|
THẢO MỘC TRONG CỔ VĂN VIỆT NAM Riêng tặng bạn Lâm Quang Khải, Montréal
Một hôm trong câu chuyện bàn về cây cỏ, anh nói trong một bài của tôi có một chỗ sai và anh cho biết hoa pivoine (peony) không phải hoa mẫu đơn mà là thược dược. Tôi hỏi anh căn cứ vào đâu mà nói vậy vì hầu hết các tự điển đều ghi pivoine là mẫu đơn, còn thược dược là dahlia. (riêng tự điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ thì cho là mẫu đơn, hoa trắng thật thơm, có nhiều tai, cuống mập như ống, đài 5 chia nhọn, lá láng mọc đối và chùm ba, cây nhỏ trồng làm hàng rào cao tới 2 m, tên là Gardenia Lucida ( thực ra người Nam gọi gardenia tới ba tên: mẫu đơn, dành dành, bông lài trâu. Gọi tên hoa dành dành là đúng nhất. Ca dao có câu: Con vợ khôn lấy thằng chồng dại, như bông hoa lài cắm bãi cứt trâu. Nhớ đừng lầm với hoa lài (jasmine) ướp trà, hoa trắng nhỏ thơm lừng, người Ấn Độ thường dùng xỏ xâu đeo cổ ).
Nhìn bức tranh cây hoa cao trên cả thước, thuộc loại thân mộc cứng màu đen có nhiều cành phụ, anh nói -nếu như giống hình vẽ, hoa to bằng cái chén lớn màu hồng, màu đỏ nhưng cây hoa ở Canada thuộc loại thân thảo mềm, trồng bằng củ, mọc thành từng bụi, khi hoa nở nhiều cần cây chống, nếu không chúng sẽ bị gió thổi gãy cành, đâu phải thuộc loại cây thân mộc cứng cáp… Như vậy pivoine Canada chỉ có thể là dahlia thôi, không phải là mẫu đơn ! Tôi không chịu vậy vì đã từng thấy mẫu đơn y như hình vẽ, rũ anh vào vườn Bách Thảo, cạnh sân Vận Động Olympique, chỉ cho anh coi cả một khu trồng cây mẫu đơn thân mộc cao cỡ 2 thước, hoa nở đỏ rộ đẹp lắm, có bảng ghi chú là Pivoine Chinoise (Chinese Peony) Tôi ước ao có được một cây mà không biết mua ở đâu, phải mãi đến năm 1994 ở Canada mới nhập cảng giống mẫu đơn Trung Hoa thân mộc mà bán ngoài thị trường. Thực ra anh bạn cũng có lý vì mẫu đơn có nhiều loại: Loại thân thảo như Canada (herbaceous peony / pivoine japonese. Tên khoa học là peonia lactiflora họ Ranunculaceae, sách Việt Nam cũng ghi là thược dược); Loại mẫu đơn thân mộc của Tàu (peony tree, mutang (mẫu đơn) / pivoine arbustive: peonia suffruticosa họ Peoniaceae). Tôi cho peony dù là giống nào thì cũng là mẫu đơn. Còn dahlia là thược dược thuộc họ Asteaceae. Kể từ dạo đó, tôi nhớ lại tất cả những gì liên quan tới mẫu đơn trong các điển cố văn học Trung Hoa. Chuyện bà Võ Tắc Thiên đày hoa mẫu đơn xuống Giang Nam tới các câu tả Kiều bị Hoạn Thư đánh đập -Dạy rằng: cứ phép gia hình, ba cây chập lại một cành mẫu đơn… rồi nhớ lan man qua Chinh Phụ: -xảy nhớ khi cành Diêu, đoá Nguỵ, trước gió xuân vàng tía sánh nhau. Họ Diêu tìm được giống mẫu đơn màu vàng, họ Ngụy tìm được giống mẫu đơn màu tía, mà tên tuổi được nhắc tới trong sử sách. Nghĩ tới nghĩ lui rồi chợt thấy mình bây giờ đang ở xứ lạnh như Trung Hoa, tại sao lại bỏ qua cơ hội tốt để biết rõ những cây cỏ trong thơ văn cổ Việt Nam. Người