|
MỆ NGOẠI
Tranh Bé Kư
Tôi không hiểu tại sao toàn thể anh
chị em trong nhà đều gọi bà nội là bà nội mà lại gọi bà ngoại là mệ
ngoại. Tôi cũng chưa hỏi ai trong nhà về việc này, và tôi tin rằng ngoài
thầy mạ tôi, không anh chị nào trả lời được câu hỏi đó. Khi thầy mạ tôi
c̣n sống, không chịu hỏi, nay ông bà đều đă xa chơi từ lâu, biết hỏi ai
giờ, đành đoán là theo truyền thống của bên nội và bên ngoại mà gọi như
thế. Hồi c̣n bé, nhất là khi bắt đầu đi học, tôi không thích chữ mệ, v́ khi nghe mấy đứa bạn cùng lớp gọi bà của chúng bằng bà trong khi tôi lại gọi bằng mệ, nghe “nhà quê” quá. Khi lớn lên, được gọi mệ, thấy thích hơn, gần gũi hơn, nhưng khi đó th́ không c̣n mệ để mà gọi nữa, v́ mệ đă mất từ năm tôi học Đệ Ngũ.
Mệ húy là
Hồ Thị Th́n. Vào thế hệ của tôi, việc kiêng cữ tên của các bậc trưởng
thượng trong gia đ́nh là một tập tục phổ biến ở Huế, vậy mà tôi nhớ
dường như trong nhà không ai kiêng tên của Mệ cả, thiệt bậy quá, mà mệ
cũng chẳng trách móc chi. Bây giờ mà đi t́m “lư lịch trích ngang” của mệ
nghe cũng khó. Chỉ biết rằng mệ vốn người làng Thanh Thủy ở An Cựu, đầu
tiên về làm dâu nhà họ Đỗ ở làng Triều Sơn Đông, sinh được một con trai
là cậu Đỗ Xuân Khôi, rồi ông ngoại họ Đỗ mất sớm. Hẳn là thời thanh xuân
mệ cũng có chút nhan sắc, có nết hạnh, đảm đang, nghĩa là có tiếng tốt
trong làng, nên sau khi góa chồng th́ ông ngoại họ Lê đi cưới làm vợ thứ,
sau sinh ra mạ tôi và cậu Út.
Mệ mất ngày 16 tháng 6 năm Ất Mùi (3-8-1955), đó là điều chúng tôi biết
chắc chắn, nhưng ngày sinh th́ chịu. Hồi c̣n nhỏ, nghe nói mệ sinh mạ
tôi vào năm 28 tuổi, là năm Mậu Thân (1908), mệ lại thường kể chuyện băo
năm Th́n ở Huế (11-9-1904, Giáp Th́n) làm bay cầu Trường Tiền và thổi
người bay lên thấu đọt tre, tóc quấn vào ngọn tre vắt vẻo như ma treo cổ,
th́ đoán là mệ sinh đâu khoảng 1880, Canh Th́n. Điều này có lẽ đúng v́
mệ húy là Th́n, lấy năm sinh làm tên là chuyện thông thường ở Việt Nam.
Cho tới khi mệ mất, tôi biết mệ có ba người em trai nhưng không nghe nói
tới người em gái nào cả. Người em kế mệ là ông Thừa Nẫm, nhà ở Vạn Vạn,
sau đó v́ chiến tranh, phải dời nhà lên đ́nh Dương Phẩm gần cung An Định.
Khi ông Thừa c̣n ở Vạn Vạn th́ tôi c̣n quá nhỏ, chưa có dịp đến đó nên
chưa biết cái nhà ấy to lớn bề thế hay tầm thường, chứ cái nhà tạm ở
đ́nh Dương Phẩm th́ tôi tới lui thường xuyên. Đó là một ngôi nhà tranh
nhỏ ba gian, nền đất nhưng không mang vẻ lụp xụp nghèo nàn như mọi nhà
tranh khác thường thấy ở Việt Nam. Trái lại, mỗi khi bước vào ngôi nhà
tranh đó, ngồi uống nước nói chuyện thăm hỏi với ôn mụ Thừa tôi đều có
cái cảm giác thoải mái êm ả dễ chịu. Nhà luôn luôn có vẻ sáng sủa, sạch
sẽ và ngăn nắp, có lẽ nhờ có nhiều cửa sổ và không có trẻ con. Ngoài sân
có bể cạn với ḥn non bộ cùng vài chậu hoa kiểng, đủ cho ông Thừa đi ra
đi vào săm soi, ngắt cái lá này, tỉa cái cành kia, tưới vài gáo nước,
cho hết th́ giờ, nếu không có bạn rủ đi đánh tài bàn hay đánh kiệu. Bên
trên bể cạn là một giàn hoa thiên lư, mỗi bề chừng ba thước, bên dưới
treo lủng lẳng mấy gị phong lan. Trong nhà ông chưng một hai món đồ cổ,
vài bức tranh xưa và cây xanh, theo cung cách của mấy nhà nho, trông rất
trang nhă. Tôi vẫn chịu nhất là cái gốc dành dành rất đẹp thả trong
chiếc bát cổ vẽ men xanh, thường để trên cái kỷ đựng sách của ông. Gốc
cây sù ś, có dáng đẹp, đâm lên những cành non lớn bé cao thấp khác nhau,
trông mạnh mẽ và hài ḥa. Tôi hỏi ông mua gốc cây dành dành đó ở đâu th́
ông cười cười đáp: chán chi con, nó thường mọc bậy dọc bờ rào, chỉ có
tốn công đi t́m, và đào năm bảy gốc mới được một gốc vừa ư.
