Trạch An -Trần Hữu Hội

 

 

MANG VIÊN LONG:

 

TRUYỆN NGẮN TRẦN HỮU HỘI –

Những Trang Viết Hiện Thực Đời Sống Tâm Huyết.

 



          Trần Hữu Hội người làng An Lưu, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, nhưng vừa lớn lên đã phải trôi dạt nhiều nơi vì chiến tranh; từ Biên Hòa, Đà Nẵng, Ninh Thuận rồi Sài Gòn. Bút danh Trạch An của anh được ghép hai tên làng của cha và mẹ (Thượng Trạch - An lưu).

Giống như một số người cầm bút khác, anh đã có đam mê văn học từ thuở còn học lớp 12, nên dạo ấy đã lập bút nhóm Hội Hữu, cùng các bạn học sinh, sinh viên tại Ninh Thuận cùng sinh hoạt văn nghệ; với sự giúp đỡ của họa sĩ - điêu khắc gia Phạm Văn Hạng. Bút nhóm đã xuất bản tuyển tập thơ văn, do nhà văn Trần Hữu Ngũ trình bày bìa và in roneo. Tuy vậy, anh thật sự dành thời gian cho việc sáng tác chỉ từ năm 2010, khi bị bệnh tắc động mạch chị, phải cắt bỏ chân phải. Anh tham gia đăng bài ở các trang website.. trong và ngoài nước và sinh hoạt văn nghệ với nhóm Quán Văn, từ dạo đó…:

Năm 2014, anh cho giới thiệu tập truyện đầu tay "Hạt Mầm Trót Vay". Sang năm 2015, xuất bản tập "Số Mạng". Những truyện ngắn của anh hầu hết là ghi lại, phản ảnh đời sống hiện thực chung quanh; từ gia đình, quê nhà, tình yêu, đến những đổi thay, chuyển biến xã hội, của thời cuộc ngày càng phức tạp, đau buồn! Ngoài truyện ngắn, Trần Hữu Hội thường viết bút ký, tạp bút, về nhiều lãnh vực quan thiết của đời sống. Trần Hữu Hội còn sáng tác thơ - những bài thơ trữ tình, hồn nhiên, trong sáng của anh, được nhiều bạn đọc yêu thích.

Trong giới hạn một bài ghi nhận ngắn, tôi chỉ xin chia sẻ đôi điều về tính chất các truyện ngắn của Trần Hữu Hội - đó là “những trang viết hiện thực đời sống tâm huyết” mà chỉ có người cầm bút chân chính, vô tư có trách nhiệm, mới trang trải hết lòng mình.

Thãm trạng gia đình, được tác giả quan tâm nhiều hơn, với nhiều chi tiết hiện thực chân xác. Có thể nói đây là một vấn nạn xã hội đau buồn, mà tất cả người đọc đang quan tâm: “Chỉ sau khi sinh đứa con hai năm, cô ấy bắt đầu ngoại tình với một cán bộ tài chính huyện, họ có chung một đường dây huê hụi lớn trong vùng, trên danh nghĩa làm ăn, họ gần gũi nhau cho đến khi tôi bắt gặp, ngay trong phòng ngủ ngôi nhà mình! Ngôi nhà đứng tên cô ấy nên tòa tịch biên sau khi họ bỏ trốn, tôi về ở với Mẹ!”..( Người Khách Cuối Năm)

Nền tảng đạo đức xã hội chao đảo, những giá trị luân lý bị lãng quên, thì sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình là điêu không thể tránh khỏi: “…Ba năm trước, tôi mới biết cô ấy đang ở Buôn Ma Thuột, đứa con trai của tôi và cô ấy phải vào tù vì dính vào một vụ cướp! Tôi tìm lên thăm con…Biết sự tình là trong đám thanh thiếu niên của vụ án, con tôi chưa đủ tuổi thành niên, nhưng muốn lo lót trước khi tòa xử, phải chạy một khoản tiền mà cô ấy không có hay không muốn bỏ ra, tôi phải trở về bán lô đất và căn nhà này…Nhưng rồi cũng không lo được cho đứa con thoát vòng tù tội! Tiền mất tật mang, nó ra tòa lãnh án bốn năm tù giam! Cô ấy lại cùng chồng mới trốn đi lần nữa! Họ đã có với nhau hai đứa con… Không đành bỏ con tù tội không ai thăm nuôi, tôi mua một đám đất nhỏ, dựng một cái chòi…rồi hàng ngày đi làm thuê, vừa nuôi bản thân vừa dành dụm hàng tháng đi thăm con trong tù!”. ( Người Khách Cuối Năm)