Tàu vốn có óc tưởng tượng phong phú, vật gì dù tầm thường cách mấy vào tay họ thì biến đổi tốt đẹp quí giá không ngờ. Con rắn sống lâu trăm tuổi thì có ngọc, chiếc vòng cẩm thạch có vân màu đỏ là nhờ chôn chung với người chết hàng mấy trăm năm, đáng giá bạc triệu. Cũng vậy một ông Tàu già cho rằng kiếng đeo mắt nhờ bỏ dưới giếng nước lâu cả trăm năm nên nhìn mọi vật thấy rõ và mát lắm !!! Thảo mộc cũng vậy, cây nào bên Tàu cũng quí và thơ mộng hơn cây cối bên Việt Nam. Thơ văn cổ mình có bao giờ nói tới cây sao, cây dầu, cây bằng lăng, cây gõ, cây cẩm lai, cây mít, cây ổi,… mà toàn là cây ngô đồng, cây phong, cây cù mộc, cây tử, cây tang, cây du, cây lê, cây đào, cây hạnh… nghe thấy mê, nhưng đó toàn những cây xứ lạnh. May quá, chúng ta bây giờ cũng ở xứ lạnh vậy, mà dám còn lạnh hơn bên Tàu nữa, vậy mấy thứ cây đó là cây gì ở xứ Bắc Mỹ nầy? Biết đâu những tên cây thơ mộng, linh thiêng, cao quí đó chúng mọc tràn lan ở rừng rậm, ở công viên, ở lề đường hoặc sừng sững ở trước nhà !
Quả đúng vậy, cây phong là thứ cây mà thơ văn mình thường nhắc tới. Cây phong (érable / maple) thứ cây đặc biệt của Canada, cây to cỡ hai ba người ôm, gỗ quí cứng chắc, vỏ nâu đen sần sùi, tàn rậm, lá to bằng bàn tay có 5 nhánh, hình dùng làm cờ tiêu biểu cho đất nước, Canada là Xứ Cây Phong, đi đâu cũng gặp. Người lên ngựa, kẻ chia bào, Cũng như các giống cây khác, phong có nhiều loại, thứ cho đường (maple syrup), thứ chỉ trồng làm cảnh, phong Tàu, phong Nhựt, phong Na Uy, Thụy Điển, phong Anh… (Acer rubrum, Acer saccharum, Acer saccharium, Acer negundo, Acer platanoides… thuộc họ : Aceraceae) Muốn biết cây phong bạn chỉ cần mở cửa, bước ra đường là thấy ngay, phong được trồng dọc theo đường phố, chỗ nào cũng có. Trên núi cao rừng sâu, phong mọc ngút ngàn. Sách Tàu cho là phong Canada vào mùa thu, đẹp đến nỗi say đắm mê mẫn lòng người -diễm lệ túy nhân. Thu đến lá phong đổi màu, tùy theo giống mà lá đỏ hay vàng. Trận gió thu phong rụng lá vàng, rồi thì sau đó : -trận gió thu phong rụng lá hồng.
Lúc còn ở trong nước, có người thắc mắc -đã có gió rồi sao lại có phong nữa? Câu hỏi khó, nhưng nếu đã ở hải ngoại, biết rõ phong là cây phong thì chắc không ai còn thắc mắc nữa, không cần phải học chữ nho làm chi. Thi sĩ Tản Đà đã đổi nhịp ngắt câu quen thuộc của thơ Đường -trận gió thu, phong rụng lá vàng. Nhưng thiệt ra tôi vẫn cứ thắc mắc, mỗi lần đi ăn ở nhà hàng Hai Sư Tử phố Tàu (Toronto) khi nhìn lên cao, rõ ràng hiệu tiệm đề hai chữ Hán: Phong Thành, nhưng tại sao chủ nhân lại ghi tiếng Anh là Bright Pearl Restaurant ? Nếu tôi lẩn thẩn dịch ra cho các cháu nhỏ hiểu thì phải như vầy : -Restaurant Bright Pearl là nhà hàng Minh Châu, cũng là nhà hàng Phong Thành (thành phố cây phong ) mà cũng là nhà hàng Hai Sư Tử. Trời đất, có một nhà hàng mà sao tới ba tên gọi, chắc các cháu hổng hiểu gì hết trơn !
