đưa Nguyên Sa vào lịch sử văn học th́ người dân Huế cũng biết ơn nhạc sĩ Hoàng Nguyên với “Tà Áo Tím”.  Màu “Tím Huế” đă trở thành một đặc trưng của Huế mơ màng và trầm mặc.  Tạ ơn đời, ngày nay những tà áo trắng đă sống lại bên bờ sông Hương, nối lại một truyền thống tưởng như đă mất hẳn kể từ cái năm 1975 đó.

 

*

 

Nếu ảnh hưởng cung đ́nh trên cách ăn mặc nặng về phong thái hơn là vật chất th́ xem ra ảnh hưởng này trên ngôn ngữ có vẻ phong phú hơn.  Hẳn là v́ “lời nói không mất tiền mua” và giai tầng nào cũng có thể đóng góp vào sự phong phú đó một cách dễ dàng, tùy nhận thức và cảm tính. Theo thiển nghĩ, cung đ́nh đă ảnh hưởng trên lối nói của người Huế qua hai yếu tố tác động:  sự bắt buộc phải kiêng húy và sự phân biệt đẳng cấp qua ngôn ngữ. 

 

Nhớ hồi c̣n bé, anh chị em chúng tôi nhiều lần bị bố mẹ la rầy là “đồ bất hiếu”, “đồ vô lễ”, chỉ v́ trong lúc nói năng không kịp suy nghĩ trước sau đă phạm vào “trọng húy”, dùng những chữ trùng tên ông bà nội, ông bà ngoại hoặc các bậc trưởng thượng khác.  Ôi, biết bao kiêng cử phải theo, làm sao mấy đứa nhỏ nhớ cho xuể:  nào kiêng tên ông bà, tổ tiên, nào kiêng tên vua chúa, nào kiêng tên thần hoàng, khai canh . . . Cô em tôi sinh ra, được đặt tên là Xuân Minh, trong nhà thường gọi tắt là Minh. Tôi nhớ rằng cái tên Minh được gọi đâu chừng bốn năm tháng th́ thầy mẹ tôi bảo cả nhà từ nay phải gọi tên em là Miên.  Tôi hỏi mẹ: “Tại răng lại đổi tên em? Tên Miên nghe dở ỏm”. Mẹ tôi cho biết là cậu tôi đề nghị đổi tên, v́ tên Minh trùng với tên của một bậc trưởng thượng bên ngọai, đang c̣n sống.  Rút kinh nghiệm đó, khi nhà tôi có thai đứa con đầu, hai vợ chồng tôi chọn một loạt tên con trai và con gái, xong đưa danh sách cho thầy tôi duyệt.  Những cái tên “phạm húy” được gạch bỏ, phần c̣n lại, chúng tôi cứ thế mà dùng đặt tên cho các con.

 

Vào nửa trước thế kỷ XX, khi ảnh hưởng của tư tưởng Tây phương chưa lấy ǵ làm sâu đậm, hầu như đại đa số người Việt, theo truyền thống, đă quan niệm rằng cái tên rất đáng trọng, nhất là khi địa vị người đó trong xă hội càng cao, hoặc khi người đó đă quá văng.  Gọi tên tục của người khác là một thái độ bất kính.  V́ vậy, để tỏ sự kính trọng, phải kiêng tên người đó, chỉ được gọi bằng chức tước, địa vị hoặc thứ bậc trong gia đ́nh mà thôi.  Ví dụ, trước năm 1945, ở Huế và Quảng Trị, khi người ta muốn nói đến ông Nguyễn Hữu Bài, Thượng thư Bộ Lại của triều đ́nh Huế trước 1932, thường gọi là “cụ Quận Phước Môn”, v́ ông được phong làm Phước Môn Quận Công.

 

Trong các dịp ma chay, cúng giỗ, khi các thầy đọc sớ, điệp (nếu cúng Phật), thường ngân nga lên giọng, thế nhưng đến tên người quá cố, liền xuống giọng như th́ thầm là để tỏ ḷng tôn kính người đă khuất.  Thời c̣n cắp sách đến trường tiểu học (cấp 1), ai trong chúng ta hẳn cũng đă hơn một lần bằng mọi cách bảo vệ cho được cái thông tín bạ (học bạ )  thầy cô phát ra chỉ v́ không muốn cho đứa bạn ngồi bên cạnh đọc thấy tên cha mẹ ḿnh, sợ có ngày nó đem ra chửi.  Réo tên ông bà, cha mẹ của đối phương ra mà chửi là một thái độ mạ lỵ cùng tột.  Ở trong dân gian mà c̣n thế, huống ǵ đối với tâng lớp thống trị đương quyền. 

