Vơ Kỳ Điền

 

NGUYỄN HỮU CHUNG

ĐỌC PULAU BIDONG MIỀN ĐẤT LẠ

CỦA VƠ KỲ ĐIỀN

 

 

Ông Vơ Kỳ Điền tặng tôi quyển sách bảo đọc và phê b́nh. Được tặng sách là điều vinh hạnh nhưng phê b́nh truyện là một điều tôi không muốn làm v́ muốn phê b́nh th́ phải đọc kỹ lưỡng hết quyển truyện, một điều ít khi tôi làm được v́ những lư do riêng. Nhưng nễ bạn, tôi đă sắp xếp th́ giờ để đọc và tôi đă thành công đọc trọn vẹn “Pulau Bidong Miền Đất Lạ” 

 

Nhưng rồi một trở ngại lớn lại hiện ra. Tôi không biết làm sao để phê b́nh. Tôi chưa bao giờ phê b́nh một quyển truyện. Tôi không biết v́ sao lại thích quyển nầy mà không thích quyển kia. Thuở nhỏ khi thấy mọi người khen các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, th́ tôi đă t́m đọc tất cả nhưng không đọc được trọn vẹn một quyển nào trừ quyển Bướm Trắng của Nhất Linh. Cũng thuở ấy cha tôi thấy tôi có máu giang hồ, ông chỉ cho tôi đọc Pière Loti nhưng tôi đọc không vô, chỉ thích đọc Hemingway và t́m đọc tất cả bản dịch Pháp ngữ của ông nầy. Nhưng tôi không thể phê b́nh Hemingway hay thế nào. Cũng như rượu, tôi không thể giải thích v́ sao tôi thích hiệu nầy mà không thích hiệu kia. V́ vậy đây không phải là một bài phê b́nh văn học. Tôi chỉ nói lên vài cảm nghĩ của tôi khi đọc xong quyển Pulau Bidong Miền Đất Lạ của ông Vơ Kỳ Điền.

 

Tuy không phải là một quyển du kư như loại Lỗ B́nh Sơn nhưng“Pulau Bidong Miền Đất Lạ” cũng cho người đọc cảm giác và thích thú của một quyển du kư từ những ngày đầu ở Bạc Liêu cho tới những ngày cuối ở Mă Lai. Miền Đất Lạ không phải chỉ có ở đảo Bidong mà c̣n có cả B́nh Dương, Bạc Liêu, Cà Mau, những mảnh quê hương mà nhiều người trong chúng ta chưa có dịp đặt chân tới cũng có thể h́nh dung ra được qua ng̣i viết của Vơ Kỳ Điền. Riêng đảo Bidong th́ được tác giả đă cho phép những người không có cái khổ và cái may đặt chân đến đó như tôi được NH̀N THẤY nó. Cần thấy nó bởi v́ ḿnh đă nghe nói tới hàng ngàn lần, đó là nơi bạn bè, anh em ḿnh và cả mấy trăm ngàn đồng bào ḿnh đă sống như một thiên đàng và một địa ngục. Địa ngục Bidong, những ai đă từng đặt chân đến đó sẽ t́m lại được đầy đủ kỷ niệm với Vơ Kỳ Điền. Nhưng truyện của Vơ Kỳ Điền thiếu tính chất du kư v́ nó không có những hư cấu, không nhiều những tiêu, hành, ớt, tỏi, bột ngọt như những du kư chuyên nghiệp.

 

Về phương diện tả người, tuy tác giả không cố ư bắt chước một Marcel Proust hay một Vơ Phiến để vạch cho người đọc thấy những khía cạnh độc đáo của con người, Vơ Kỳ Điền cũng có được những nhân vật độc đáo, độc đáo trong sự b́nh dị, trong những cử chỉ đơn giản của đời sống như sợ sệt, thương yêu, tham lam, tử tế...