Có một loại cây mà thơ văn thường nhắc đi nhắc lại, khiến tôi tò mò. Đó là cây hoè. Tiếng sen sẻ động giấc hoè, bóng trăng đã xế hoa lê lại gần (Kiều)
Trong Lục Vân Tiên cũng có câu –buồn trông dặm liễu đường hoè
Cũng do bản tánh tò mò mà tôi biết được cây ngô đồng, một loại cây được cho là quí hiếm. Cổ thi có câu: -ngô đồng nhứt diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu (một lá ngô đồng rụng thiên hạ biết thu tới). Kiều cũng có nhiều –Thú vui thuần hức bén mùi, giếng vàng đã rụng một vài lá ngô. Nhớ sách cổ đã ghi -cây ngô đồng mỗi cành có 12 lá, năm nào nhuận thì 13, tương ứng với thời tiết hàng năm. Chim phượng hoàng là giống chim linh thiêng, nếu không phải cành ngô đồng thì không đậu, không phải trái trúc thì không ăn (phi ngô đồng bất thê, phi trúc thực bất thực). Nhạc sư Hoáng thời tiền cổ Trung Hoa, chọn gỗ cây ngô đồng chế ra cây đàn cầm. Ông không lựa chỗ gốc vì âm thanh thô cứng, không lấy khúc ngọn vì âm thanh nhẹ yếu, chọn khúc giữa, âm thanh trong trẻo và êm ái, đều hòa. Khi làm đàn xong mỗi lần tấu lên, chim phượng hoàng bay về đậu trước sân, múa theo điệu nhạc…. Bắc thang đến cung mây mà hỏi, biết bao giờ phượng tới cành ngô (Bần Nữ Thán) Cây ngô đồng là cây gì mà quí tới như vậy. Thi sĩ Lưu Nguyễn, bạn tôi quê Quảng Nam, nói ở ngoài Trung ngô đồng nhiều lắm, ở Huế trong các lăng Gia Long, Minh Mạng cũng trồng thành hàng. Anh tỉ mỉ tả cây ngô đồng cho tôi nghe, cuối cùng tôi cũng không biết là cây gì.
Thi hào Đỗ Phủ trong bài Thu Cảm cũng có hai câu đảo trang tuyệt bút về cây ngô
đồng: Muốn tiếng đàn kêu vang to khiến chim phượng tìm đến để nghe thì phải là loại cây có sớ gỗ cứng chắc bền bĩ, tiếng vang, không nứt, không vênh, không dễ hư mục. Cây ngô đồng (firminia simplex) người Anh gọi Chinese parasol tree, cũng gọi là Pheonix tree (cây phượng hoàng), tiếng Pháp là Sterculia à feuille de platane. Tên khoa học Firminia platanifolia hoặc sterculia platanifolia, họ Trôm Sterculiaceae. Cây cao trung bình từ 12 đến 15 thước. Có nhiều ở Việt Nam, Trung Hoa, Nhựt Bổn…. Loại cây rụng lá hằng năm, thân thuộc loại gỗ cứng, có vỏ láng xanh, lá to mọc thành chùm trên mỗi cành, cuống lá dài trên 20 cm, mỗi chùm có 12 lá, lá có chỉa 3 hoặc 5 giống lá phong nhưng hơi tròn đầy lớn hơn lá phong. Hoa nở vào mùa xuân, cánh hoa thon dài như hoa ngọc lan màu trắng ửng nhụy vàng, bao lấy chùm trái nhỏ như hạt tiêu ở giữa. Trong những công viên ở Nhựt, Trung Hoa, ngô đồng có tàn lá như chiếc dù che cả một vùng rộng lớn, rất đẹp. Vì thuộc họ Trôm nên thoạt nhìn thấy giông giống như cây vông, cây trôm… Người trong Nam thường lầm lẫn cho ngô đồng là cây vông đồng. Nếu là cây vông nem thì gỗ sốp, mềm lắm, da có gai, chỉ dùng làm guốc vông, lá để gói nem. ‘Việt - Hán Từ Điển Tối Tân’ nxb Chin-Hoa (Chợ Lớn) ghi cây vông là ‘thúc đồng’, không phải ngô đồng.
