Vơ Thạnh Văn

 

Một vài kỷ niệm với Thi Lăo

HÀ THƯỢNG NHÂN

 

 

HÀ THƯỢNG NHÂN! Một tên tuổi lớn và quen thuộc. Quen thuộc ngay cả với những người không sinh hoạt trong giới cầm bút. Danh Cụ, tôi nghe đă lâu, chừng 35 năm hơn. Biết Cụ chừng 15 năm. Quen Cụ chỉ 5 năm và gần gũi với Cụ kể từ đấy. Những kỷ niệm giữa Cụ Hà và tôi xin được tóm lược trong 7 chi tiết đáng nhớ nhất: (I) Cơ duyên mà tôi được gặp gỡ Cụ, (II) Bài Tựa mà Cụ Hà đă viết cho 10 tập thơ Kinh Vô Thường của tôi, (III) Bài sinh điếu mà Cụ Hà đă cho phép tôi làm, (IV) Những tấm h́nh chân dung tôi đă chụp cho Cụ, (V) Tác phẩm “500 Khúc Đoạn Trường” mà Cụ Hà bỏ dang dở v́ sức khỏe, (VI) Phong cách Cụ Hà trong buổi tiệc rượu Nguyên Tiêu Vọng Nguyệt tại tư gia giáo sư Nguyễn Liệu, (VII) Món quà cầu phúc tôi mừng Cụ Hà nhân dịp Cụ nhận Bí Tích Thánh Tẩy như một nghi thức đầu tiên và cần thiết để chính thức bước vào ngưỡng cửa Giáo Hội Công Giáo, tại thánh đường Saint Victor, thuộc thành phố Milpitas, Tiểu Bang California, Hoa Kỳ.

 

#  #  #

 

(I) MỐI LƯƠNG DUYÊN VĂN NGHỆ và hủ rượu Bất Tử Tiên Đan. Như vừa viết ở đoạn mở đầu, danh Cụ tôi được nghe đến từ những ngày quê hương đang mùa chinh chiến. Lúc c̣n trong quân ngũ, thỉnh thoảng tôi có đọc vài ba tờ báo quân đội, nhất là qua mục Đàn Ngang Cung trong nhật báo Tự Do của Chủ Nhiệm Phạm Việt Tuyền, do Cụ Hà phụ trách. Tại USA, tôi nh́n thấy Cụ một vài lần trên truyền h́nh và trong những sinh hoạt Cộng Đồng. Nhưng rồi cơ duyên đưa đẩy, được dịp chào hỏi Cụ và từ đó quen thân với Cụ và yêu mến Cụ do sự giới thiệu của nhà văn Giao Chỉ Vũ Văn Lộc, người mà tôi đă quen biết 30 năm qua, trong một buổi họp mặt tại tư gia nhà thơ Đông Anh, trưởng nhóm Thi Văn Đàn Lạc Việt, cách đây chừng 5 năm.

          V́ đă nghe danh Cụ từ những ngày chập chững vào đời, v́ đă từng đọc những bài Đường Luật nhẹ nhàng trong sáng và giản dị của Cụ, v́ đức tánh khiêm hạ ôn tồn của Cụ, v́ sẳn dành cho Cụ một tấm ḷng thương mến thiết thân… nên tôi đến với Cụ thật dễ dàng và nhanh chóng. Với tôi, việc gặp gỡ và quen biết Cụ là một lương duyên văn nghệ và là một sự kiện lớn trong đời tôi. Cũng tương tự như vài năm sau nầy, khi tôi gặp nhà thơ Cao Mỵ Nhân. Nguyên là, sau khi gặp Cụ chừng 9 tháng, tôi đă lục in bản thảo Quyển Thượng của tập Kinh Vô Thường gồm 5 tập Cát Bụi, từ Cát Bụi 1 đến Cát Bụi 5, chứa 5 ngh́n câu thơ đầu của tác phẩm 10 ngh́n câu (đă ngủ quên trong computer gần chục năm). Và, sau khi gặp nhà thơ Cao Mỵ Nhân 1 năm, tôi đă lục in bản thảo của 5 ngh́n câu thơ c̣n lại của Quyển Hạ tập Kinh Vô Thường, từ Cát Bụi 6 đến Cát Bụi 10. Tập Cát Bụi 1 do Cụ Hà viết Tựa. Tập Cát Bụi 6, mở đầu Quyển Hạ, lời Tựa do đại lăo tiền bối Cao Mỵ Nhân khai bút.

          Về chuyện văn chương, với một trí nhớ sắc bén, Cụ Hà thường đọc thơ bằng hữu năm xưa (thời kháng chiến) của Cụ cho tôi nghe. Hầu hết là những bài thơ mà tôi chưa được nghe bao giờ. Cũng có những tác giả mà dường như tôi cũng chưa quen tên lắm. Cụ thuộc nhiều thơ của các thi nhân Trung Quốc như Lư Bạch, Đào Uyên Minh, Trần Tử Ngang, Thôi Hạo, Lư Thương Ẩn, Vương Duy, Đỗ Mục, Vương An Thạch, Tô Đông Pha, Đỗ Phủ.... Cụ đọc nguyên văn tiếng Hán, rồi Cụ đọc luôn cả những bài dịch của Trần Trọng Kim & Bùi Kỷ, Tản Đà, Nhượng Tống… Cụ thuộc ngay những bài thơ cổ xa xưa thời Kinh Thi, hoặc Ly Tao & Sở Từ của Khuất Nguyên.

 Thỉnh thoảng cao hứng, Cụ cũng đọc thơ các thi nhân thời Romantique của văn học sử Pháp cho tôi nghe, những tác giả như Guillaume Apollinair, Stéphane Mallarmé, Paul Verlaine, Charles Baudelaire, Alfred De Vigny, Alphonse De Lamartine, Pierre De Ronsard, Paul Éluard, Charles Péguy, Henri De Régnier... và vài người nữa mà tôi không nhớ hết tên. Thú thật, nghe Cụ đọc tiếng Tây, tôi khổ lắm. Phải chăm chú và vận dụng cả kiến thức mong manh mới hiểu được lờ mờ. H́nh như Cụ mất mấy chiếc răng cửa ở hàm dưới, nên Cụ đọc tiếng Tây “thiếu gió” làm người nghe thật vô cùng vất vả.  H́nh như Cụ không biết tiếng Mỹ nhiều. Tôi chưa từng được nghe Cụ nói tiếng Mỹ với tôi bao giờ.

Suốt buổi sơ giao, Cụ Hà luôn hạ ḿnh cư xử với tôi thật b́nh đẳng, thân t́nh, gần gũi. Một hôm uống rượu, Cụ nghiêm chỉnh thắc mắc: “Quái! Xứ Quảng khô cằn sỏi đá… mà sao lại có người biết làm thơ?!” Tôi thưa: “Con là cội mai rừng quanh năm thiếu nước, mọc từ kẻ đá trơ trụi, nên cành khẳng khiu gầy.” Hôm khác, trái khoái, Cụ diễu cợt tôi một cách dễ thương: “Lạ! Anh làm MC và tổ chức ra mắt sách cho nhiều người, sao không in tác phẩm của ḿnh?” Tôi lại giải bày: “Thưa Cụ, một ngày nào đó, con sẽ.” Từ đó, thỉnh thoảng tôi đưa tŕnh Cụ xem những khổ thơ rời rạc từ bộ Kinh Vô Thường của tôi.