 

Triều đại nào cũng coi trọng sự kiêng tên của các vua chúa và điều này thường được thể hiện bằng luật pháp, nghĩa là bắt buộc mọi người phải thi hành.  Hăy lấy một thí dụ về cái tên cửa Tư Hiền, một trong hai cửa biển của Thừa Thiên mà không một người Huế nào không biết.  Nguyên cửa biển này đời Nhà Lê đặt tên là Tư Dung.  Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi Nhà Lê, bèn ra lệnh đổi tên là Tư Khách.  Khi Nhà Lê trung hưng, chiếm lại được Thuận Hóa, liền ra lệnh trở lại tên cũ là Tư Dung.   Đào Duy Từ, khi theo chân nhạc gia từ Khánh Hoà ra Phú Xuân  để mưu cầu một cuộc tiến thân dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Săi), ghe của ông đă vào cửa Tư Dung để ngược ḍng Hương đến kinh đô.  Đối cảnh sinh t́nh, Đào Duy Từ đă sáng tác bài ca Tư Dung Văn để kư thác tâm sự của kẻ chưa gặp thời.  Nhiều người không rơ nguyên ủy, đă lấy làm lạ tại sao Đào Duy Từ vào cửa Tư Hiền mà lại gọi là Tư Dung?    Cái tên Tư Dung tồn tại đến năm 1841 th́ chấm dứt.  Năm đó, hoàng tử Miên Dung lên nối ngôi vua, lấy niên hiệu là Thiệu Trị (1841-1847).  Gọi Tư Dung là phạm trọng húy, nên Bộ Lễ phải tâu xin đổi lại tên khác; cái tên Tư Hiền  ra đời từ đó. 

 

Thời trước, thí sinh dưới bất cứ triều đại nào cũng lấy làm lo sợ về việc phạm húy v́ việc này sẽ dẫn đến những hậu quả lắm khi thật tệ hại.  Trước mọi kỳ thi, những qui định về việc kiêng húy được thông báo cho thí sinh rơ và thầy nào dạy học tṛ đi thi cũng phải dạy kỹ điều đó.  Tuy nhiên, v́ phải kiêng húy quá nhiều, có khi nhớ không xuể, sơ sót vi phạm là thường. 

 

Đến triều Nhà Nguyễn, xem ra việc kiêng húy càng trầm trọng hơn.  Một ông vua Nhà nguyễn thường có năm tên:

-Danh tự:  là tên tục, tên móc nôi, tên do cha mẹ đặt khi mới sinh ra.

-Ngự danh:  là tên mới, nhận lănh khi lên làm vua. Vua Minh Mạng (1820-1841 sau khi chọn 20 chữ có ư nghĩa hay, viết theo bộ Nhật (mặt trời, đă cho khắc vào Kim sách (sách đóng bằng những lá vàng dát mỏng, thay cho giấy) và qui định rằng khi một hoàng tử được chọn nối ngôi, sẽ không dùng tên cũ nữa, mà phải mang một tên mới, lấy theo thứ tự ghi trong Kim sách.  Thừa mệnh Trời, nhận lănh nhiệm vụ mới đầy thiêng liêng và cao cả, vậy phải có tên mới và phải tỏ ra xứng đáng với tên mới đó. Ấy là ư nghĩa của sự chế tác Kim sách.

-Niên hiệu:  là tên của triều đại đương thời.  Ví dụ Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị . . . là niên hiệu.

-Thụy hiệu: là tên gọi khi chết, tên dùng để khấn khi cúng bái (tên cúng cơm).   Khi vua băng hà, triều đ́nh dâng thụy hiệu, nghĩa là đặt tên mới cho vua.  Việc đặt tên mới cho người quá văng là một việc phổ biến đối với mọi người (tên này sẽ được viết vào lá triệu) chứ không phải là một đặc quyền của hoàng gia.

-Miếu hiệu:  sau khi chôn cất xong, vua quá cố sẽ được thờ tại Thế miếu và Triều đ́nh lại đề nghị một tên mới để thờ, gọi là miếu hiệu.  Ví dụ vua Gia Long có miếu hiệu là Thế tổ Cao Hoàng đế, vua Minh Mạng là Thánh tổ Nhơn Hoàng đế.