Cây ngô đồng Hoa Bắc Bên Âu Châu, các nước Pháp, Ý, Thụy sĩ, Anh, Belgique,… bốn mươi phần trăm cây trồng vỉa hè là dương ngô đồng (chữ dương bộ thủy, có nghiã là ngô đồng ngoại quốc, tên khoa học: Platanus Orientalis -Platanus Occidentalis thuộc giống Platanus acerifolia, họ Platanaceae). Nó được trồng nhiều vì dáng đẹp, sống lâu, không sợ dông bão, chịu đựng được ô nhiễm, ít bịnh và cho nhiều bóng mát. Loại cây nầy cũng được trồng nhiều ở thành phố New York, khu nhà chọc trời, khu Liên Hiệp Quốc, chỗ tượng Nữ Thần Tự Do. Tên Anh là planetree hay sycamore, Pháp là platane, cây to gỗ cứng, tàn lớn cao 25-30 thước, da láng nâu đen như da ổi, lá giống lá phong chia năm, có trái thoạt nhìn giống trái chôm chôm xanh, khi già thì màu đen. Theo tài liệu thì hiện nay ở Hy Lạp trong vườn nhà ông tổ y khoa Hippocrate thành phố Kos, vùng Dodécanèse, có cây platane sống trên 2000 năm, cao 45 thước, chu vi gốc 14 thước… Người Hy Lạp cổ cho là loại cây tái sinh (regénération) vì lớp vỏ cũ bong ra, lớp vỏ mới thay thế, như rắn lột da sống đời. Con ngựa thành Troie (Troy) được làm bằng gỗ platane (dương ngô đồng).
Cây ngô đồng Hoa Nam Các tỉnh Hoa Nam và Tây Nam như Tây An, Trùng Khánh, Vũ Hán, Giang Tô, Phúc Châu,
Tô Châu, Hàng Châu, Triết Giang…, các tỉnh dọc theo sông Dương Tử, đi đâu cũng
thấy cây ngô đồng, được người dân nơi đây gọi là Pháp Quốc Ngô Đồng, cây nầy
được trồng dọc theo lối đi để lấy bóng mát, rất đẹp và nhiều như cây phong ở
Canada vậy. (ghi chú của tác giả: có đi bên Tàu thì mới biết cây ngô đồng mọc
rất nhiều từ Bắc xuống Nam, chỗ nào nơi đâu cũng
toàn là ngô đồng, nếu dùng gỗ
làm đàn thì tiện lắm không cần tìm cây khác chi cho mất công và chim phượng
hòang không đậu trên cây ngô đồng thì đậu cây nào bây giờ…) cùng trông lại mà cùng chẳng thấy, thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Câu hỏi thiệt là khó, nỗi sầu làm sao đong đếm, ai mà trả lời cho được. Chỉ có một chữ cổ khó hiểu là chữ ngàn. Ngàn có nghiã là rừng : -Đốn tre đẵn gỗ trên
ngàn.
Cây dâu tằm ăn thì không cần tả rõ vì ai cũng biết nhưng có một cây lạ thường được nói chung khi người xưa nhắc tới cây dâu. Đó là cây tử. Trong Kinh Thi có câu: -Duy tang dữ tử tất cung kính chỉ. -Khi thấy cây dâu và cây tử thì mình phải cung kính. Tại sao vậy? Bởi vì cây dâu, cây tử là do cha mẹ trồng. Lá dâu để mẹ nuôi tằm dệt vải. Cây tử cha trồng ngày sanh con. Cây tử cao to lớn cứng chắc, sau hai ba mươi năm, cột nhà sẽ mục nát, con có cây sẵn mà thay. Cha mẹ già yếu sẽ chết, con có sẵn gỗ tốt mà đóng quan tài. Tang tử hay tử phần cũng có nghiã là quê hương. -sân Lai cách mấy nắng mưa, có khi gốc tử đã vừa người ôm. Ở Toronto cây tử khá nhiều, được trồng dọc lề đường khu phố Tàu. Thân cây to cao
độ 20-25 thước, lá to cỡ lá trầu xanh mướt, tàn lớn rậm, bông nở mùa hè màu
trắng, nhụy tím vàng, mùa thu có trái dài từ 15-40 cm, thòng xuống như trái đậu
đũa nhưng thon nhỏ hơn. Cây tử thuộc họ Bignoniaceae, giống catalpa, có người
gọi cây đậu đũa Ấn Độ… Mỗi lần đậu xe trên các đường nhỏ xung quanh khu phố Tàu,
tôi thường nhìn hàng cây tử gốc to cỡ cột nhà, ước ao làm sao trồng được năm ba
cây trong vườn, đến khi tuổi già, con cái sẽ dùng tới để lo cho mình, tiện lắm,
khỏi phải tốn kém nhiều, bận lòng mấy đứa nhỏ.