Ông Thừa đẹp lăo, râu ba cḥm trắng như cước, lúc nào cũng thấy áo qụa
trắng, quần dài trắng, quạt giấy phe phẩy, dáng dấp phong lưu, thật là
trái ngược với mụ Thừa, xấu và thô kệch. Thiệt khó mà nghĩ đó là một cặp
vợ chồng xứng đôi vừa lứa. Khi biết khôn, nghĩa là tới tuổi biết ve gái, tôi thường thắc mắc không biết cái ǵ đă gắn chặt ông Thừa và mụ Thừa.
Chắc hồi trẻ mụ cũng có một cái duyên và nét đẹp nào đó nên mới quyến rũ
được ông chứ. Cũng có thể cuộc hôn nhân ấy là do ông bà cố tôi đạo diễn
và ép buộc, và về sau, khi ông bà cố đă qui tiên, ông Thừa có thể thấy
vợ ḿnh xấu và thô, cũng có mưu toan lẹo tẹo với bà khác đẹp hơn, nhưng
v́ mụ Thừa dữ như Bà Chằn lửa nên ông phải chịu phép. Tất cả chỉ là
những giả thiết lảng vảng trong trí tôi mà không có ǵ thực chứng cả.
Điều rơ ràng nhất là hai ông bà sống với nhau tới răng long đầu bạc, có
ba trai một gái và tôi chưa hề nghe mệ ngoại tôi hay mạ tôi kể một tật
xấu nào của hai ôn mụ cả.
Mỗi lần ông đến chơi, tới bữa cơm, tôi thường được mệ hay mạ sai đi mua
rượu về cho ông uống để ngon cơm. Về sau này, khi quen biết nhiều bạn
nhậu thuộc loại tửu nhập ngôn xuất và thường cho chó ăn chè, hoặc quên
đường về, tôi lại phục cái nết uống rượu của ông Thừa. Ông uống một cách
từ tốn và thưởng thức và khi xỉn th́ lặng lẽ đi ngủ, luôn luôn êm ái nhẹ
nhàng như chính con người của ông.
Người em trai thứ hai của mệ là một ông Tây lai mà mạ tôi gọi là “cậu
Thị Răng”. Tôi đoán tên Tây của ông là Jean. Dường như ông Răng là con
nuôi của ông Cố họ Hồ. Ông cao to như Tây và nét mặt giống Tây hơn Việt
Nam, làm y tá ở Bệnh viện Huế, ngạch Tây, được đối hàm Nam triều là Thị
giảng học sĩ nên bà con cḥm xóm gọi là ông Thị. Lần đó, mệ tôi bị té từ
cây ổi xuống đất, bể xương bánh chè và ông Thị từ bên cầu Kho Rèn đạp xe
đến thăm chị. Đó là lần đầu tiên tôi được biết mệ tôi có một người em
trai đặc biệt như thế.
Người em thứ ba của mệ là ông Đội Liêm. Ờ mà lạ thật, ông này là nhân
viên của Công quản Đường Sắt Đông Dương - Sơ-manh đờ phe (Chemin de Fer),
như ông thường nói một cách hănh diện -chứ có đi lính đi tráng ǵ đâu mà
gọi là ông Đội? Hay là ông làm đội trưởng của một toán gồm vài chục công
nhân làm đường sắt? Nếu có ai nói ông Đội Liêm là em ruột của mụ Thừa
th́ tôi tin ngay. Ông người thô kệch, da ngăm ngăm đen, ít nói, có vẻ
cục cằn chứ không phong lưu nho nhă như ông Thừa hoặc hoạt bát oai vệ
như ông Thị. Thiệt ba người em của mệ không ai giống ai. Ông Đội Liêm
khi nói chuyện về xe lửa th́ trở thành một con người khác, trông linh
hoạt hẳn lên. Theo ông th́ không chi sướng hơn làm nhân viên Xe lửa. “Bộ
tụi bây không nghe mấy bà mấy o nói Mă táng hàm rồng không bằng
lấy chồng xe lửa à ?” Tôi hỏi tại sao th́ ông say sưa giải thích:
-Nhân viên xe lửa và gia đ́nh đi tàu không phải trả tiền. V́ rứa mà tau
hay đưa mệ bây đi Phan Thiết thăm cậu bây trong đó, không tốn xu mô. Ông
mô làm xe lửa mà có mụ vợ siêng năng th́ tha hồ mà đi đây đi đó buôn bán,
làm giàu. Biết tau làm xe lửa, mấy mụ đi buôn cứ theo ve tau hoài, mà
tại mụ bây dữ quá chứ không th́ tau cũng có bà hai rồi.