 

Nhưng theo tôi, điều quan trọng nhất mà tác giả muốn gởi gấm trong quyển truyện nầy là tâm t́nh của ông, là những suy tư của ông về đời sống, về con người về t́nh yêu gia đ́nh và quê hương, về chế độ Cộng sản, cái chế độ đă buộc anh thầy giáo phải bỏ xứ ra đi để chỉ cần làm phu ở xứ người. Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc! Ông muốn nhắc nhở để hơn một triệu người VN đi như ông, dù đă ghé đảo Bidong hay không ghé đảo Bidong, nhớ lại động lực nào đă khiến ḿnh phải ra đi, tâm t́nh của ḿnh khi quyết định ra đi, tâm nguyện của ḿnh khi ra đi, những cay đắng khổ nhục trên đường đi, vv... những điều mà đa số của hơn một triệu người kia đă quên. Đa số những người đă đặt chân tới bến bờ tự do, đă ổn định đời sống, đă hành nghề kỹ sư, bác sĩ, đă trở thành Việt Kiều sang trọng trong những chuyến về thăm quê hương. Nhớ lại không phải để sống kham khổ mà hy sinh cho ai, cũng không phải để t́m cách trả thù những anh công an đă đ́ ḿnh hay những người ngoại quốc đă cuớp bóc, đánh đập, hăm hiếp thân nhân ḿnh, hay gia đ́nh ḿnh, nhưng nhớ lại để sống cho có nhân cách, có lư tưởng. Có Tri th́ phải có Giác. Tri mà không có giác th́ tâm hồn ḿnh để đâu? Những kinh nghiệm khổ đau dưới chế độ độc tài CS, những ô nhục khi tạm trú trong các trại tỵ nạn Mă Lai, Thái Lan, Hong Kong, dùng để làm ǵ ? Chắc đă quên! Nhân cách mà ḿnh quyết bảo tồn khi liều chết ra đi khỏi chế độ CS ḿnh đă vất bỏ hồi nào khi ḿnh cũng gian manh, lường gạt đồng bào như mấy ông CS, khi ḿnh trở về vênh váo trên đường phố lừa bịp đồng bào, chơi bời vung vít. Những nơi ăn chơi sang trọng nhất Sài G̣n bây giờ là nơi găp gỡ của cán bộ với Việt kiều. “Việt Gian, Việt Cộng, Việt Kiều, ba Việt cộng lại tiêu điều nước non.”  Hai câu vè mỉa mai nầy không phải vô t́nh mà có. Tâm niệm ngày xưa để làm ǵ? Chắc cũng đă quên. Quên cho rảnh nợ. Bởi v́ cái tâm niệm đó, dù sao nó cũng mang tánh chất chánh trị. Mà tôi th́ không làm chánh trị. Đó là câu mà nhiều người thốt ra hàng ngày hằng đêm, hănh diện v́ thấy đó là một thái độ khôn ngoan hay thỏa măn v́ thấy câu thần chú nầy đă biện hộ cho tất cả sự phản bội đối với lương tâm của ḿnh. Không có thái độ chánh trị tại sao lại đi tỵ nạn chánh trị ?

 

Ḿnh là người đi tỵ nạn chánh trị th́ phải có ư thức chánh trị và thái độ chánh trị chứ. Và thái độ chánh trị đó phải phù hợp vói tâm niệm của ḿnh khi liều chết và cam chịu bao nhiêu khổ nhục trên đường ra đi.. Tâm niệm ngày xưa đó có chứa đựng chút ít ǵ không, danh dự con người, t́nh nghĩa đồng bào, tinh thần dân chủ, luật pháp công bằng, .... Đó là chánh trị.

 

Tôi không biết ông Vơ Kỳ Điền có thành công nhắn nhủ ǵ được cho ai không, nhưng ông viết quyển sách nầy là để sống với tâm niệm của ḿnh. Viết cho ḿnh trước hết.