đường bạch dương bóng chiều man mát, ngọn đường lê lác đác mưa sa.
ai ơi xin chớ cười nhau, chẳng qua mai trước, hạnh sau khác gì. Đức Khổng Tử thường ngồi dạy học ở đàn hạnh, vì thế nên thường dùng chữ hạnh đàn để ám chỉ trường học. Nhà Đường cho các học trò đỗ tiến sĩ vào ăn yến ở vườn hạnh, nên tục gọi người thi đậu là hạnh lâm. Người mình cũng gọi cây tắc (cây quất: một loại quít nhỏ trồng để làm cảnh) là cây hạnh. Không phải hạnh trong thơ văn.
-hoa chào ngõ hạnh, hương bay dặm phần.(Kiều)
Tên chữ nho của bo bo là cao lương, mộc mạch hay đới thục mạch. Trong Thần Nông Bản Thảo gọi là ý dĩ, là một món thuốc bắc, tiêu khát, giải độc, người ta thường dùng để nấu chè ăn cho mát (sâm bổ lượng). Việt Nam mình, khí hậu tốt nên bo bo rất dễ trồng. Sau khi Mã Viện tiến đánh Giao Chỉ (năm 43 sau TL) tiêu diệt kháng chiến Hai Bà và ổn định công cuộc trị an địa phương thì có chiếu vua triệu về. Mã Viện ham ở Giao Chỉ, lấy cớ tuổi già sức yếu nên chần chờ, lần lữa… Mãi đến khi chiếu triệu lần thứ hai, Mã Viện mới đành tuân chỉ ban sư, quy hồi cố thổ. Trong đoàn quân rầm rộ về kinh, ngoài quân nhu quân dụng, có chở thêm ba cỗ xe chở đầy, nặng, được đậy đệm kín mít. Sau khi về triều, Mã Viện tâu trình và đệ nạp tất cả ngọc ngà châu báu, của cải
chiếm được lên vua. Tưởng là yên chuyện nhè đâu có người tố cáo với Hán Vũ Đế là
trong danh sách đệ nạp các chiến lợi phẩm, sao không thấy ba xe chở đầy ngọc
trai mà Mã Viện bắt dân Giao Chỉ mò tìm ở biển đông ? Mã Viện sợ hãi tâu trình –xứ
Giao Chỉ nhiều sơn lam chướng khí, hạ thần khi qua đó bất hạp thủy thổ, phong
thấp thương hàn, may nhờ thầy thuốc giỏi, điều trị bằng ý dĩ, hạ thần mới được
bình an. Ba xe đó không phải ngọc trai mà là ba xe ý dĩ, thần có ý lo xa, khi về
tới nước nhà rồi, làm sao có được nữa, mong bệ hạ xét lại !. Hán Vũ Đế ngẫm nghĩ
hồi lâu, biết bị qua mặt, tức giận vì không tìm ra bằng chứng, bèn ra lịnh cách
hết chức tước, không tịch thu gia sản mà cho về hưu. Mã Viện cũng còn may giữ
được cái mạng già nhờ mấy hột bo bo Việt Nam. Mới biết sống gần vua như sống gần
cọp. Cũng là quả báo nhãn tiền cho kẻ xâm lăng.