 

Khi vua mới lên ngôi, Bộ Lễ có nhiệm vụ rà soát lại tất cả mọi địa danh trong nước, xem có nơi nào trùng tên với vua không. Nếu có th́ phải dâng sớ đề nghị xin đổi tên mới, v́ danh tự và ngự danh là trọng húy, tuyệt đối không được nói đến, vi phạm sẽ bị ghép vào tội khi quân, là một trọng tội theo pháp luật xưa.  Quan hay dân có tên trùng với tên của vua cũng phải lo đổi gấp.  Thậm chí, đối với các quan nếu có họ hay chữ lót trùng với tên vua mới cũng phải thay đổi.  Khi hoàng tử Ưng Đăng trở thành vua Kiến Phúc (1884) th́ ḍng họ Trương Đăng, một thế gia vọng tộc ở Quảng Ngăi, phải đổi thành Trương Quang để khỏi trùng tên với vua. 

 

Như vậy, cứ mỗi lần có vua mới, trong dân gian lại có thêm những chữ phải kiêng cử, không được nói tới, có nghĩa là phải sáng tác ra chữ mới để dùng.  Cái tên của vua thiêng liêng cho tới nổi các sử thần không dám viết thẳng tên vua vào sử mà phải viết theo lối chiết tự, ai muốn biết th́ tự ghép lại, sẽ đọc được đó là chữ ǵ. 

 

Hẳn có người sẽ đặt câu hỏi: việc kiêng tên người đâu phải là một đặc điểm của Huế, bằng cớ là ở trong Nam, người ta kiêng tên ông Tả Quân Lê Văn Duyệt nên gọi “duyệt” là “dượt”, kiêng tên chúa Nguyễn Phúc Nguyên nên gọi “nguyên” là “nguơn”.  C̣n ở ngoài Bắc, người ta kiêng tên chúa Trịnh Tùng nên gọi “tùng” là “ṭng” v.v. và v.v.

 

Vâng, chúng tôi cũng hiểu điều đó, nhưng điều cần lưu ư ở đây là Huế, chốn kinh đô, gần mặt trời, do đó việc kiêng húy càng được đặt nặng hơn các nơi khác.  Trong việc kiêng húy này, giới nào phải chấp hành trước và chấp hành triệt để?  Đó chính là giới quan lại mà Huế là nơi “thổ sản”.  Chính phát xuất từ gia đ́nh các quan lại mà ảnh hưởng lan vào quần chúng, một kiểu ảnh hưởng dây chuyền, như chúng tôi có dịp tŕnh bày trong bài trước, khi nói về ảnh hưởng cung đ́nh qua cách ăn của người Huế (Tiếng Sông Hương, Dallas,1992.

 

Thầy tôi vốn làm quan dưới hai triều Khải Định (1916-1925) và Bảo Đại (1925-1945), hồi chúng tôi mới bắt đầu cắp vở đi học đă được dặn là phải kiêng húy của “hai ngài”, ngoài tên của các ông bà nội và ngoại.  Vua Khải Định có tên là Bửu Đảo, vua Bảo Đại có tên là Vĩnh Thụy.  Thế là chúng tôi phải gọi ḥn đảo là “ḥn cù lao”, gọi thụy là “thị”.  Khi muốn nói “đảo ngược” th́ phải nói là “trở ngược”.  Thử hỏi lúc bấy giờ, dưới sự đô hộ của người Pháp, vua Việt Nam đă không c̣n thiêng như ngày trước mà c̣n đến thế huống hồ là vào lúc thịnh thời của đế chế. 

 

"Hồng” đă được người Huế biến thành “hường”, “hoa” trở thành “bông”, v́ vậy ngưới ta th́ gọi là “hoa hồng” nhưng người Huế cứ là “bông hường”, chỉ v́ kiêng tên vua Tự Đức (húy là Hồng Nhậm) và tên của của bà Hồ Thị Hoa, thân mẫu vua Thiệu Trị.  Tỉnh Thanh Hoa trở thành Thanh Hóa và “trách nhậm” trở thành “trách nhiệm” cũng là thế.

 

*

 

Nếu có những chữ “đặc Huế” mà chúng ta có thể truy t́m được nguồn gốc của sự thay đổi như đă dẫn chứng đại khái ở trên  th́ cũng có những chữ đặc Huế khác mà chúng ta khó biết do đâu mà thành h́nh, ngoại trừ kết luận một cách chung chung là do vấn đề kiêng húy mà ra.  Chẳng hạn người Huế thường gọi mẹ là “mạ”, có vùng gọi cậu mợ là “cụ mự”, gọi nước là “nác”, bản là “biển”, lạt là “lợt”, và ít khi phân biệt sự khác nhau giữa “màu” và “mùi”, v.v.