Rồi một hôm, tôi mời Cụ nếm thử hủ rượu do tôi ngâm 100 trái á phiện với rượu mạnh 80 độ proof, đă được thụ khí âm dương 10 năm chẳn. Cụ Hà bảo: “Tuyệt! Tiên Tửu! Tiên Tửu! Tuyệt!” Nhưng sau đó chừng một phút, Cụ chê ngay: “Mạnh quá! Nặng quá! Rượu tiên phải ngọt, dịu, đằm, thắm.” Một cách hết sức tinh nghịch, Cụ sẳn tay nhặt cây bút marker lớn trên bàn, viết bằng tiếng Hán, 4 chữ “Bất Tử Tiên Đan.” Rồi tiện oai, Cụ khề khà: “Kỳ! Những câu thơ trong Kinh Vô Thường của anh nói toàn chuyện trên trời dưới đất, mù mờ sương khói như những Thoại Đầu bí hiểm của các ông Thiền Sư dở chứng.” Tôi im lặng trong vui mừng. Tôi thật sự vui mừng, v́ như thế là Cụ đă hiểu tôi, và tôi quyết định sẽ nhờ Cụ đề Tựa cho tập thơ của ḿnh.

 

          (II) BÀI TỰA KINH VÔ THƯỜNG. Sau khi lục in từ computer, tôi đă tŕnh Cụ Hà toàn bộ bản thảo (Quyển Thượng) đầu tiên của tập Kinh Vô Thường và xin Cụ vài chữ. Chiều hôm ấy, sau buổi ra mắt sách của một tác giả nào đó mà tôi không nhớ tên, nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm lái xe đưa Cụ Hà về. Tôi mang 5 tập Cát Bụi bỏ dưới chân Cụ. Cụ gật đầu bảo: “Được. Để đó!” Nhưng không ngờ, chỉ một đêm, Cụ thức gần một đêm suưt bịnh, lướt qua 5 ngh́n câu lục bát. Chỉ cần vài tiếng đồng hồ, Cụ viết xong bài Tựa. Và, chỉ cần 30 phút phù du, Cụ làm thêm cho tôi một bài thơ. Chừng 10 giờ sáng hôm sau, Cụ điện thoại cho tôi và với giọng khàn khàn, Cụ bảo: “Xong rồi!”.

          Cụ nói vơn vẹn chỉ có chừng đó. Nhưng, quả thật Cụ có tài thất bộ thành chương của Tào Thực thời Tam Quốc như lời đồn đăi của giới cầm bút lâu nay. Bài thơ ngẫu hứng Cụ làm cho tôi có một tựa đề khá dài: “Nhân Đọc Kinh Vô Thường, Viết Tặng Tác Giả Cuốn Kinh Phi Thường.” Tôi thực sự cảm động và cảm thấy ḿnh mang Cụ một cái ơn lớn, ơn tri ngộ. Tâm t́nh Cụ bồ tát. Ngọn bút Cụ tài hoa. Tuổi tác Cụ đáng bậc sinh thành. Tôi chỉ bằng tuổi người con trai lớn của Cụ. Trường văn trận bút Cụ đáng mặt thúc bá. Phong cách Cụ đáng hàng đại lăo tiền bối. Tôi đề nghị xin được lạy Cụ và tôn Cụ làm sư phụ. Cụ cười dễ dăi, hài ḥa, từ chối: “Thôi, xin được là tri kỷ.” Cung kính bất như tuân lệnh, tôi đành miễn cưỡng nghe theo lời Cụ dạy và và từ đó càng kính trọng Cụ nhiều hơn

          Là người uyên bác, Cụ Hà hiểu rơ ràng rằng tôi dùng hai chữ “vô thường” từ kho tàng kinh điển triết học Phật Giáo, nhưng với nội dung “vô thường” bao gồm tất cả mọi quan niệm nhân sinh của Lăo, Trang, Mặc và nhất là triết lư chấp sinh của cha ông Việt Nho của cha ông chúng ta, thể hiện mănh liệt qua tư tưởng Ức Trai tiên sinh Nguyễn Trải và Uy Viễn Tướng Công. Xa hơn, Cụ biết rơ ư niệm “vô thường” của Thiên Chúa Giáo qua nghĩa “tro bụi” hoặc “cát bụi.” Nguyên văn tiếng La-Tinh: “Vanitas. Vanitatum. Omnia Vanitas” trong Kinh Thánh Cựu Ước. Dịch nôm na thoát ư: “Phù vân. Phù vân của phù vân. Tất cả chỉ là phù vân.” [Cũng trong một bài Tựa, Linh Mục học giả giáo sư Cao Phương Kỷ sẽ phân tích rơ ư niệm thần học về 2 chữ Cát Bụi nầy]. Người đương thời gọi Cụ là Hà Chưởng Môn. Quả thật Cụ có đầy đủ phong cách “chưởng môn” ấy. Danh bất hư truyền. Không sai.

 

(III) BÀI SINH ĐIẾU và những bài thơ tôi làm dâng biếu Cụ. V́ cảm khái ơn tri ngộ, v́ cảm tấm ḷng hạ cố của một bậc trưởng thượng, v́ cảm bài Tựa và bài thơ song thất Cụ làm cho tập Kinh Vô Thường của tôi… tôi đáp lễ bằng cách làm mấy bài thơ gởi Cụ: “Chiêm Bao Đất Trích” & “Hạc Nhớ Bóng Tùng.” Cụ Hà đă phóng bút họa lại bài thơ thứ hai, “Hạc Nhớ Bóng Tùng.” Đây là lần đầu tiên thơ tôi có người họa lại, v́ từ xưa, tôi không theo trường phái thù tạc xướng họa đối đáp. Làm thơ, tôi chỉ làm thơ vậy thôi, chẳng có chủ trương ǵ.

Sau khi bị Cụ từ chối không cho tôi vái Cụ làm sư phụ mà chỉ nhận làm tri kỷ, tôi lại càng tâm phục đức lớn của Cụ. Quả thật, khi từ chối vai tṛ sư phụ của một bậc đại lăo tiền bối mà chỉ nhận nhau làm tri kỷ th́ Cụ Hà đă nâng tôi lên nhiều bậc… làm tôi cứ băn khoăn sợ rằng ḿnh bất xứng. Bởi thế, tôi xin phép Cụ được làm cho Cụ một bài sinh điếu. Cụ đồng ư. Tôi sao chép lại nguyên văn bài sinh điếu đó.

“Kiếp xưa, hoặc uống trộm bất tử tiên đan, hoặc lỡ say chọc ghẹo tiên nữ, hoặc vô ư đánh rơi chén ngọc… Chẳng biết căn cớ từ đâu, mà hành trạng mù mờ, nửa tiên nửa tục… để cho măi đến bây giờ vạn dặm đất trích, chẳng biết ngày nào măn án liêu trai!!! Ôi, một kiếp tài hoa trót nặng nợ tơ tằm.”

“Hôm nay, quạnh hiu nơi trích địa, họa hoằn mới có dăm ba bằng hữu tri âm, một vài hồng nhan tri kỷ… Vẫn thói bất cần. Vẫn tánh bất chấp. Chảng chảng ngang thiên. Lấy vần điệu làm cánh. Lấy thi phú làm trời. Lấy chữ nghĩa làm đất. Lấy rượu cay làm nước. Mượn tạm cho ḿnh 4 mùa làm của riêng tây.”