Cậu Bát Khôi là người con trai độc nhất của mệ v́ cậu Út mất từ khi c̣n
bé. Cậu làm việc ở Phan Thiết nên nhà tôi không thiếu sản phẩm miền biển
của Phan Thiết, thuộc loại hảo hạng, do cậu gởi về cho. Hồi đó, nước mắm
Phan Thiết thường chứa trong những hủ bằng sành, có dáng như hai cái
bánh ú úp lại với nhau, có quai xách bện bằng lá buông, có nắp đậy khằn
lại bằng hồ vôi. Chung quanh hè nhà tôi hồi đó thấy lăn lóc những chiếc
hủ không, thỉnh thoảng chúng tôi lại giả bộ lỡ tay làm vỡ một cái, nhưng
thật sự là rủ nhau lấy đá chọi vào như kiểu đánh bi. Cho đến ngày tôi
lấy vợ, trong nhà vẫn c̣n hai món đặc biệt, đó là một chai muối sống với
loại hột to nhất và một chai đựng nước mắm nhỉ thứ thiệt. Cả hai được mệ
và mạ tôi giữ ǵn cẩn thận để trở thành sản phẩm “lâu năm” dùng làm
thuốc. Theo tin tưởng của mấy bà, muối sống và nước mắm nhỉ lâu năm là
những vị thuốc hay. Nước muối lâu năm dùng để trị bịnh đỏ mắt và làm cho
sáng mắt, c̣n nước mắm lâu năm th́ trị bịnh nấc cụt và phỏng lửa. Những
người bịnh nặng mà thêm chứng nấc cụt th́ rất dễ chết. Lúc đó, chỉ cho
uống nước mắm nhỉ lâu năm mới trị được thôi.
Tôi không hiểu tại sao mệ không ở với cậu mà lại ở với mạ tôi. Thỉnh
thoảng mệ lại vào Phan Thiết ở thăm cậu tôi chừng nửa năm hay vài tháng
rồi lại về Huế, mang theo nào khô cá, khô mực, nước mắm, rong mứt phơi
khô v.v. cùng vô số chuyện Phan Thiết làm chúng tôi mê mẩn. Mệ kể về
sông Ḷng Sông, nước trong và cạn, cá lội từng bầy, muốn bắt không khó
nhưng không ai thèm bắt v́ tôm cá thiếu chi. Nghe có một ḍng sông với
nước trong và cạn th́ tôi khoái vô cùng, tưởng tượng có thể bơi lội đùa
chơi thoải mái mà khỏi phải sợ chết nước. Lại c̣n nhiều cá th́ tha hồ mà
câu mà bắt. Ôi, xứ sở chi mà thần tiên, có đâu như cái xứ Huế ni, đụng
tới sông hồ là đă nghe nói chuyện coi chừng bị ma rà (ma gia) kéo cẳng
xuống sông cho chết trôi, chết nước, c̣n cá th́ câu cả ngày không được
một con. Mệ kể về giống cây có gai dùng trồng làm hàng rào mà cũng là
loại cây trị ma Hời. Ma Hời thuộc loại ma lai, ban ngày th́ sinh hoạt
b́nh thường như mọi người, nhưng khi đêm về, ma để cho cái ḿnh nằm ngủ
trên giường, rút cái đầu và bộ ruột ḷng tḥng ra khỏi ḿnh rồi bay đi
kiếm ăn. Biết ma lai thích ăn đồ dơ, v́ vậy hễ phóng uế ngoài băi cát
xong, sau khi lấy chân lùa cát lấp đi, người ta c̣n phải bẻ một nhánh
gai cắm xuống. Ma lai đánh hơi biết mục tiêu, khoái lắm, nhưng thấy cây
gai th́ rút lui ngay v́ sợ vướng bộ đồ ḷng, gở không ra, sẽ không về
nhập xác được. Ai không biết cách đề pḥng, chẳng may bị nó ăn phân th́
sẽ ốm o gầy ṃn, ba tháng mười ngày sau sẽ đứt ruột mà chết. Bọn nhỏ
chúng tôi nghe vậy sợ co đầu rụt cổ, mừng xứ ḿnh không có ma lai. Và
những chuyện hoang đường như thế, không hiểu sao cứ ăn măi vào đầu.