 

Sự kiêng húy quả có ảnh hưởng trên lời nói của người Huế, nhưng thực sự không mạnh mẽ và sâu xa bằng ảnh hưởng  của vấn đề phân biệt đẳng cấp qua ngôn ngữ, phát xuất từ trật tự cung đ́nh. 

 

Do ảnh hưởng của truyện Tàu, của hát bội, cải lương, nên không ít người nghĩ rằng trong cuộc sống hàng ngày nơi cung cấm hẳn hoàng gia cũng gọi nhau như tiểu thuyết từng mô tả, chẳng hạn con gọi mẹ là “mẫu hậu”, mẹ gọi con làm vua là “vương nhi” v.v.  Tôi cũng hơn một lần nghĩ như thế cho đến khi biết được sự thật.  Hoàng gia Nhà Nguyễn gọi nhau khá b́nh dị nhưng trong sự b́nh dị đó vẫn hàm chứa tính cách vương giả. Chẳng hạn:

-Vua gọi mẹ (hoàng thái hậu) là  ;

-Hoàng thái hậu gọi vua là Con hay Hoàng đế;

-Vua gọi hoàng hậu (hay Nhứt giai phi) và các thứ phi bằng ;

-Con gọi vua cha là Đức Cha;

-Cháu gọi bà là Đức Bà;

-Em gọi anh là Đức Anh (hay Đức Yên), gọi chị là Đức Chị;

-Hoàng gia và triều thần gọi vị vua đă quá cố (băng hà) là Đức Tiên Đế và các vị vua đời trước là Liệt Thánh.

 

Vua xưng với các quan là Trẫm hay Ta và gọi các quan là ngươi.  Để tỏ ḷng yêu mến th́ gọi là khanh, hoặc tôn trọng hơn nữa th́ gọi là thầy.  Các quan khi đối thoại với vua th́ xưng là chúng tôi.  Những danh xưng như thần, hạ thần, cũng có thể dùng hoặc không trong đối thoại nhưng tuyệt đối phải dùng trong giấy tờ dâng lên vua (sớ, biểu).  Ngoại trừ hoàng thái hậu, c̣n tất cả, từ hoàng hậu trở xuống cho tới các quan và thứ dân, mở đầu đối thoại với vua, dù trực tiếp hay gián tiếp, đều phải dùng chữ tâu hoặc tấu để mở đầu câu nói.

 

Vua th́ phải khác người thường, do đó những ǵ liên hệ tới công việc và cuộc sống hàng ngày của vua cũng có thể cách riêng để diễn tả.  Vua ăn th́ gọi là Ngài ngự thiện; vua ngủ là Ngài ngơi hay Ngài ngự ngơi;  vua ngủ chưa dậy là Ngài ngơi chưa tánh;  vua bệnh gọi là Ngài se ḿnh;  vua cho ai cái ǵ th́ gọi là Ngài ban hay Ngài ân tứNgài ban cũng có nghĩa là vua ra lệnh, vua truyền phán, vua nói về một điều ǵ đó.  Nếu bữa cơm của vua với ba mươi lăm phẩm vị đă có thể được mô phỏng để trở thành mâm giỗ đặc biệt của người Huế th́ lối nói năng của cung đ́nh, qua trung gian của đẳng cấp quan lại và gia đ́nh họ, hẳn phải gây ít nhiều ảnh hưởng trong cách nói của người Huế. 

 

Người Huế chúng ta, nhất là lớp cũ, hẳn không lạ ǵ phong cách của các “mệ” (danh xưng để chỉ nhưng người trong Hoàng tộc, bất kể nam hay nữ) trong cách ăn nói, luôn luôn biểu lộ cái vẻ quyền uy, đài các, có khi đến độ gần như giả tạo, nếu nh́n dưới một kh́a cạnh khác.  Một giai thoại kể rằng có một “mệ” vốn là con cháu của một ông hoàng, nhưng v́ ăn chơi quá độ nên cảnh  nhà trở thành sa sút, thường phải vay mượn, thậm chí, có khi phải xin tiền của người quen biết trước kia để mà tiêu.  Thế nhưng kiểu xin của mệ cũng khác người ta. Xin vài xu để mua khoai lang luộc ăn cho đở đói nhưng mệ lại nói:  “Ń, có tiền dâng mệ ít nhiều để mệ chém đầu mấy củ khoai.”  Nếu không phải là Huế, đă biết về các mệ, thật khó thưởng thức câu nói đầy tính hài hước đó.