“Vạn đại như một ngày. Trăm năm bằng nửa buổi. Sinh để mà diệt. Có để mà không. Đến cũng như đi. Về cũng như ở. Trần gian chính là cơi rong chơi. Tháng ngày thoáng chốc. Cuộc đời một niệm. Hạnh phúc đếm từng sát na. Thắc mắc mà chi. Vương vấn mà chi. Sao bằng thái độ không cưỡng, không cầu.”

“Nơi đến cũng như nơi đi. Chốn về cũng như chốn ở. Làm bướm cũng như làm hoa. Là ong cũng như là nhụy. Không thiện. Không ác. Không phải. Không quấy. Bời vạn sự đều là giă tướng. Vừa hằng. Vừa chuyển. Vừa tụ. Vừa tán. Vạn đại giai không. Vạn pháp xuất tự một nguyên ủy, một căn nguyên rốt ráo.”

“Rồi mai xuất thần? Rồi mai hóa bướm? Rồi lại tiếp tục rong chơi nơi doanh châu bồng đảo? Tiên cảnh hay trần gian? Cơi trời hay thế tục? Tại sao phải thắc mắc? Tại sao lại vọng tưởng? Chi bằng cứ điềm nhiên cho đi. Cứ an nhiên nhận lănh. Hăy uyên nhiên sống đời đạm nhiên. Hăy phiêu nhiên tự tại.”

“Mai kia, nơi ấy, nơi chốn vĩnh hằng sẽ về (và sẽ ở)… Có chăng mây bay? Có chăng gió lộng? Có chăng sương rơi? Có chăng sao băng? Có chăng tuyết rụng? Có chăng trăng khuya? Thưa rằng có. Chắc chắn có. Thế là đủ. Thế là vui. Đi không hối tiếc. Tiễn không luyến lưu. Bởi v́, chính nơi đó, sẽ gặp lại Trang, sẽ gặp lại Lăo, sẽ gặp đủ mặt chư tiên.”

 

(IV) NHỮNG TẤM CHÂN DUNG trầm mặc. Dù rằng trong nhiều thập niên tôi đă sống tương đối phong lưu v́ xử dụng chiếc máy ảnh Hasselblad của Thụy Điển và những chiếc ống kiếng Zeis của Đức quốc. Nhưng, tôi chưa hề chụp chân dung cho ai mà người ấy tôi không yêu thương hoặc kính trọng. Cụ Hà cũng không là trường hợp ngoại lệ. Cụ đă ngồi trước ống kiếng của tôi, trong căn pḥng khách nhỏ bé của Thanh-Thủy, vợ tôi, suốt cả tiếng đồng hồ. Hôm ấy, Thanh-Thủy lục đục nấu món cháo hến đăi Cụ. Bé Triết-Uyên, lúc đó 6 tuổi, thỉnh thoảng rót Vương Trà vào chén hột mít từ chiếc b́nh độc ẩm gan gà, cung kính mang đến mời Cụ. Uyên, con gái út tôi gọi Cụ là “Ông Nhội.” Tuy không nói ngọng nhưng v́ cháu phát âm chưa chuẩn. Bé Uyên c̣n biết tính “Ông Nhội” thích ăn bánh chưng, nên mỗi lần tôi bảo với nhà tôi là tôi đi thăm Cụ Hà, Uyên nhắc nhở: “Bố nhớ mua bánh vuông (để phân biệt với bánh tṛn là bánh tét) lên biếu Ông Nhội.”

          Trong việc chụp h́nh, Triết-Uyên c̣n quá bé để sai biểu, chỉ biết nghịch phá, thỉnh thoảng Uyên dùng chiếc máy ảnh Panasonic Lumix Digital nhỏ, loại bỏ túi, chụp vài ba tấm h́nh cho Cụ Hà và tôi, tấm được tấm không, tấm thiếu đầu, tấm cắt đuôi. Thanh-Thủy bận trong bếp nên không giúp tôi được ǵ. Tôi một ḿnh loay hoay vừa rọi đèn, vừa chạy đèn, vừa điều chỉnh ánh sáng, vừa canh khẩu độ, vừa để tốc độ, vừa trông chừng độ nhạy của phim, vừa sửa dáng, vừa điều chỉnh flash, vừa gợi chuyện cho Cụ Hà nói cho đỡ buồn, vừa hỏi những câu hỏi lăng nhách cho Cụ thư giăn, vừa diễu cợt cho Cụ vui cười, vừa đặt những vấn đề hơi rắc rối cho Cụ trầm tư, vừa gợi chuyện văn học sử cho Cụ đọc thơ cổ và vừa vất vả làm công việc chính là nh́n qua máy ảnh để làm bố cục, bấm máy.

          Sau gần cả trăm tấm h́nh, tôi vẫn chưa vừa ư tấm nào, nên vẫn tiếp tục chụp. Nhưng, trong ḷng hơi ái ngại, và v́ mết quá, tôi nằm dài xuống sàn, trước mặt Cụ. Cụ vẫn ngồi trên chiếc ghế xoay, nghỉ ngơi, thư giăn, bất động, nh́n tôi và chờ đợi. H́nh ảnh Cụ lúc bấy giờ hơi “tịnh.” Trong giây phút có phần lúng túng, tôi chợt nảy ra một ư tinh nghịch: Để có có một tấm h́nh sinh động, tôi quyết định “lừa” Cụ. Cho đến bây giờ Cụ vẫn chưa biết chuyện nầy. Đây là lần đầu tiên, duy nhất và sau cùng mà tôi “gạt” Cụ.

          Đành thất lễ với Cụ một phen. Tôi quyết định và ngồi bật dậy, dở giọng cà khịa điêu ngoa: “Nè, Cụ có tin con số 13 xui lắm không?” Bất ngờ, chưa có phản ứng ǵ, nhưng trên gương mặt Cụ lộ vẻ băn khoăn. Nửa phút sau, Cụ nói: “Sao hỏi thế?” Tôi thưa ngay: “Thưa Cụ, nhiều người nói với con rằng mối t́nh thứ 13 của Cụ gian truân lận đận rắc rồi vô cùng…” Cụ chống tay lên cằm, gương mặt trầm xuống chừng một phút… Bỗng nhiên, gương mặt Cụ bừng sáng như nh́n thẳng vào nội tâm, như nh́n vào quá khứ, như nh́n vào đáy sâu ḷng ḿnh của gần một thế kỷ về trước.

          Trong khi đó, tôi đă chuẩn bị máy ảnh sẳn sàng v́ biết giây phút xuất thần đă tới. Tôi bấm máy, 6 bóng đèn flash Norman Studio từ 3 PowerPack 2000/ws chớp liên tục. Chỉ khoảng 12 tấm, tuy không kiểm lại, tôi cũng biết ḿnh đă thành công, v́ chắc chắn có những tấm h́nh vừa ư. Thơa măn, tôi tuyên bố giải tán. Thanh-Thủy, nhà tôi, từ trong bếp vui mừng reo lên: “Thả tù!”. Sở dĩ nhà tôi nói thế, v́ nàng biết ngồi lâu Cụ Hà mỏi lưng và khổ tâm lắm. Nguyên là, Thủy vợ tôi, mang ḍng máu họ Trần ở B́nh Dương (quận B́nh Sơn), trưởng nữ của ông bà nhạc sĩ Trần Điềm. Và như thế, Thủy cũng gọi nhà thơ Tế Hanh bằng ông cố… nên trong nàng có đầy tủ tính chất văn nghệ, tinh thần hài hước, thường hay ví von.