Tôi c̣n nhớ cái ngày mệ và mạ tôi nhận được điện tín cậu Bát Khôi qua
đời, quả là một ngày tận thế. Hồi đó, người ta không gọi là điện tín, mà
gọi là dây thép , nói theo tiếng Tây là tê-lê-gờ-ram (télégramme). Khi
nghe tiếng khóc ré lên của mệ và mạ, tôi ở ngoài vườn, bỏ chơi chạy vào
xem thử việc ǵ xảy ra. Thấy chị tôi đứng đó, tôi hỏi: chuyện chi rứa?
Chị chỉ tờ giấy màu xanh mạ tôi đang cầm nơi tay và nói: có dây thép nói
cậu Bát Khôi mất rồi. Cái h́nh ảnh kêu khóc đau khổ của mệ và mạ tôi do
tờ giấy màu xanh kia đem lại đă gây cho tôi một ấn tượng xấu với hai chữ
“dây thép”. Bây giờ nhớ lại, tôi thấy thương mệ vô cùng bởi niềm đau đó
hẳn phải mênh mông và sâu xa lắm. Rơ ràng là đời mệ không mấy lúc được
vui, chỉ gặp toàn chuyện dở dang, chuyện nửa đường găy gánh. . . Rồi
chiến tranh xảy ra, mọi liên lạc gián đoạn trong nhiều năm. Khi anh tôi
sực nhớ ra, về Phan Thiết để t́m lại gia đ́nh cậu th́ không c̣n một manh
mối nào cả. Có lẽ tại chúng tôi biết rất ít về cậu, và đến khi biết khôn
để có thể thu thập tin tức th́ không c̣n biết hỏi ai nữa, tất cả đều đi
vào quá khứ không dấu vết. Bể dâu đâu phải là chữ nghĩa của văn chương
thi phú. Bể dâu hiển hiện ngay trong chính cuộc đời ḿnh và thân thích
ḿnh.
Khi tôi bắt đầu biết nhận thức chung quanh th́ mệ tôi đă già, mặt mày
tay chân đều đă nhăn nheo. Khi mệ ngồi yên ăn trầu, tôi thường sà vào
ḷng mệ, đưa tay nắm lấy những nếp nhăn ở dưới cổ, vừa rung rung vừa nói
“Mệ hát Tây đi”. Nếu không được vui mệ sẽ bảo thôi đừng chơi nghịch, để
mệ yên. C̣n gặp lúc vui, mệ sẽ há miệng ra phát thành tiếng a.. a...
ô...ô. Với nhịp rung của tay tôi, những âm thanh đó sẽ rung theo, như
mấy ông Tây bà đầm hát rung giọng mà tôi được nghe trộm qua máy hát của
một ông nhà giàu trong xóm.
Tuổi thơ của anh em chúng tôi gắn bó với mệ hơn mạ, nhất là riêng đối
với tôi. Ăn cũng mệ, ngủ cũng mệ, chơi cũng mệ, đứt tay chảy máu cũng mệ,
ỉa không ra cũng mệ. Ngó bộ như cả ngày kêu “mệ ơi” nhiều hơn “mạ ơi”.
Tôi thấy mệ chỉ thua mạ có một chuyện, ấy là không hát ru em ( ru con )
được. Tôi chưa nghe mệ hát ru em bao giờ, chỉ nghe mạ tôi hát, và phải
công nhận giọng mạ tôi hát rất hay. Những câu ca dao mà tôi thuộc ḷng
từ hồi chưa bước chân tới trường là do tôi hát theo mạ tôi khi nghe bà
ru mấy đứa em. Có lẽ mệ già rồi, không c̣n hơi nghỉn đâu nữa để ḥ với
hát. Mệ không hát nhưng mệ kể chuyện đời xưa th́ mê lắm.
Mùa Đông xứ Huế, có những ngày mưa dầm kèm theo gió bấc lạnh cóng. Bọn
nhỏ chúng tôi không ra ngoài chơi đùa được th́ bày tṛ để chơi trong nhà
hoặc quanh quẩn bên mệ nghe kể chuyện đời xưa. Mệ ngồi xếp bằng, đầu
trùm khăn, hai tay đặt trên lồng ấp rỉ rả kể đủ thứ chuyện, nào chuyện
Tấm Cám, chuyện Thạch Sanh Lư Thông, chuyện Thất thủ kinh đô v.v. Bên
cạnh những chuyện thuộc loại cổ tích đó, mệ c̣n kể những chuyện khác
nữa, có tính cách thời sự hơn, chẳng hạn chuyện Cô Thông Tằm, chuyện Đức
Từ Cung (mẹ vua Bảo Đại) khi c̣n hàn vi, là chị Út ở cung An Định,
chuyện băo năm Th́n, chuyện vua Khải Định khi đang c̣n là ông Hoàng đă
sợ vua Thành Thái như thế nào, chuyện người bị ma thu, chuyện thầy phù
thủy cao tay ấn có tài biến những con môi thành âm binh để sai đi làm
việc v.v. Bây giờ nghĩ lại, cũng nhờ những chuyện không có tính cách
sàng lọc như thế mà ngày nay tôi có được những chuyện là lạ để kể lại
cho bà con nghe chơi.