Ở thành phố Bắc Kinh, ngoài các loại cây tùng bá xứ lạnh, dọc theo lề đường họ thường trồng cây hòe, tán tròn lớn, lá nhỏ như lá me. Trong công viên có bảng trên thân cây đề rõ là “Quốc Hòe” (Chinese Sophora). Các khu đất trống bên các xa lộ thì phần nhiều là bạch dương (birch, bouleau), thân trắng như vôi. Tôi lục lọi tìm thì thấy được một cây ngô đồng ở vườn Thượng Uyển trong Tử Cấm Thành, có tán rộng bao trùm một vùng rộng lớn như cây dù. Vì vào cuối thu nên phần lớn lá rụng vàng phủ đầy gốc, da cây xanh xanh nứt nẻ như da vông nem mà không có gai. Lá chia làm năm nhánh lớn cỡ cái quạt. Tôi lựa một lá đẹp còn nguyên vẹn, hỏi người hướng dẫn và vài người du khách xung quanh, họ đều không biết thuộc cây gì. May quá, có một ông già công nhân làm vườn người Tàu, đang quét lá, tôi hỏi ngay và được trả lời rõ ràng là… lá cây ngô đồng (wũ thũng yé). Mừng quá, hỏi đi hỏi lại cho chắc. Đó là loại Ngô Đồng (Firmana Simplex hay Pheonix tree) đúng y như cây mà tôi đã viết. Tôi tính ép lá trong cuốn sách, đem về làm kỷ niệm nhưng không được vì chiếc lá to quá, bề ngang cỡ 30 cm là ít, đành để trong chiếc túi đeo lưng, khi về tới khách sạn thì chiếc lá vàng khô bể vụn như bánh tráng! Nhưng khi về tới miệt Hoa Nam, dọc theo Trường Giang, trời còn ấm áp, cây lá xanh tươi, ngang qua các vùng Trùng Khánh, Hoàng Sơn, Vũ Hán, Tô Châu, Hàng Châu, Thượng Hải… tôi để ý thì thấy cây long não và cây ngô đồng được trồng dọc theo lề đường rất nhiều, chúng tạo nên một không gian xanh mát, đẹp đẽ nên thơ, mọi người trên xe đều trầm trồ, nhất là khi vào công viên du lịch Hàng Châu. Anh hướng dẫn viên cũng nói là “wũ thũng” nhưng khi nói sang tiếng Anh, anh gọi hàng cây nầy là sycamore. Vì ngô đồng miệt nầy khác loại cây ngô đồng Bắc Kinh. Đó là loại “dương ngô đồng” bên Âu châu (platane hay sycamore). Lá nhỏ cỡ bàn tay và giống y lá phong ở Canada và da láng mốc trắng như da ổi. Tuy vậy các cây ở đây không lớn lắm, to vừa phải, cao chừng 20 m, có lẽ mới được trồng chừng vài ba chục năm trở lại. Tôi đã từng thấy ở vùng Lido, Venise, nhứt là ở Pisa, Lucca, Rome… (Ý) nhiều thân cây lớn cỡ ba người ôm.
Vì thấy các cây nầy khác cây ở Bắc Kinh, khi mua một nghiên mực ở Cảnh Đức Trấn
(Giang Tô) tôi đã bẻ một cành lá, hỏi ông chủ tiệm, ông cũng gọi là ngô đồng.
Tôi hỏi tại sao cây nầy không giống cây ở Bắc Kinh? Ông trả lời là không biết
nhưng xác định rõ, đây là cành lá cây ngô đồng. Như vậy ngô đồng có nhiều loại,
tùy theo địa phương và khí hậu mà là cùng một giống hay khác nhau. Giống ngô
đồng Hoa Bắc khác hoàn toàn với ngô đồng Hoa Nam. Trường hợp nầy không giống như
cây liễu. Liễu Canada thì to lớn và mạnh mẽ tuy lá cũng rũ xuống nhưng trông
dáng vẻ khoẻ mạnh, cứng cáp. Còn ở Tô Châu, Hàng Châu thì liễu mềm mại, uyển
chuyển, ẻo lã. Cứ nhìn thiếu nữ Tàu và đầm Canada, Mỹ thì biết liền….
-------------------
|