Nếu một nhà thơ có bổn phận dùng ngôn từ để thi vị hóa thiên nhiên, người yêu… th́ một nhiếp ảnh gia có bổn phận xử dụng ánh sáng để lư tưởng hóa, diễn tả trung thực và lột bày nét đẹp độc đáo, vẻ đặc thù của đối tượng trước ống kiếng ḿnh. Trong chữ Photography có ngữ căn Photo, gốc La Tinh có nghĩa là ánh sáng. Photography là bộ môn ghi chép bằng ánh sáng. Ánh sáng là then chốt về kỷ thuật. Người ta thường nói chụp “h́nh,” nhưng thực sự là chụp “bóng.” Đi xa hơn, về nội dung, cái bóng cũng chưa quan trọng bằng cái “vía.” Chụp chân dung là nắm bắt cho được cái “vía,” ghi cho được cái “hồn,” khắc cho được cái “thần” của đối tượng.

Sau khi Thanh-Thủy, nhà tôi, làm h́nh (retouch) qua Program Photoshop, tôi in ra khổ 18x26, làm khung, và khoe với mấy người bạn đồng nghiệp trong ṭa soạn IJ & IBD về một nhà thơ nổi tiếng của quê hương. Các photographers, writers & reporters quay quần xem h́nh, rồi bảo: “Trông ông nhà thơ hoành tráng như một triết gia.” Được dịp, tôi dở giọng đao to búa lớn và khoác lác: “Vâng. Đúng thế. Tất cả mọi người, từ thi nhân, văn sĩ, chính trị gia, tu sĩ thậm chí đến vơ sư, tướng lănh… khi đă đạt đến một mức độ thượng thừa nào đó cũng đều phải là những philosophers.” Về điểm “triết gia” nầy, tuy mỗi người một vẻ độc đáo đặc thù, nhưng nh́n chung, chân dung mà tôi chụp cho Cụ Hà phảng phất phong thái trầm mặc như tấm h́nh tôi đă chụp cho Linh Mục triết gia Kim Định cách đây 30 năm. [Những tấm h́nh của LM Kim Định có lẽ nhà ḍng Đồng Công ở tiểu bang Missouri hoặc quư Nữ Tu ḍng La-San San Jose đang cất giữ].

Tấm chân dung Cụ Hà Thượng Nhân, nhà thơ Mạc Phương Đ́nh (của đất Ngũ Phụng Tề Phi) muốn dùng làm h́nh b́a cho Tuyển Tập Vinh Danh Cụ do Văn Đàn Đồng Tâm chủ trương. Nhưng, nhà thơ Trần Việt Yên là người đầu tiên đă xử dụng làm b́a cho một tập kỷ yếu nhỏ để mừng sinh nhật 93 của Cụ, tổ chức tại cơ sở của Thi Văn Đàn Lạc Việt, trên đường McLaughlin. Trần Việt Yên, lúc đó là Tổng Thư Kư của Thi Văn Đàn Bốn Phương do Cụ Trường Giang làm Thi Đàn Trưởng. Bây giờ, nhà thơ tranh đấu và yêu nước họ Trần của chúng ta đă ra người thiên cổ. [Sau nầy, một vài họa sĩ đă vẽ lại (copy) bằng sơn dầu tấm chân dung Cụ Hà, tôi không được biết (chỉ nghe nói lại) và các họa sĩ ấy cũng không ghi xuất xứ trên tác phẩm copy của ḿnh. Lại một vấn đề tồn nghi trong những tranh luận về tác quyền, bản quyền (copyright) và vấn đề lịch sự. Tôi dự trù, vào một ngày nào đó, khi rảnh rỗi, tôi sẽ đề cập đến những tấm h́nh bị cầm nhầm và bị lạm dụng từ năm 1975 đến giờ].

 

(V) 500 KHÚC ĐOẠN TRƯỜNG dang dở. Nguyên là, khởi đầu, một hôm ngẫu hứng, tôi có làm “Mười Khúc Đoạn Trường” (đă post trên nghiathuc.com của giáo sư Nguyễn Liệu, và trên quantho.net của thi sĩ Huệ Thu), theo thể lục bát tứ tuyệt, phổ diễn lại ư của “Mười Khúc Đoạn Trường” mà Vương Thúy Kiều đă phóng bút và trao cho người ca kỹ thời danh Lưu Đạm Tiên nhờ nộp Đoạn Trường Hội Chủ. Sau đó, một hôm rảnh rỗi, tôi lại làm thêm gần 400 trăm đoạn nữa, diễn lại hầu hết những sự kiện lớn và hầu hết mọi nhân vật chính yếu của câu chuyện, căn cứ vào tập lục bát “Đoạn Trường Tân Thanh” của thi hào Nguyễn Du làng Tiên Điền.

Vào dịp Văn Bút Miền Tây Bắc Hoa Kỳ (mà lúc đó tôi giữ chức vụ Tổng Thư Kư) tổ chức Ra Mắt tuyển tập “Thi Văn Viễn Xứ,” nhà thơ Hoàng Xuyên Anh mời tôi làm diễn giả tŕnh bày về các tác giả, giáo sư Trần Minh Xuân là diễn giả tŕnh bày tác phẩm. Giáo sư Trần Minh Xuân cho biết có viết chung một quyển sách về Truyện Kiều với nhà văn Nguyễn Thùy (tác phẩm “Đoạn Trường Tân Thanh, Tiếng Vui Trong Lời Buồn”). Tôi đưa mấy trăm khúc “đoạn trường” ấy cho giáo sư Trần Minh Xuân xem. Đọc xong, giáo sư TM Xuân làm tiếp 2 câu sau mỗi đoạn. Tôi tŕnh bày điều nầy với Cụ Hà Thượng Nhân. Cụ bảo: “Vậy để tôi làm tiếp cho 4 câu.” Thế là Cụ bắt đầu làm 4 câu lục bát tiếp nối vần gieo của giáo sư Trần Minh Xuân.

Cách đây 2 năm, tôi được người bạn quư, cô Vũ Hương Liên, một giáo chức ở Sài G̣n, gởi biếu tập “Truyện Kiều Đối Chiếu” của soạn giả Nguyễn Đ́nh Diệm. Lần đầu tiên tôi đọc được nguyên tác Truyện Kiều của Thanh Tâm Tài Tử, do Cụ Nguyễn Đ́nh Diệm dịch ra Việt ngữ và đối chiếu từng chương, song song với kiệt tác Đoạn Trường Tân Thanh của thi hào Nguyễn Du. Trong 20 chương hồi chính bản, có nhiều chi tiết mà Đoạn Trường Tân Thanh của Cụ Tiên Điền không đề cập đến… Nhờ tài liệu ấy, tôi làm thêm gần 100 khúc đoạn trường nữa, thành toàn bộ, đặt tên là “500 Khúc Đoạn Trường.”