Mệ thường gọi anh chị em chúng tôi là “bầy quân”. Bầy quân ăn như cọp
đói, như ăn cướp; bầy quân phá như giặc; bầy quân làm biếng v.v. Tất cả
áo quần mặc ở nhà của bầy quân chúng tôi đều do một tay mệ may cả, dĩ
nhiên là may tay. Phải đến năm học lớp Nhất tôi mới được cái sung sướng
lần đầu tiên được mặc quần soọc (short) và áo sơ-mi cổ bẻ do thợ may may
bằng máy đàng hoàng, chứ c̣n trước đó th́ toàn là quần đùi (quần cụt)
với áo cổ kiềng do mệ tôi sản xuất! Sở dĩ tôi sớm biết những dụng cụ và
những từ ngữ chuyên môn về nghề may cũng là do quanh quẩn bên mệ. Nào
thước, nào vạch, nào kéo, nào đê. Rồi tà, vạt, bâu, lai, vạt ḥ, cổ
kiềng, cổ đứng, cẳng què, đáy giữa v.v. Nhờ thế mà vào năm lớp Nh́, khi
tả người thợ may, thầy giáo đă cho bài luận của tôi tám điểm rưỡi với
lời khen. Có lẽ thầy nghĩ là tôi con nhà thợ may nên mới rành những từ
nghề nghiệp như thế. Khi mệ may, chúng tôi thường phải có đứa chơi quanh
quẩn gần đó để xỏ kim cho mệ. Tội nghiệp, cái thuở đó kiếng lăo c̣n
hiếm, làm chi có kiếng cho mệ thấy đường xâu kim! Bây giờ th́ con có thể
sắm cho mệ mấy cái kiếng lăo cũng được nhưng mệ đâu có cần kiếng nữa.
Mệ đúng là thầy thuốc gia đ́nh, là trưởng pḥng cấp cứu. Mỗi lần chúng
tôi dùng dao để cắt gọt một cái ǵ đó mà lỡ bị đứt tay chảy máu th́ la
lên là có mệ tới cấp cứu ngay. Thuốc cầm máu của mệ là bồ hóng trong bếp
trộn với vôi ăn trầu và thuốc lá, đắp vào vết cắt, rát ơi là rát, xong
lấy giẻ băng lại, hai ba hôm th́ vết thương lành. Bác sĩ và y tá ngày
nay nghe nói thế th́ le lưỡi nhưng tôi thấy chưa bị nhiễm trùng lần nào,
thậm chí, sau khi biết toa thuốc đó của mệ, chúng tôi có thể tự làm lấy
khi cần! Ngón tay giữa trên bàn tay phải của tôi có cái móng tay chẳng
giống ai, v́ đó là một cái móng tay có tật. Lúc đó tôi chừng tám, chín
tuổi. Vào một đêm trăng sáng ngày hè, anh em trong nhà và lũ bạn hàng
xóm cùng trang lứa rủ nhau chơi đuổi bắt và trốn t́m, đang khi chạy
trốn, tôi vấp té, và một ḥn gạch đập vào ngón tay, làm bay mất móng,
máu chảy như cổ vịt bị cắt tiết. Mệ tôi đă cấp cứu theo kiểu của mệ và
hậu quả là cái móng tay dị dạng ra đời!
Trong vườn nhà tôi có trồng rất nhiều ổi. Nhiều khi thấy ổi chín ngon
quá, ăn quên thôi. Hậu quả là ị không ra, ngó như đang bị một cái nút
chai to lắm đóng chặt lổ đít. Mỗi lần như thế, lại vừa khóc vừa kêu: mệ
ơi! Mệ lên tiếng: ờ để đó, mệ chữa cho. Ai biểu dộng ổi vô cho lắm rồi
chừ ỉa không ra, cho mi chết. Mắng th́ mắng vậy nhưng mệ vội vă bỏ công
việc đang làm, lấy con dao cau cắt một bẹ môn ngọt, dứt ra một đoạn ngắn
bằng gang tay. Rồi mệ lại lấy xà pḥng ḥa thành nước, xong kêu: lại
đây, chổng khu lên cho mệ làm thuốc. Mệ lấy bẹ môn chấm nước xà pḥng
ngoáy ngoáy vào hậu môn, rồi bảo rặn đi, làm vài lần như thế th́ cái nút
chai bật ra, và tôi thoát nạn. Ngày nay mới có những tọa dược glycerine
giúp cho việc lưu thông được trơn tru dễ dàng, vậy mà hồi đó mệ tôi đă
nghĩ được phương pháp bẹ môn với xà pḥng, kể cũng thông minh thiệt.
Sau 1975, khi ở trên rừng trên núi, nhiều phen tôi được no cũng nhờ mệ.