Hạnh phúc tìm lại được trong đời sống cũng quá gian truân, ngắn ngủi, bất hạnh: “Chúng tôi nâng niu từng ngày niềm hạnh phúc muộn màng. Hai chúng tôi cùng mong mỏi một đứa con cho trọn vẹn hạnh phúc chồng vợ…Nàng mang thai sau một năm chung sống. Đứa con lớn dần, là con trai và đã được năm tháng! Tôi không để cô ấy làm một việc gì, cực chẳng đã phải đi xe máy như đi chợ thì tôi chở đi…Khi tôi lo lắng ngăn ngừa tai họa từ hướng này thì bằng ngã khác, tai ương ập đến với chúng tôi!”.

Với giọng văn giản dị, chân thành - tác giả từ tốn kẻ tiếp về nỗi khổ đau, mất mát thưởng bất ngờ ập đến cho đời sống mọi người: ”Năm đó cũng vào những ngày cuối năm, trước lễ giáng sinh vài hôm, trong một lần tắm, cô ấy bị ngã trong phòng tắm, bụng cô ấy dập vào bồn cầu…Tôi kinh hãi nhìn cô ấy đớn đau trong máu và nước! Khi đến bệnh viện thị xã, thì cả cô ấy lẫn thai đều quá yếu. Buộc phải mổ đưa thai ra để chăm cho mẹ… :
- Không thể cứu được cháu, chị vẫn còn hôn mê nhưng đã qua cơn nguy kịch. Anh đem cháu về rồi sáng mai trở lại!
” ( Người Khách Cuối Năm

Kết thúc câu chuyện, Trần Hữu Hội cho Thuyết - nhân vật trong truyện, nghĩ hộ mình một cách vô vọng về cuộc đời, mà lẽ ra, tác giả nên có một hướng đi tích cực hơn: “Anh ngẫm nghĩ: hạnh phúc của kiếp con người, bao giờ cũng mong manh ngắn ngủi, nhưng nỗi bất hạnh thì xem chừng như trùng trùng, vô tận!!!”.

Bên cạnh các vấn nạn lớn, Trần Hữu Hội, cũng đã dành cho tình bạn, tình quê những trang viết đầy cảm xúc. Truyện ngắn “Bạn Già” tuy được viết với ít chi tiết hơn, đơn giản hơn, có thể nghĩ là “khô và đơn điệu” - nhưng là một truyện ngắn hay của anh. Truyện kể về hai người bạn đồng hương Quảng Trị - Phúc và Tấn, cùng học chung thời Tiểu học, Trung học, rồi cùng tha phương vì chién tranh lan rộng, đe dọa cuộc sống an bình: “Cả hai cùng sinh ra từ Quảng Trị, một tỉnh miền Trung giáp ranh với vĩ tuyến 17, nơi con sông ngăn chia hai miền Nam Bắc. Sự kiện lịch sử này xảy ra hai năm trước khi cả hai chào đời, không phải sinh ra cùng một nơi. Tấn ở huyện Triệu Phong, một vùng lúa gần biển, còn Phúc ở Cam Lộ, một huyện vùng cao.

Chiến tranh liên miên và rồi năm 1972, khi phe bên kia tấn công vào tỉnh lỵ này, họ chạy vào Huế, rồi Đà Nẵng, ở trong những trại tạm cư. Chuyện về lại chốn chôn nhau cắt rốn ngày càng xa vời, vả lại rồi cũng đạn bom tang tóc bởi chiến tranh chưa thôi, nhiều gia đình cùng nhau di dân, vào khai hoang lập cư trong vùng rừng núi này, dưới sự chăm lo của một Linh Mục.

Ba năm được sống gần nhau ở khu trại tạm cư, được ngồi chung lớp. Rồi “Phúc vào Đại học sư phạm Sài Gòn, ngành Khoa Học. Tấn lên Viện Đại Học Đà Lạt, cũng khoa sư phạm, ban Việt- Hán”.

Biến cố 1975 đã làm thay đổi cuộc đời họ, như bao cuộc đời khác “ –“Chưa tròn niên khóa thì biến cố 75 ập đến. Tấn không thể tiếp tục việc học hành, anh trở về với gia đình. Cha đi học tập cải tạo, là lao động chính trong nhà, anh vừa đi nghĩa vụ khai hoang, thủy lợi… vừa giúp mẹ làm rẫy. Phúc ở lại Sài gòn tham gia các phong trào Thanh Niên, nghe đâu là một trong những phần tử tiến bộ của đoàn Thanh Niên Thành phố, có lần được tuyên dương trên báo Sài Gòn!”.