Toàn bộ những Khúc Đoạn Trường chưa hoàn tất đă nằm ở nhà Cụ Hà Thượng Nhân khoảng 1 năm. Một hôm, tôi và Giáo Sư Nguyễn Liệu (người thành lập Quảng Ngăi Nghĩa Thục, tác giả hồi kư Đời Tôi, tuyển tập truyện ngắn Bên Kia Đèo, đang hoàn thành truyện dài Thằng Cá…) lên thăm Cụ. Lúc ấy Cụ vừa khỏi một cơn bịnh kéo dài hàng tháng. [Chúng tôi có mời nhà thơ Hạo Nhiên, một người rất yêu Cụ Hà đi cùng. Nhưng, nhà thơ núi Ấn sông Trà cũng đang bị bịnh, không đi được]. Thấy Cụ yếu, tôi xin lại tập Đoạn Trường để đánh thêm những “khúc” mới làm sau nầy cho trọn bộ. Đến giờ phút nầy tôi vẫn chưa đánh máy xong “500 Khúc Đoạn Trường” v́ quá bận. Và, đến lúc nầy, c̣n vài trăm đoạn thuộc phần của Cụ Hà, chưa chắc ǵ Cụ có thể tiếp tục. Tuổi Cụ càng ngày càng cao, và do đó, sức khỏe của Cụ càng ngày càng kém.

Trong dịp một số những nhà văn lăo thành được vinh danh, tổ chức tại hội Trường cơ quan thiện nguyện VIVO, học giả Đặng Văn Ruyên, một người chuyên nghiên cứu và viết nhiều tác phẩm về Truyện Kiều, muốn xem qua bản thảo “500 Khúc Đoạn Trường.” Bởi đó, Cụ Ruyên mời Cụ Hà và tôi ghé nhà Cụ uống trà và nhân dịp mang theo bản thảo tập Đoạn Trường cho Cụ xem qua. Đến ngày hẹn, Cụ Ruyên bị bịnh chóng mặt, nên tôi và Cụ Hà đèo nhau đi ăn phở. Sau đó, tôi chỉ gởi tŕnh Cụ Ruyên “Mười Khúc Đoạn Trường” của riêng tôi để cụ Ruyên đưa vào “Danh Mục Truyện Kiều” do chính Cụ Đặng Văn Ruyên biên soạn.

“500 Khúc Đoạn Trường” vẫn c̣n nằm đó, chưa hoàn thành, nhà thơ Dzạ Chi đang cất giữ. Trên danh nghĩa, “500 Khúc Đoạn Trường” là của 3 tác giả: (a) tôi (vơ thạnh văn), người khởi xướng (b) Trần Minh Xuân là người làm 2 câu lục bát kế tiếp (c) Hà Thượng Nhân, làm 4 câu sau cùng của mỗi “khúc’ đoạn trường. Một hôm, Cụ Hà có đề nghị đưa cho giáo sư tiến sĩ khoa học gia nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh làm tiếp 2 hoặc 4 câu nữa, nối theo phần của Cụ Hà. Đó cũng là mong ước của tôi, v́ theo tôi, Toàn Phong làm thơ lục bát mặn mà duyên dáng lắm… Ư kiến nầy tôi cũng chưa có dịp thưa lại với giáo sư Nguyễn Xuân Vinh. Nhưng rồi, sau cùng, Cụ Hà lại bảo: “Vinh bận nhiều việc nên Vinh làm chậm lắm.” Về chuyện in ấn tác phẩm, Cụ Hà dặn ḍ: “Sau khi tôi quy tiên, muốn làm ǵ th́ làm. Nhưng bây giờ, đừng phổ biến.”

 

(VI) Buổi Tiệc NGUYÊN TIÊU VỌNG NGUYỆT tại tư gia ông bà Giáo Sư Nguyễn Liệu. Nguyên Nguyễn Liệu là một tay hào kiệt xứ Quảng, tánh khí hào sảng, thích thơ, sành rượu, yêu bạn bè… Đây là nhân vật nổi tiếng với huyền thoại chống Cộng, chống tham nhũng và có công dựng Quảng Ngăi Nghĩa Thục, một cơ sở giáo dục độc nhất vô nhị (sau Đông Kinh Nghĩa Thục của nhóm những nhà cách mạng yêu nước mà đại biểu là Cụ Lương Văn Can). Quảng Ngăi Nghĩa Thục chủ trương giáo dục dân trí hoàn toàn miễn phí cho học sinh nghèo thời chiến tranh trong tỉnh. Nguyễn Liệu, v́ mê thơ và v́ yêu bạn nên thỉnh thoảng tổ chức tiệc thơ rượu theo gương người xưa: Dĩ văn hội hữu. Những ngày trước năm 75, Nguyễn Liệu đă một thời dĩ hữu phù nhân (cùng với bạn bè dựng Nghĩa Thục).

V́ chỗ thâm giao với Cụ Hà Thượng Nhân, nên trong những cuộc rượu lớn tại nhà Nguyễn Liệu đều có mặt Cụ Hà. Trong tiệc rượu tiếp đón học giả Thinh Quang, Cụ Hà đến rất sớm, ngồi ghế danh dự số 2, đối diện mút bàn với nhà văn hóa lớn Thinh Quang, một con dân xứ Quảng, đất Thu Xà (quê hương nhà thơ Bích Khê). Nhưng, trong tiệc rượu Nguyên Tiêu Vọng Nguyệt, Cụ Hà đến trễ, ghế danh dự bị nhà thơ bé con Mai Hoài Thu chiếm mất. Vào chiều hôm tổ chức tiệc rượu, mưa tầm tả, nhiều người đi lạc. Nhà thơ Mạc Phương Đ́nh đèo Cụ Hà, nhà thơ Ngọc Bích chở Cung Diễm… chạy quanh quẩn trong bóng tối mưa rơi t́m đường… tới muộn.

Buổi tiệc đáng lư tổ chức bên ngoài, sau vườn, “Dưới Giàn Hoa Tím,” như phu nhân của Nguyễn Liệu sắp xếp và chuẫn bị chu đáo… nhưng cuối cùng, trời mưa bất tử nên cuộc rượu đă diễn ra trong nhà. Dù mưa gió, khách làng thơ vẫn đến đông đủ. Tuy vậy, chủ nhân xuưt xoa tiếc hoài về những người vắng mặt, như: nhà thơ Trường Giang (TVĐ Bốn Phương), nhà thơ Song Nhị (Cội Nguồn), nhà thơ ẩm giả Dzạ Chi, nhà thơ Huệ Thu (quantho.net) và phu quân, nhà thơ Du Sơn Lăng Tử. Những khách thơ hiện diện gồm có: ông bà nhạc sĩ Trần Điềm, giáo sư Nguyễn Cao Can, nhà thơ Mạc Phương Đ́nh, MC xướng ngôn viên Thủy Tiên & phu quân, nhà thơ Mai Hoài Thu, nhà thơ Triều Nghi & phu quân Hàn Phong Cao, nhà thơ Ngọc Bích, nhà văn Dương Diên Nghị, nhà thơ trào phúng Tú Lắc (Cung Diễm), kư giả Lê Diễm, kư giả Cao Sơn (TinVietNews), cây bút Trần Hữu Từ (Trần Tử Hối), nữ chủ nhân Ưng Thị Ảnh vị nội tướng đăm lược của Nguyễn Liệu, cựu Sĩ Quan BĐQ Ưng Chơn, vợ chồng Lư Trung & Ḥa Đàm, Tiến sĩ Nguyễn Quang Đức, Thanh Thủy và tôi… sau cùng là chủ nhân giáo sư Nguyễn Liệu.