Ở tù CS th́ ăn đói là chuyện thường ngày, nên anh nào cũng lo “cải
thiện” nghĩa là kiếm cái ǵ đó để tộng vào mồm, để an ủi cái thao thức
bào bọt của bao tử. Cây ǵ ăn được là ăn (ngoại trừ cây súng) con ǵ xực
được là xực (ngoại trừ con ốc con vít và con bù-lon), và các bạn tù rất
ngạc nhiên khi thấy tôi rất thiện nghệ trong việc nhận ra những loại rau
hoang mọc đâu đó trên đường đi, bên hè nhà, hay trên đám rẫy hoang. Nào
rau ŕu, rau éo, rau trai, rau sam. rau má. Nào rau bát bát, rau bù
ngót, rau bạc đầu, rau mặt trăng, rau dền đất, rau dền gai, rau chân vịt
v.v và v.v. Đó là nhờ những lần thơ thẩn đi theo mệ khi mệ rảo trong
vườn hái rau để nấu thành nồi canh tập tàng rất ngọt nước. Cây chi ri
mệ? -À, cây rau sam. Rau sam ăn mát lắm con. Cây chi ri mệ? - À, cây bạc
đầu. Cây bạc đầu có ăn được không mệ? -Được chớ, nhưng v́ cái mùi nó có
người không ưa nên có người kêu là cây cỏ hôi, và v́ rứa ít người ăn. Cả
mệ và tôi đâu có biết rằng những bài học đơn sơ trong vườn ngày ấy mấy
chục năm sau lại giúp cho tôi có những ngày được no bụng nhờ kiếm thêm
mớ rau trời.
Thầy tôi rất thương mệ. Tôi nghe ông gọi mệ bằng mợ. Thỉnh thoảng ông
lại cho mệ một số tiền nhỏ để tiêu vặt. Tôi biết được là nhờ một hôm chỉ
có một ḿnh mệ và tôi ở nhà, mệ cho tôi mấy cái kẹo bạc hà nhỏ như chiếc
đũa và dài bằng ngón tay út, gói trong giấy bóng, là thứ kẹo tôi rất mê.
Ngạc nhiên, tôi hỏi: kẹo ni mệ kiếm mô ra? Mệ nói nho nhỏ: thầy mi mới
cho mệ tiền, mệ biết con thèm kẹo bạc hà nên mệ mua cho. Đừng có mét với
mạ nghe không. Tôi nghe thế, tự nhiên cao hứng trả lời: để ít bữa con
lớn, đi làm có tiền, cho mệ mỗi tháng năm chục đồng để mệ tiêu cho
sướng. Mệ cười hiền: tổ cha mi, nói nghe giỏi dữ. Sợ e mười voi không có
chén nước xáo. Vài tháng sau, cậu tôi từ quê lên thăm. Trong khi nói
chuyện, thấy tôi đứng xớ rớ gần đó, mệ chỉ tôi và khoe với cậu rằng:
thằng ni có t́nh với mệ lắm. Mới chừng đó mà hắn hứa khi mô đi làm sẽ
cho mệ mỗi tháng năm chục bạc để tiêu. Không biết có sống tới đó để
hưởng lộc của cháu hay không chứ nghe hắn nói rứa ḿnh cũng mát ruột.
Tôi thấy tôi xạo quá, và đúng như mệ nói, mười voi không có chén nước
xáo, mệ tin chi được ba thằng cháu ngoại, cái thứ cháu bà nuôi cho
uổng công bà, về sau mày lớn t́m cha mày về.
Mệ là người khéo tay. Với con dao và bụi hóp sau nhà, bà chế nào kèn lá
nón để giả làm tiếng gà gáy hay kèn bầu đám ma, nào súng bắn bằng hột
cây bời lời, nào quạt nước, nào chong chóng, cho anh em chúng tôi chơi.
Bằng một con rựa cùn găy đôi và mấy cục gạch vỡ, bà ngồi tỉ mỉ đẽo gọt
thành những ḥn bi để cho lũ cháu chơi đánh bi. Bây giờ nhớ lại, tôi
thấy tôi đă học được rất nhiều điều từ mệ, do cái tật ṭ ṃ và hay bắt
chước. Chẳng hạn, ngoài mấy thứ đồ chơi đó, tôi có thể bắt chước mệ để
làm quạt kè, chổi cau v.v. Chặt một tàu lá kè, kiếm chỗ đất bằng phẳng
trải xuống, lấy hai viên gạch đè lên, phơi khô. Khi lá đă khô, dùng kéo
vanh tṛn rồi dùng dao chẻ đôi, sẽ có hai cái quạt, vừa nhẹ, vừa mát. Mệ
c̣n dùng vải viền quanh để quạt được bền hơn và tránh được cái cạnh sắc
của lá khô có thể làm sướt da chảy máu.