Một lần Tấn đi buôn, vào Sài Gòn tìm thăm Phúc. Lẽ ra đó là cuộc hội ngộ hạnh phúc nhất của đôi bạn đồng hương, nhưng lại là một lần hội ngội buồn bã, bởi vì Phúc nay là một cán bộ nhà văn hóa, còn Tấn là “một con buôn”. Phúc đã “lên giọng” với Tấn: “đi buôn như thế là tiếp tay với gian thương làm lũng đoạn thị trường”. Trong lúc Tấn “bất lực không cãi lại được trước những từ ngữ, lập luận xa lạ mà Phúc đưa ra. Anh chỉ đơn giản muốn cho Phúc hiểu rằng là không đi buôn thì không có cái gì ăn, kể cả nước mắm!”.

Tấn đã phải trải qua một đêm thao thức, chua xót nơi xứ lạ:“Tấn ra ga Bình Triệu, nằm gối đầu lên ba cái bao tải đựng mỳ lát cuộn lại mà hận thằng bạn, những lý luận về kinh tế nghe thật chặt chẽ nhưng không có điều nào phù hợp với thực tế của cuộc sống nơi Tấn ở. Phúc không chịu nhận ra là cái đói khổ hầu như đã tràn khắp nông thôn”.

Làm cán bộ được vài năm, Phúc lại vào ngồi tù mấy năm vì “giải quyết công việc theo cảm tính và sai nguyên tắc” - rồi từ trại tù về quê. Rồi lại ra đi. Một đêm “Phúc khoanh hai tay co gối, một cơn gió nhẹ làm sương đêm thêm lạnh, bình trà bằng thiếc của cái quán vỉa hè không đủ giữ hơi nóng, đã lạnh ngắt từ lúc nào! Anh ao ước có một góc nhỏ nào đó, đẩy chiếc xích lô vào rồi ngã lưng kéo một giấc qua đêm. Lâu nay anh khá yên ấm dưới cầu thang của chung cư Thanh Đa. Đêm nay lại có đợt truy quét những người không hộ khẩu, làm nhốn nháo những kẻ vô gia cư trú ngụ nơi đây, thường thì vài hôm có khi cả tuần rồi đâu lại vào đó, nhưng lần này xem ra quyết liệt hơn, cả chục chiếc xe chở đám vô gia cư về quận ngay trong đêm”. Phúc may mắn gặp được bà cụ tốt bụng bán quán nước nhỏ bên góc phố, thương tình che chở, cho ăn cho ngủ - Phúc đã nhận nơi nầy làm nhà, và gắn bó với bà cụ, cùng cô cháu gái của bà đang gặp bất trắc, đau lòng trong tình yêu, khi đã mang thai sắp sinh con, mà người yêu vắng bặt. “Bà cụ đã quá quen với những chuyện muộn phiền trong cuộc đời khốn khổ, cam phận chấp nhận thêm chuyện dại dột của đứa cháu, nhưng bà lo lắm, cái bụng quá to so với vóc người ốm yếu xanh xao của nó!” (…)

Một ngày, Phúc đã tìm về thăm Tấn ngày xưa ở quê - đây là một đêm hạnh phúc mà hơn 30 năm trải qua biết bao thăng trầm, khổ đau, đôi “Bạn Già” mới được hưởng trọn vẹn. Hãy nghe tác giả kể lại - thật xúc động:

“- Ở lại, ở lại với tao, tụi mình nằm chung như cái hồi trai trẻ. Qua tết là tụi mình sáu chục rồi, có chết cũng được ghi là “hưởng thọ” thay vì “hưởng dương” trên tờ cáo phó, mau thiệt!
-Ừ mau thiệt, đi ngủ, mày còn gác như hồi xưa không?
-Bỏ lâu rồi nhưng đêm nay tau kẹp cổ mày cho nó sướng.
-Ừ, cho mày kẹp.
Hai cái thân già xiêu vẹo dìu nhau đi trong bóng đêm mờ mờ hơi sương, lành lạnh buổi cuối đông
.”.

Đưa vào tác phẩm nhiều chi tiết, nhiều tình huống phức tạp, theo tôi không phải là điều cần thiết cho một truyện ngắn hay - mà trái lại, cần cô đọng, với ít chi tiết nhưng mới lạ, cùng tư tưởng sâu sắc quan yếu cho đời sống muốn giải bày, mới là một truyện ngắn tốt. Trần Hữu Hội đã phần nào làm được điều đó ở một số truyện ngắn của anh hôm nay……

Tháng 4.2018.
MANG VIÊN LONG


 

art2all. net