Cụ Hà đến trễ, bước vào cửa chính, nước mưa c̣n chảy ṛng từ mũ từ áo… Tuy vậy, Cụ vẫn tươi cười rạng rỡ. Cụ khiêm tốn đến ngồi bên Thủy Tiên. Đức khiêm tốn làm Cụ sáng rực… Thoạt bước vào pḥng tiệc, mọi người đều ồ lên những tiếng hân hoan và vui mừng. Ngay giây phút ấy, tôi nhận thấy Cụ Hà sức khỏe khang kiện, thần thái an nhiên, nghi biểu đường đường… Cụ kiên nhẫn và im lặng lắng nghe tôi (đóng vai MC bất đắc dĩ) tuyên bố lí do, giới thiệu từng người khách quư của chủ nhân tiệc rượu. Nguyễn Liệu nói lời vinh danh Cụ và mọi người vỗ tay rồi cùng nâng ly chúc mừng. Cụ hài ḥa tâm sự, thân t́nh. Cụ kể giai thoại làng thơ làng văn ngày trước với những chi tiết thật lạ lùng hấp dẫn và đầy hứng thú. Cụ đọc thơ bằng hữu xa xưa… Giọng Cụ c̣n sang sảng.

Những lúc trà dư, Nguyễn Liệu thường kể cho tôi nghe về những kỷ niệm riêng với Cụ Hà từ trước năm 1975, những ngày c̣n làm tờ Sóng Thần với nhà văn nhà báo Chu Tử ở Sài G̣n năm xưa. Theo Nguyễn Liệu, Cụ Hà là một connoisseur điệu nghệ như Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu ngày trước, như Vũ Bằng (tác giả “41 Năm Nói Láo”) sau nầy. Trong những buổi rượu ở Sài G̣n và các vùng phụ cận, Cụ Hà thường chê Nguyễn Liệu thiếu tác phong và cung cách hảo hán của một tay… ăn thịt chó sành đời.

Tôi muốn nhắc đến kỷ niệm Nguyên Tiêu nầy, v́, tôi hứa với Cụ Hà rằng tôi sẽ mang hủ rượu “Bất Tử Tiên Đan” do Cụ đặt tên ra giới thiệu và mời anh chị em văn nghệ sĩ nếm thử cho biết. Nhưng rồi, v́ mưa gió long đong, tôi loay hoay nên quên mất hủ “tiên đan” đă được mang đến và đang nằm chờ sẳn trong tủ rượu nhà họ Nguyễn. H́nh như Cụ không nhớ ra chuyện thất hứa của tôi. Đó cũng là lần đầu tiên, duy nhất và sau cùng mà tôi thất hứa với Cụ. H́nh ảnh của Cụ Hà đêm hôm ấy quá đẹp trong tôi. Suốt 5 năm quen biết, chưa bao giờ tôi thấy Cụ sáng rực tinh anh, nhạy bén và lịch lăm như đêm rằm Nguyên Tiêu (nhưng thiếu trăng) hôm đó.

 

(VII) BÍ TÍCH THÁNH TẨY và MÓN QUÀ CẦU PHÚC. Thường th́ mỗi tuần tôi mới kiểm emails một lần. Nhưng, trời xui đất khiến, tôi lại kịp thời đọc được một tin tức ngắn do nhà thơ Tố Nguyên gởi đi, loan báo việc Cụ Hà Thượng Nhân sẽ thụ nhận bí tích Thánh Tẩy tại thánh đường Saint Victor, thành phố Milpitas, qua bàn tay Linh Mục học giả Cao Phương Kỷ. [Linh Mục học giả Cao Phương Kỷ cũng là chỗ thâm giao với Cụ Hà. Mười năm trước, khi LM Cao Phương Kỷ ra mắt tác phẩm “Kitô Giáo và Tam Giáo,” th́ Cụ Hà là một diễn giả. LM Cao Phương Kỷ, một mẫu Sorbonist, du học Pháp năm 1961, tốt nghiệp đại học Sorbonne với học vị Tiến Sĩ Triết Đông. Về nước, Linh Mục  giảng dạy các môn Triết, Thần Học, Hán văn… tại các Đại Chủng Viện đào tạo Linh Mục. Sau năm 1975, Linh Mục Cao Phương Kỷ được mời dạy tại đại học Saint Joseph, CA]. Tôi thông báo tin vui cho một số bạn hữu. Hầu hết chẳng ai biết ǵ, v́ việc nầy tuy trọng đại, nhưng chỉ có tính cách gia đ́nh và hạn chế trong Cộng Đoàn Công Giáo. Măi đến 3 tuần sau, nhiều người mới biết tin, có người gọi điện thoại phàn nàn, trong đó có ông bà Bác Sĩ Lê Văn Sắc, một người rất yêu kính và quen biết Cụ Hà lâu năm.

Bỏ làm việc hôm đó, tôi lái xe 3 tiếng đồng hồ về Milpitas tham dự Bí Tích Thánh Tẩy của Cụ. Tôi là người đến thánh đường St. Victor sớm nhất, sớm hơn cả nửa tiếng đồng hồ. Sau đó, thân hữu lần lượt tới. Những người trong Phong Trào Cursillos của giáo xứ Việt Nam như giáo sư Ngô Đức Diễm, luật sư Phạm Văn Hướng, anh Trần Hiếu, đều có mặt. Đó là những người được chỉ định trực tiếp lo cho Cụ. V́ có tính cách tôn giáo và trong phạm vi gia đ́nh, nên sự kiện được thông báo hạn chế, chỉ có khoảng 150 người, vừa thân hữu chọn lọc và gia đ́nh tham dự.

Nhà thơ Tố Nguyển đẩy Cụ trên xe lăn, từ chiếc xe nhà đến cửa chính của Giáo Đường. Bạn bè quay quần chen lấn chụp h́nh và chào mừng Cụ. Sau đó xe lăn của Cụ được đẩy thẳng lên Cung Thánh, trong tiếng dương cầm thánh thót chào mừng của Ca Đoàn. Sự vui mừng lộ hẳn trên nhưng gương mặt mọi người, nhất là những người con của Cụ. Đôi mắt Cụ Bà chớp chớp long lanh như thời mới gặp Cụ Ông 65 năm trước. Gương mặt Cụ Hà hiền lành, khiêm cung và có vẻ thật ngoan đạo. Giây phút ấy, Cụ Hà là đứa con út và con cưng của Giáo Hội. Giáo Hội Công Giáo La Mă là một giáo hội trọng thức (formalism). Nghi thức gia nhập Giáo Hội, qua vị đại điện là Linh Mục Josepth Cao Phương Kỷ, tác giả nhiều tác phẩm nghiên cứu giá trị, diễn ra nhanh chóng ngắn gọn. Nghi thức Thánh Tẩy được cử hành bằng tiếng Việt, tuy không “trọng thức” như cử hành bằng tiếng La-Tinh truyền thống của Giáo Hội từ trước Công Đồng Vaticano II, nhưng được thay vào đó bằng sự cảm động tha thiết thân t́nh của những người sốt sắng và vui mừng tham dự.

Trong việc hồi nguyên của Cụ Hà, có lẽ Cụ Bà là người hân hoan vui mừng và là người có công lớn nhất. Trong lịch sử Giáo Hội, Thánh Nữ Monica được chọn làm Thánh Nữ Bổn Mạng của Hội các Bà Mẹ Công Giáo, chỉ là một người đàn bà tầm thường như bao người đàn bà khác. Nhưng suốt đời, Bà đă dùng t́nh yêu và nước mắt để biến cải một đứa con phóng lăng (Tiến Sĩ Augustine) trở thành một vị Thánh lớn của Giáo Hội. Nguyên Augustine là một chàng trai tài hoa trác lạc, mới 20 tuổi đă đỗ Tiến Sĩ, từ Pháp qua Roma dạy tiếng La-Tinh trong các Đại Học cho sinh viên Ư. Quanh ông lúc nào cũng có giai nhân, tửu, nhạc… v́ mê danh vọng rực rỡ của ông. Nhưng, cuối cùng, nước mắt của người Mẹ đức hạnh đă biến cải đời ông thành thánh hạnh. Trong tất cả mọi nền văn hóa, người vợ đúng nghĩa lúc nào cũng đóng một vai tṛ cao quư tuyệt vời tương tự. Với đức hạnh của Cụ Bà, con ngựa chứng ngang tàng trên diễn đàn văn học, Hà Thượng Nhân, sau bao năm vẫy vùng, cuối cùng đành thúc thủ, cúi đầu trước kỳ vỹ của Hóa Công.