Một tàu cau trong vườn rụng xuống là một nguồn vật liệu để mệ chế biến
đồ dùng. Cái mo cau được cắt riêng ra, phơi khô, để dành. Từ mo cau, mệ
có thể bới cơm, chằm làm cái gàu múc nước giếng, làm cái mo đài cho chó
ăn cơm, hay cắt ra làm cái nắp cài kín mấy hũ dưa hũ mắm, chèn mái nhà
để tạm thời tránh dột, làm thành cái quạt v.v. Với cái tàu cau, mệ dùng
con dao nhíp tước bỏ phần lá (để dành nhen lửa), chỉ chừa lại cái sống
lá. Mệ bó năm cái tàu cau như thế thành một cái chổi, quét sân quét vườn
rất sạch, khỏi tốn tiền mua chổi rành.
Tôi biết trồng cây, làm vườn cũng là nhờ đi theo để mệ sai vặt khi mệ
làm vườn. Tháng Chạp, khi hết mưa lớn, mệ thuê người cuốc đất, đánh vồng
cho mệ văi cải cay, cải tàng ô. Cải lớn, mệ đem ra cấy, rồi trồng cà
trồng ớt. Nơi này là luống mồng tơi, nơi kia là đám môn ngọt và môn bạc
hà. Trong vườn, có một mảnh đất vuông, mỗi cạnh chừng ba thước, là vườn
thuốc Nam của mệ. Nào tía tô, rau tờn, sả, ích mẫu, kinh giới, gừng v.v.
Trong vườn, mẹ tôi lại có thuê người ta trồng mấy cây chanh và mấy cây
bưởi đỏ, thanh trà. Nhờ vậy, khi nào cần một nồi nước xông để giải cảm
hay cần các thứ lá thơm để luộc một nồi ốc bưu hay ốc hút, mệ chỉ cần
bước chân ra vườn một loáng là có đủ thứ trong tay, khỏi cần chạy xin
hàng xóm. Trong ngôi vườn của thầy mạ tôi lúc bấy giờ có trồng chừng hai chục cây cau và bốn năm bụi trầu không leo quanh mấy cây mứt. Khi mệ và mạ mất đi, những cây này cũng theo gót vĩnh viễn giă từ. Cả mệ và mạ đều nhuộm răng đen và ăn cau trầu suốt ngày. Cau trầu trồng trong vườn, trước hết là để cho các bà dùng, thừa ra th́ mới đem bán, nếu gặp mùa cau trúng, giá cau rẻ, các bà đem phơi khô, để dùng trong mùa mưa. Tôi biết róc cau, bửa cau, phơi cau, têm trầu, ăn cau trầu, cũng là do cái tật ṭ ṃ và hay bắt chước như khỉ. Bạn ăn cau trầu thân thiết của mệ là bà Chưởng hàng xóm. Bà này người Quảng Ngăi, thuộc loại cao thủ cau trầu. Bà không biết hút thuốc lá nhưng trong túi bà luôn luôn có hai món, một cái hộp dẹp bằng thiếc đựng thuốc lá cẩm lệ, dùng để ăn ghém với cau trầu, và một cái hộp nhỏ bằng bạc, h́nh thuẫn, đựng vôi, để ăn chêm khi gặp miếng trầu nhạt. Mệ tôi th́ đơn giản hơn, bà không ăn ghém thuốc lá, chỉ ăn ghém bằng hột mây hay vỏ cây chay. Có một lần theo mệ qua nhà bà Chưởng chơi, tôi thấy bà ta mời trầu, mệ đón lấy miếng cau bỏ vào miệng trước, nhưng miếng trầu th́ mệ mở ra, liếc một cái, rồi mới cuộn lại, ăn tiếp. Khi về nhà, không nén được ṭ ṃ, tôi hỏi: - Tại răng bác Chưởng mời trầu mà mệ lại mở miếng trầu ra rồi mới ăn?
- Cái đó là do ông bà ḿnh đă dặn rồi: Ăn trầu th́ phải mở ra,
Một là thuốc độc, hai là mặn vôi.
Nếu là người lạ, chưa biết bụng dạ người ta ra răng, th́ ḿnh cũng phải
mở miếng trầu ra coi thử trong đó có chi độc hại hay không. Mà dù quen
hay lạ th́ cũng phải mở trầu ra coi vôi nhiều hay ít. Có nhiều người têm
trầu mặn (nhiều) vôi quá, ḿnh ăn không quen sẽ bị phỏng miệng. Mệ dặn
th́ con phải nhớ, nghe không?