 

Trong giao tiếp, đối với vua, muốn nói một điều ǵ, tất cả phải mở đầu bằng “tâu”.  C̣n quan cấp nhỏ nói với quan cấp trên th́ phải “thưa” hoặc “bẩm”, có khi c̣n phải thêm chữ “kính” ở đàng trước nếu muốn tỏ ḷng cung kính hơn, hoặc muốn giở giọng nịnh.  Những lối nói này cũng áp dụng trong dân dă khi họ đối thoại với những người có địa vị hoặc những bậc tuổi tác, trưởng thượng trong gia đ́nh.

 

Về cách mời ăn, để tỏ ḷng kính trọng, người Bắc bao giờ cũng nói “mời (ông, bà, anh, chị ...) xơi cơm.”  Với người Huế, tôi thấy cả một loạt từ ngữ phong phú nói về việc ăn, áp dụng cho từng đối tượng khác nhau, tùy theo mối tương quan thứ bậc gia đ́nh hoặc xă hội giữa hai bên, biểu lộ tính đẳng cấp rơ rệt.  Chẳng hạn:

-Để tỏ ḷng kính trọng th́ mời xơi cơm, thời cơm;

-Vừa phải, lịch sự, th́ mời dùng cơm;

-Ngang hàng, cùng trang lứa, thân mật th́ mời ăn cơm;

-Coi thường, nói với kẻ dưới tay, nói với “bầy quân”, “sáp nhỏ”,nói giận dỗi, nói làm đày, th́ có: làm năm ba hột, mần một bụng, ních, đẫn, tứa, dộng, tạp, táp...

 

Người ta kể rằng hồi c̣n chế độ thuộc địa, Chánh Sở Mật thám Trung kỳ, Léon Sogny, rất thông thạo chữ Hán và tiếng Việt.  Tuy vậy, ông ta vẫn không ngừng t́m cách học hỏi thêm, bất cứ ở đâu, với bất cứ ai.  Để thông hiểu ngôn ngữ của giới b́nh dân xứ Huế, Sogny thuê một chiếc xe kéo, dặn mỗi buổi chiều khi đến giờ tan sở th́ đem xe đến trước cửa Ṭa Khâm để chở “quan lớn” đi dạo mát.  Một khi đă ngồi trên xe, Sogny t́m mọi cách gợi chuyện và chuyện tṛ rôm rả với anh phu kéo xe.  Thấy “quan lớn” b́nh dân, lại thông thạo tiếng “An-Nam”, anh phu kéo xe tỏ ra rất hứng khởi trong những lần kéo xe chở quan đi dạo.  Sau một thời gian thực tập như thế, Sogny cảm thấy vốn liếng ngôn ngữ b́nh dân của ḿnh ngó bộ đă vững vàng hung, bèn thử t́m cách tự trắc nghiệm khả năng.  Một buổi chiều, “quan lớn” nói với anh phu xe kéo : “ Từ bữa ni, tau cho phép mi nói bất cứ câu chi mà tau không hiểu th́ tau thưởng cho mi một đồng bạc.”  Anh xe kéo tưởng ḿnh nghe lầm, v́ đồng bạc lúc bấy giờ có giá trị lớn lắm, một cuốc xe chừng năm, sáu xu, chạy đổ mồ hôi trán mới có, nay chỉ nói chơi chơi mà được cả đồng bạc, sướng biết chừng mô.  Ấy vậy mà không dễ ăn.  Mấy bữa liên tiếp, anh ta đều thất bại, v́ “quan lớn” rành tiếng “An-Nam” quá, nói chi quan cũng hiểu.  Một hôm, anh chợt nghĩ ra diệu kế, bèn đem ra thực hành ngay.  Sau khi “quan lớn” an tọa trên nệm xe, anh xe kéo vừa nâng càng xe lên vừa hỏi: 

-Da, bẩm quan lớn, chiều ni ngài đă tứa chưa mà đi giởi sớm ri?

 

Sogny khựng người khi nghe câu hỏi.  Im lặng một lát, ông ta lên tiếng:

-Giỏi!  Rứa là mi được thưởng một đồng bạc như tau đă hứa.  Mi nói câu nớ nghĩa là răng?