 

Nhưng ông Vơ Kỳ Điền chống Cộng một cách quá cay cú, thành ra đôi khi lư luận của ông, tuy không hằn học, nhưng có phần phiến diện khi phán đoán một giai đoạn lịch sử. Có nhiều đoạn ông tả cảnh dài ḍng làm mất nhịp điệu của quyển sách. Những suy tư th́ rất nhiều, đa số đúng tầm mức và đặt đúng khung cảnh nhưng đôi khi cũng có cái hơi dài hoặc đặt sai khung cảnh. Nhưng điều quan trọng mà tôi không đồng ư với tác giả là ông cố ư làm ra vẻ quá thật thà, cái ǵ cũng không biết. Đầy dẫy khắp quyển truyện trước một vấn đề ǵ cũng tỏ ra không biết, lư luận khờ khạo để rồi một nhân vật khác như vợ ông, bạn ông giải thích đúng và rành mạch. Làm dáng theo lối ngây thơ... cụ!

 

Nơi thành phố tôi ở đây có hai ông thầy giáo Việt Văn. Đó là ông Vơ Kỳ Điền và ông Vương Hữu Bột. Ông Vơ Kỳ Điền là một nhà thâm nho, thường bắt chước mấy ông nhà nho hồi xưa làm bộ ngờ nghệch để phỉnh thiên hạ. C̣n ông Vương Hữu Bột th́ đầu óc đầy sạn, sắc sảo hơn mấy ông lái buôn ở Wall Street New York, nhưng khi viết chánh trị th́ lúc nào cũng đầy vẻ đạo đức tu hành, hiền như ma sơ. Xin các ông! Trường Đại Học Sư Phạm, ban Việt Hán ngày xưa sao mà đào tạo lắm nhân tài!

 

Một điểm nữa mà tôi không đồng ư vói tác giả là ông cố ư viết văn theo giọng Nam Kỳ quá. Chẳng hạn ông viết “bàn chưn”  thay v́ “bàn chân”, chữ mà đa số dân miền Nam ở thành thị đă quen dùng. Chẳng hạn như ông viết “nhưng trong tôi vẫn c̣n hoài, c̣n huỷ h́nh ảnh cái chợ Phú Cường”  thay v́ “trong tôi vẫn c̣n măi.”

 

Đây là lối dùng từ ngữ để biểu lộ sắc thái địa phương, nhưng tôi thấy người ta có thể biểu lộ sắc thái địa phương mà không cần phải dùng rặc từ ngữ địa phương. Điều đó mới tài t́nh hơn. Nhưng có thể tôi đă phán đoán sai khi gán chữ cố ư cho ông Vơ Kỳ Điền. Có thể ông là một người hạnh phúc, lớn lên học hết trung học ở quê nhà, sinh sống với gia đ́nh, họ hàng, làng xóm, đi học đại học mấy năm ở Sài G̣n, rồi lại trở về quê nhà dạy học, tiếp tục sống với gia đ́nh, họ hàng, làng xóm, nên ông giữ nguyên được tánh chất địa phương của ḿnh.
 

Phần tôi, mười ba tuổi đă khăn gói rời xa gia đ́nh đi trọ học nơi xa, cuộc đời như một trái banh lăn lóc khắp nơi, sống chung đụng với đủ mọi hạng người, và đă mất gốc nên đôi khi nghe thấy rất lạ tai với một vài từ ngữ rất là Nam Bộ. Cũng như khi nghe người miền Bắc nói “xơi ngô” hay “xơi chè” và mới đây gặp một người ở Hà nội sang, khi nói về một ông giáo sư về bên đó dạy học, anh ta bảo ” ông X về bên ấy lên lớp.”

 

Tôi không phải là một người hoạt động về văn chương nhưng tôi mong thấy người VN ở hải ngoại, nhất là giới trẻ ǵn giữ và học hỏi một thứ tiếng Việt Nam phổ thông và trong sáng.

 

NGUYỄN HỮU CHUNG

Montréal 6-1992

 

Bài nầy đă đăng trên Nguyệt San Đi Tới Montreal. PQ. Canada





 

art2all.net