Chừng mười một mười hai tuổi th́ tôi đă trèo cây như khỉ. Lúc đó th́ mệ
khỏi tốn tiền thuê người lột cau. Với con dao nhíp ngậm ngang miệng và
cái nài bằng bẹ chuối khô tṛng ở hai bàn chân, tôi leo lên ngọn cau
trong nháy mắt. Rứt một trái cau ném xuống cho mệ bửa ra thử xem dầy hay
non. Nếu thấy được th́ mệ sẽ ra lệnh “cau dầy rồi, lột đi con”, thế là
tôi lấy con dao nhíp ra, cắt hai bên mép của buồng cau để giật nó ra,
xong choàng buồng cau qua bắp vế và tụt xuống. Về sau, khi đă biết nhận
định thế nào là cau dầy, cau non, cau tra (già), tôi thử cau ngay trên
cây và quyết định lột hay không, khỏi cần chờ lệnh của mệ nữa. Đến lúc
đó th́ đă đạt đến tŕnh độ đi lột cau thuê và hái ổi hái xoài thuê cho
nhà bà Chưởng hàng xóm rồi.
Khi c̣n ở quê nhà, mỗi lần Tết đến, thấy vợ tôi ngồi rim mứt, tôi lại
nhớ đến thau mứt thập cẩm của mệ vào những ngày thơ ấu. V́ bầy quân ăn
như ăn cướp, không có mứt bánh nào chịu cho thấu, nên bên cạnh những món
mứt cao cấp dành đăi khách, thế nào mệ tôi cũng làm một thau mứt thập
cẩm, nặng về lượng hơn phẩm. Thành phần của thau mứt cho bầy quân gồm có
khoai lang cắt thành thỏi (như French Fried), sắn dây Quảng Trị xắt lát
vuông, gừng non và dừa già xắt lát mỏng, và đậu phụng rang. Tất cả được
cho vào một cái thau lớn rim với đường cát vàng. Khi chín tới, hỗn hợp
này tạo thành một hương vị rất hấp dẫn. Trong khi các loại mứt đăi khách
được cho vào t́m, vào thẩu thủy tinh có nắp đậy đẹp đẽ th́ loại mứt thập
cẩm của bầy quân được cho vào thùng thiếc vốn là thùng đựng trà, nhưng
không sao, miễn số lượng cho nhiều là bầy quân hoan nghênh.
Tôi không biết mệ mất v́ bịnh ǵ. Khi mệ nằm bịnh chừng nửa tháng th́
cậu tôi (anh của mạ, con của mệ ngoại đích) từ quê lên thăm. Ông bàn với
mạ tôi sao đó rồi thuê xe kéo chở mệ ra Bến Tượng ở chân cầu Đông Ba, từ
đó, lại thuê đ̣ dọc đưa mệ về nhà cậu để mợ và chị Hiền săn sóc. Tôi hỏi
th́ mạ tôi nói: cậu nói mệ gần tới ngày rồi, đem mệ về làng để mệ trăm
tuổi th́ tiện làm đám, mà ư mệ cũng thích rứa. Tôi không thấy cái buồn
v́ sắp sửa vĩnh viễn xa mệ, chỉ thấy cái vui cuối tuần được theo chị tôi
về làng thăm mệ để được ăn bắp luộc và đậu phụng luộc của mợ. Rồi mệ ra
đi êm ái như đi vào giấc ngủ. Khi đó th́ tôi đang leo lên cây ổi trước
sân nhà cậu để hái mấy trái chín ngon mắt không chịu được. Nghe tiếng
khóc của mạ và mợ, tôi tụt xuống chạy vào th́ nghe mợ nói: mệ đi rồi.
Mạ tôi dốc toàn lực ra làm cho mệ một cái đám được làng xóm khen là to.
Về sau, tôi mới biết ở thôn quê, tiêu chuẩn để đánh giá một cái đám ma
to hay nhỏ là ở số lượng heo ḅ hy sinh. H́nh như để đăi khách, mạ tôi
phải làm đến hai heo. Về sau, qua những câu chuyện mà tôi nghe lóm được
của bà con cḥm xóm, th́ cái đám của mệ đă đem lại tiếng tốt cho mạ tôi
và cậu mợ tôi. Người ta khen mạ tôi là con gái lo cho mẹ giỏi có thua
chi trai. C̣n họ khen cậu mợ tôi đă săn sóc lo lắng cho mệ tôi chẳng
khác chi mẹ ruột. Tôi tin những lời khen đó tới tai mệ tôi và hẳn bà
cũng vui ḷng nơi chín suối.
Đă già nửa thế kỷ trôi qua, nấm mồ của mệ nằm ngoài đồng Triều Sơn đă
bao lần ngâm nước lụt và cỏ trên mộ đă thay bao lứa. Lũ cháu ngoại của
mệ bây giờ cũng đă tới cái tuổi sắp hàng để chờ Thiên Tào gọi tên về gặp
mệ. Dầu sao th́ trước khi được điểm danh, cả mấy anh chị em đều vui v́
đă lo được cho mệ một nơi an nghỉ tốt đẹp khang trang, và riêng tôi,
chuộc được cái tội nói xạo cho mệ năm chục đồng mỗi tháng để tiêu vặt.
|