Có một điều cảm động nhất và cũng lạ lùng nhất đối với tôi, mà tôi chưa hề được chứng kiến trong bất cứ một Bí Tích Thánh Tẩy nào. Đó là, Cụ Hà có rất nhiều người “đỡ đầu” cùng một lúc. Những người “đỡ đầu” (Le Parrain, The Godfather) trên nguyên tắc, thường lớn tuổi, đóng vai tṛ như một vị giám hộ có trách nhiệm đứng ra “băo lănh” cho người được đỡ đầu trước Giáo Hội về mặt tinh thần, đạo đức, nhắc nhở đời sống kinh nguyện, đôi khi giúp đỡ về phương diện vật chất, nếu cần, trong cuộc sống hằng ngày… Trường hợp Cụ Hà, giây phút nghiêm trọng nhất, khi vị Linh Mục truyền rao xác tín về việc Cụ Hà đă chính thức bước vào Giáo Hội, có đến 7 bàn tay chung quanh Cụ, đưa ra, đặt lên vai lên đầu Cụ. Những “bàn tay trợ điển,” trẻ nhất là nhà thơ Tố Nguyên, Trần Hiếu và lớn nhất là một vị nhân sĩ khả kính râu tóc bạc phơ. Tất cả đều nhỏ tuổi hơn Cụ. Mỗi người có một Thiên Thần Hộ Mệnh (Guardian Angel), riêng Cụ Hà v́ được Chúa thương nhiều hơn nên có đến 2 Thiên Thần hộ mệnh chăng?! Cho đến bây giờ, tôi chưa có dịp hỏi ai để thấu đáo vấn đề… chỉ thắc mắc một cách giăn dị: Có phải v́ “vía” của Cụ Hà nặng quá chăng?!

 Nghi thức Thánh Tẩy chấm dứt, mọi người tụ tập trong một hội trường nhỏ của Giáo Xứ, tham dự tiệc mừng. Một buổi tiệc nhỏ, nhưng vấn đề ẩm thực thật xuất sắc, do những bàn tay đảm đang khéo léo của các vị nữ lưu thuộc Phong Trào Cursillos khoản đăi. Trong buổi tiệc mừng, giáo sư Ngô Đức Diễm mời một số nhân sĩ nói vài lời chúc mừng Cụ. Mở đầu là giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, đến nhà thơ Đông Anh, kế tiếp là 2 vị đại diện của phái đoàn Phong Trào Giáo Dân (Bác sĩ Trần Văn Cảo, nhà văn Trần Phong Vũ) gồm 10 người về từ Los Angeles… Trước tôi là nhà thơ Triều Nghi, nhà thơ Ngọc Bích. Sau tôi là nhà báo Nguyễn Vạn B́nh (báo Ư Dân). Cựu thiếu tướng Nguyễn Khắc B́nh phát biểu cảm tưởng sau cùng để kết thúc buổi tiệc.

V́ không chuẩn bị, tôi chỉ bập bẹ vài lời lượm thượm: “Kính thưa hai Cụ, con về đây để cầu nguyện cho quư Cụ, để chung vui với gia đ́nh và để mừng cho Cộng Đoàn Dân Chúa. Thật ra, sự việc trọng đại ngày hôm nay, chẳng phải là việc t́nh cờ… mà, Thượng Đế đă nh́n thấy Cụ từ lâu. Thượng Đế đă “chấm” Cụ từ muôn lượng tiền kiếp. Thượng Đế đă gọi đích danh Cụ. Hôm nay, mừng Cụ, con có món quà nhỏ. Đó là cây Thánh Giá, con giữ trong xe để làm vật hộ thân những lúc lái xe đi làm xa. Nay, kính tặng Cụ để chúc Cụ sống thêm 5 năm mạnh khỏe cho tṛn 100 tuổi chẳn.”

Từ tim phổi, tôi nói những lời ấy v́ tin tưởng mănh liệt vào Thuyết An Bài tiền định và sự Quan Pḥng khôn ngoan tuyệt đối của Hóa Công trong ư niệm Thần Học Công Giáo. Trong 5 năm quen Cụ Hà, tôi biết Cụ là người hữu thần, tôi biết Cụ là người dày tâm đạo, tôi biết Cụ là người có nhiều Phật (thiện) tính. Ư tôi muốn nói là việc Cụ Hà đến với Giáo Hội là việc đương nhiên, v́ suy luận theo lẽ thông thường, cây nghiêng bên nào, cuối cùng rồi cũng sẽ ngă về bên ấy. Hạt giống Đức Tin đă được gieo cấy từ lâu, trên mảnh đất phong nhiêu, chỉ chờ ngày đâm chồi nẩy lộc khoe màu tươi tốt. Là Kitô hữu, Cụ Hà trở thành André Dũng Lạc Hà Thượng Nhân. Khi Cụ Hà chọn André Dũng Lạc làm vị Thánh Bổn Mạng, tôi tự hỏi: Hoa trái Đức Tin rực rỡ mà Cụ Hà nhận lănh ngày hôm nay, chẳng biết do Cụ Hà thủy chung với Thánh Nhân hay Thánh Dũng Lạc đă đùm bọc dẫn dắt Cụ suốt gấn ¾ thế kỹ để có ngày hôm nay?! Nguyên là, sau khi bỏ kháng chiến về, Cụ Hà dạy học cho Trung Học Dũng Lạc (một cơ sở giáo dục của Giáo Phận mang tên vị Thánh Nhân Tử Đạo André Dũng Lạc) của Giáo Phận Bắc Ninh, mà lúc đó, Đức Giám Mục Hoàng Văn Đoàn, một người rất mực yêu thương và nâng đỡ Cụ Hà,  đang cai quản.

