|
TRẦN DZẠ LỮ
HỒI ỨC
PHẦN 3 - Ở ĐÀ NẴNG
Năm 1968 tôi bỏ học vào ĐN để trốn lính…Ở nhà người cậu được một thời gian rồi cũng bị bắt đưa vào TTHL Ḥa Cầm. Số gặp may được quư nhân giúp đỡ tôi trở thành lính cậu mà không phải ra mặt trận. Vô cùng cảm ơn Trời Phật.
Những ngày tháng ở Đà Nẵng từ 1968 đến 1973 là những
xâu chuỗi kỷ niệm tràn đầy tôi mang vào hồn đăm đắm. Ở đấy tôi gặp gỡ
các bạn bè như những đốm lửa kết nối thân thương: Trường Thi ( đă có bài
viết riêng về anh), Đynh Trầm Ca, Hoàng Đặng, Hồ Đắc Ngọc, Đoàn Huy Giao,
Hà Nguyên Thạch, Trần Quang Lộc, Vũ Hữu Định, Trần Thị Loan, Thành Tôn,
Thái Tú Hạp, Hạ Quốc Huy, Lư Văn Chương, Phạm Thị Lộc, Lê Thị Ngọc Quư,
Vô Ưu, Cao Bá Minh, Nguyễn Tam Phù Sa, Nguyễn Gia Hữu, Phạm Phú Hải,
Trần Trung Sáng…và sau này là Nguyễn Ngọc Hạnh, Gia Nguyễn, Nguyễn Duy
Ninh, Vũ Ngọc Giao, Lê Công Đào…
Một thời đáng nhớ v́ t́nh bạn trong văn nghệ chân
t́nh, không ganh ghét đố kỵ nhau. Những quán cà phê ở ĐN là nơi để anh
em hẹn ḥ đọc thơ, hát nhạc cho nhau nghe..Từ đó khơi nguồn, thúc giục
nhau trong sáng tác. Đặc biệt là Vũ Hữu Định, luôn kêu tôi về ngủ lại
với anh trong căn nhà nhỏ ở chợ Cồn. Nhà nghèo nhưng anh và vợ anh ( chị
Vân ) rất tốt bụng. Khi nào tôi về chị Vân cũng đi ngủ riêng để tôi và
VHĐ nằm tṛ chuyện, đọc thơ, hát nhạc…một chút mà đến sáng ! Trước đó
VHĐ viết cũng nhiều lấy tên là Hàn Phong Lệ. Anh khoe với tôi bài thơ
C̣n Một Chút ǵ Để Nhớ viết ở tận Pleiku. Tôi đọc xong vỗ đét một cái.
Hay. Rất Hay. Chưa ai viết về Pleiku hay như thế. Vậy là tôi xúi anh gửi
bài cho các tạp chí và động viên anh vào SG gặp nhạc sĩ Phạm Duy. Sau đó anh giang hồ và vào gặp Phạm Duy thật. Ông ta khóai chí nên phổ bài thơ. Từ đó tên tuổi anh bắt đầu nổi…
Tôi mừng cho anh. Từ đó anh cũng “đi bụi” nhiều hơn.
Để chị Vân gánh vác hết mọi chuyện. Thấy t́nh cảnh chị tôi thật se ḷng.
Càng ” đi bụi “ thơ anh càng hay và sâu sắc hơn nữa. ăm 1981 anh qua đời
trong một bữa rượu tại nhà em trai anh. Tôi chẳng hay. Sau này Lữ Thượng
Thọ vào SG gặp tôi mới hay. Thọ nói với tôi là trước khi chết VHĐ có làm
2 bài thơ thật cảm động. Đó là một bài thơ viết cho vợ và một bài viết
cho tôi. Thọ đưa bản thảo chép tay cho tôi. Tôi đọc mà ḷng rưng rưng
nỗi nhớ thương bạn. Bạn qua đời. Con cái lớn lên làm ăn khấm khá. Chị
Vân được hưởng an nhàn.Tôi mừng v́ gần hết đời người chị khổ v́ chồng v́
con mà chẳng bao giờ buông ra một câu than thở… Người thứ 2 ở Đà Nẵng tôi nói đến là ĐYNH TRẦM CA ( tên thật là Mạc Phụ ). Anh ở con phố nhỏ là Vĩnh Điện. Gặp nhau anh hay rủ tôi vào chơi. Cuối tuần đến hẹn lại lên. Con phố buồn hiu. Hồi ấy chưa có đèn điện. Đêm xuống anh giăng mùng xong là ôm đàn hát cho tôi nghe từ nhạc Phạm Duy, Trịnh Công Sơn rồi nhạc anh sáng tác. Anh sớm nổi tiếng bởi bài hát RU CON T̀NH CŨ qua giọng hát của Lệ Thu. Nghe anh hát tôi se ḷng không chịu nổi bởi nỗi buồn cứ quấn chặc lấy trái tim không buông tha:
Người thứ 3 tôi muốn nhắc đến là ĐOÀN HUY GIAO. Một người làm thơ đầy trăn trở về phận người. Thơ anh viết một cách rất riêng. Tính cách cũng rất lạ nhưng là người có trái tim nhân hậu. Chúng tôi quen biết nhau ở ṭa soạn tuần báo Thời mới ở ĐN do anh Nguyễn Hương Nhân làm chủ bút. Đoàn Huy Giao biên tập bài vở. Ở đây tôi cũng quen luôn anh Thiếu Khanh, Ngy Xuân Sơn ( Phạm Sĩ Sáu ). Sau năm 1975 anh làm cho đài truyền h́nh. Hết làm việc anh cất công lên tận Tây Nguyên t́m ṭi những dấu tích văn hóa …và xây dựng được một Bảo Tàng bên núi Sơn Trà. Một kỳ công thầm lặng nhưng đáng bái phục.
Một chuyện nhỏ song tôi cũng khó quên. Số là sau năm 1975, tôi đem vợ về quê ở Ngọc Anh làm ruộng. Tuy làm ruộng mà vẫn thiếu gạo ăn v́ tôi được giao ruộng “đốt lóng’ tức là ruộng xấu nhất. Thu nhập không bao nhiêu th́ phải đóng cho Hợp tác Xă. Một ngày nọ vợ chồng tôi đang ở ngoài ruộng th́ có người báo tin là có hai người vào nhà nhà chờ. Tôi tất tả chạy vào. Ngó quanh quất chẳng thấy ai. Một chặp Đoàn Huy Giao và Vũ Hữu Định tung mền dậy cười ngặt nghẻo. Để tạo bất ngờ hai bạn vào giường ngủ của vợ chồng tôi nằm. Nhà thiếu gạo ăn, trống huơ nên đâu sợ trộm mà đóng cửa? Thấy bạn mừng muốn chết! Hai bạn đưa ra một bao cát gạo khoảng 10 kư tặng tôi. Hồi đó c̣n ngăn sông cấm chợ, không biết bằng cách nào mà Giao mang gạo ra Huế được cũng là chuyện lạ !
H́nh ảnh tôi và họa sĩ Duy Ninh Nguyen
|