-Dạ, có chi mô.  Con chỉ hỏi quan lớn là quan đă xơi cơm chưa mà đi chơi, đi dạo sớm như thế này.  Nhà quê nhà mùa tụi con, có khi gọi ăn cơm là tứa hoặc dộng, c̣n gọi đi chơi, đi dạo là đi giởi. 

 

Cái điều anh xe kéo nghĩ ra là mấy lâu nay anh đă cố gắng dùng ngôn ngữ lịch sự để nói chuyện với “quan lớn” cho khỏi thất lễ, do đó quan hiểu hết.  Nay thử cho quan nghe ngôn ngữ của bọn cùng đinh xem sao.  Quả thật quan chịu thua.  Câu chuyện không biết chứa được bao nhiêu phần trăm sự thật, nhưng ư nghĩa của nó thật thú vị:  “quan lớn” tuy học giỏi thiệt nhưng không phải cái ǵ ngài cũng biết hết; muốn biết, phải tốn tiền cho thầy, mà thầy là anh phu xe kéo. 

 

Không biết bạn nào gặp bài học như trường hợp của tôi hồi c̣n bé như thế này chưa?  Một lần, sau khi ăn xong hai chén cơm, tôi buông đũa rút lui, v́ trước đó đă “lót dạ” hai chén chè đậu đen rồi.  Thầy tôi hỏi: 

-Răng bữa ni con ăn ít rứa?

-Dạ, thưa thầy, con no rồi.

-Ờ, nhưng lần sau con đừng nói “no rồi”.  Khi người trên hỏi như rứa mà con trả lời “no rồi”, người ta có thể hiểu lầm là con nói lẩy.  Con nên nói là con “vừa bụng rồi”, không ai trách ḿnh được.

Chữ “no” người Huế có thể hiểu theo nghĩa bóng, biểu lộ một sự chán ngấy về mặt tâm lư trước một hành động hay lời nói của kẻ khác đối với ḿnh: “nghe hắn nói, tau no cả ruột”.

 

Chữ “cụ” trong ngôn ngữ Huế  cũng có một ư nghĩa khá phức tạp, tùy ngữ cảnh mà nó mang ư nghĩa khinh trọng khác nhau.  Khi dùng chữ cụ để gọi một người có chức tước địa vị hay tuổi tác, th́ cụ mang ư nghĩa kính trọng.  Nhưng khi dùng chữ cụ để gọi một người đàn ông đi ăn xin, một người đàn ông sống bằng nghề lam lủ th́ cụ mang ư nghĩa là thằng.  Cụ Ngáo, cụ Trâu ở Huế thuộc loại này.  Ngoài ra, hàng ngày người ta cũng nghe nói về nhiều loại cụ khác, chẳng hạn cụ thợ nề, cụ thợ mộc, cụ ăn mày v.v.

Phân biệt mà không phân biệt, sự lập lờ trong ngôn ngữ này phải chăng cũng là một đặc điểm của Huế ?

 

Người Bắc thường dạy cho trẻ biết “gọi dạ bảo vâng” để phân biệt hai cách trả lời, biết khi nào th́ dạ, khi nào th́ vâng.  Người Huế cũng áp dụng điều đó nhưng hơi khác một chút.  Trong gia đ́nh Huế, khi tập cho trẻ con trả lời câu hỏi của người lớn, trẻ con được dạy phải nói là dạ có, dạ không, dạ chưa, dạ rồi, . . . chứ không được nói trống rằng có, không, chưa, rồi.  Chữ dạ đối với người Huế đă trở thành một chữ đệm cần thiết, mở đầu trong mọi câu nói, dù là câu hỏi hay câu trả lời cũng vậy.  Thiếu nó, là thiếu lịch sự, nếu không nói là vô lễ.  Đó là một đặc điểm mà người ngoại tỉnh đôi khi cho là cầu kỳ.

 

Những điều vừa tŕnh bày khái quát ở trên có cái ngày nay đă không c̣n hoặc đă phai nhạt, nhưng có cái vẫn đang hiện hành trong mỗi gia đ́nh.  Sự đổi thay là một tất yếu v́ cuộc sống là một ḍng sông luôn luôn đổi mới bởi nước từ trăm khe ngh́n suối tuôn dồn về để tạo nên ḍng nước vô tận.  Dẫu c̣n hay mất, những đặc điểm ấy cũng đă một thời tạo nên cái gọi là phong cách Huế.

 

Vơ Hương-An

San Jose, 8/93

 

 

huế của một thời

art2all.net