Cụ Hà là người hữu thần, Cụ là người dày tâm đạo, Cụ là người có nhiều Phật (thiện) tính. Theo tôi, một nghệ sĩ lớn phải là một người hữu thần, trên có trời, dưới có đất, chung quanh có thần thánh. Nghệ sĩ lớn, phải là một người mà cuộc sống gắn liền với thiên nhiên, t́nh người. Thượng Đế là người nghệ sĩ kỳ vĩ nhất, vô tiền khoáng hậu, tự thủy chí chung. Người La Mă có quá khứ ưa đi chinh phạt, từng là một đế quốc hùng mạnh nhất, nên coi Thượng Đế là Vua của muôn vua, Chúa Tể của mọi chúa tể (Le Roi des rois). Tôi, một nghệ sĩ khiêm hạ nhất, khúm núm ngước nh́n Tạo Hóa như là Chân, Thiện, Mỹ và là nguồn cảm hứng (và thần hứng) cho mọi nghệ sĩ. Trong số những tuyệt vời mà Người đă tạo dựng trên tất cả mọi thái dương hệ, có lẽ Thượng Đế cưng chiều giới nghệ sĩ nhất,

Lập bập xong vài lời với Cụ Hà và Cụ Bà, tôi đưa tay vào ngực áo và lôi ra 1 cây Thánh Giá, cung kính 2 tay dâng lên Cụ. Cụ Hà từ chiếc xe lăn cũng đưa cả 2 tay nhận lấy. Nguyên cây Thánh Gía ấy, một món quà tinh thần, do một vị Mục Sư dạy môn Thần Học Đối Chiếu của đại học Hungtingdon (một cơ sở giáo dục của giáo phái Methodist, thủ phủ Montgomerry, thuộc tiểu bang Alabama) biếu tặng vào tháng 9 năm 1975, ngày nhập học của niên học đầu tiên, tôi giữ măi cho đến lúc trao tặng lại Cụ Hà. Thánh Giá là một biểu tượng mà mỗi người Công Giáo đều phải mang như một cái nghiệp (nghiệp, theo quan niệm Phật Giáo). Mỗi người phải mang cây Thập Giá như mang lấy cái nghiệp của chính ḿnh, như 2 ngh́n năm trước, Đức Jésus, vị triết nhân Lưỡng Hà Địa, đă vác cây Thập Tự giá từ tiền đ́nh dinh Tổng Trấn Philato, xiêu vẹo đi lên đỉnh núi Golgotha vào ngày thụ nạn, ngă xuống đứng lên chẳng biết bao nhiêu lần, để trả cho xong cái “nghiệp” cứu rỗi muôn dân.

Cũng tại đại học Alabama, một vị giáo sư Triết Học đă biếu tôi một tượng Phật, tôi c̣n giữ măi từ năm 75 đến giờ. Tượng Phật hiếm hoi và vô giá ấy, tôi đề nghị biếu tặng nhà thơ nữ Đặng Lệ Khánh (chủ nhân trang mạng nghệ thuật art2all.net, nguyên Chủ Nhiệm tạp chí Nguồn, SJ, CA, USA) và phu quân Tống Phước Hải. Nhưng, Đặng Lệ Khánh Tỷ Tỷ từ chối và bảo rằng tôi nên giữ tượng Phật ấy th́ ư nghĩa hơn. Suốt bao năm, tượng Phật và cây Thập Giá đă là đôi bạn thân thiết của nhau trong chiếc Volkswagon Eurovan mà tôi dùng làm Phù Hư am. Bây giờ, Chúa đi rồi, Phật c̣n lại một ḿnh, chắc Phật cô đơn và buồn nhớ lắm!!!

Cây Thánh Giá (mà tôi vừa biếu Cụ Hà) đă cùng tôi bao năm thăng trầm lận đận. Ngày nay, cây Thánh Giá lận đận ấy đă được nghỉ ngơi trên bức tường pḥng khách nhà Cụ Hà. Lần sau cùng đến thăm Cụ, có nhà thơ Ngọc An ngồi đấy, tôi thấy cây Thánh Giá của tôi được treo vào một nơi trang trọng nhất. Ḷng tôi reo lên nỗi vui mừng thầm kín. Sỡ dĩ tôi gọi cây Thánh Giá mà tôi biếu Cụ Hà là món quà cầu phúc, v́ tôi tin rằng, mai mốt khi trăm tuổi, từ Thiên Đường nh́n xuống, Cụ Hà sẽ giang tay chúc lành cho tôi, một người nhỏ bé nhất trong số những người c̣n lại trần gian mà Cụ hằng thương quư thuở sinh tiền.

Buổi tiệc mừng Cụ Hà kết thúc. Tôi chụp mấy tấm h́nh kỷ niệm cho khoảng 30 người c̣n lại sau cùng. V́ không thấy có vị nào chụp h́nh chuyên nghiệp hiện diện, nên tôi đă tiện tay chụp luôn một số những h́nh khác của toàn nghi thức Thánh Tẩy. Theo yêu cầu, tôi đă gởi một số h́nh về cho Phong Trào Giáo Dân (Nam Cali), cho nhà thơ Ngô Đức Diễm, cho nhà báo Nguyễn Vạn B́nh (chủ nhiệm báo Ư Dân, Vùng Vịnh), cho nhà thơ Chinh Nguyên (TTK Thi Văn Đàn Lạc Việt), cho nhà thơ Ngọc Bích (Thi Văn Đàn Bốn Phương). Hôm sau, Ngọc Bích viết một bản tin ngắn kèm theo một tấm h́nh do tôi chụp. Trang mạng Lạc Việt (của TVĐ Lạc Việt) và website Việt Luận của nhà văn đối kháng Nguyễn Quang (c̣n trong nước, tác giả Biển Đỏ Việt Nam) cũng trích đăng lại nguyên văn bản tin ngắn gọn của nhà thơ Ngọc Bích. Tiệc măn. Mọi người ra về trong nỗi hân hoan vui mừng và cảm động. Tôi cũng cùng một tâm trạng. Trên đường lái xe từ Milpitas về South San Jose, tôi tiếp tục suy nghĩ về trường hợp hồi nguyên của Cụ Hà, và tôi tiếp tục th́ thầm cầu nguyện cho Cụ. Xin Thượng Đế giữ ǵn Cụ được an lạc trong những ngày cuối đời.

 

# # #

 

 Tóm lại, những ngày quen biết Cụ Hà tuy ngắn ngủi, nhưng tôi hoàn toàn măn nguyện v́ mọi chuyện đều tốt đẹp, tṛn đầy, viên măn. Chỉ tiếc một điều, đó là tôi không học được tài thất bộ thành chương của Cụ. Và quả thật, tôi cũng không cố t́nh cầu học điều hiếm quư đó, bởi quan niệm sáng tác của tôi hơi khác, không cùng trường phái. Nhưng, bù lại, tôi đă lợi lạc khá nhiều trong việc cố học được chừng nào hay chừng nấy cái đức lớn của Cụ. Chính cái đức của Cụ, đă đem lại cho Cụ sự thương mến của nhiều người, chứ không phải do tài ba. Xưa nay, tài chỉ mang lại sự ganh ghét, đố kỵ, dèm pha, công kích… Nguyễn Du: “Chữ tài liền với chữ tai một vần.” B́nh sinh, tính Cụ Hà tuy cương nghị, chủ trương: Dĩ đức báo đức, dĩ trực báo oán, không ưa những kẻ khôn ranh và gian manh vặt vănh… nhưng cũng rất thông cảm, hay quên và dễ tha thứ.

Hôm nay, nhân dịp những người bạn thân thiết của Cụ như nhà thơ Cung Diễm, nhà thơ Mạc Phương Đ́nh, nhà thơ Huệ Thu, Chủ Nhiệm Tạ Xuân Thạc và nhà báo Chủ Bút Việt Hải (Văn Đàn Đồng Tâm) chuẩn bị ấn hành một tuyển Tập để vinh danh Cụ, tôi viết vài ḍng chủ quan, đóng góp với anh chị em văn nghệ sĩ, về một người mà tôi mang ơn, yêu thương và vô cùng kính trọng: Thi Lăo HÀ THƯỢNG NHÂN.

 

Vơ Thạnh Văn.

Viết từ thung lũng bồ đào Napa, CA.

Ngày mồng 10 tháng 9 năm 2009.

 _____

Tưởng niệm Thi Sĩ Hà Thượng Nhân

 

trang vơ thnh văn

art2all.net