|
Võ Kỳ Điền
HẢI ĐẢO BUỒN LÂU BI ĐÁT I

Tôi
còn đứng ỳ ra trên boong. Ðảo Dừa chỉ còn là một khối xám nhạt ở chưn trời. Trời
thì cao xa thăm thẳm giáp mí với sóng nước gờn gợn xanh ngắt một màu. Nắng sáng
rực rỡ loang loáng trên mặt biển xanh. Ba chiếc ghe Mã lướt sóng phăng phăng,
chiếc sau nối đuôi chiếc trước, chạy một dọc thẳng hàng. Không còn gì hết, tôi
thẫn thờ ngồi xuống một bên be ghe. Nắng nóng như thiêu như đốt, ghe lại không
có mái che nên chỉ trong chốc lát, nghe như muốn bốc khói. Phải kiếm một tờ báo,
một cuốn vở học trò để che cho đỡ nóng. Ghe còn rất mới. Sớ gỗ còn tươi nước
sơn. Ðinh vít chưa có dấu rỉ sét. Trên boong và trong khoang đều rất sạch sẽ, đồ
đạc xếp ngăn nắp chỉnh tề. Có điều rất ngộ là Mã Lai là xứ nóng mà từ tài công
đến thủy thủ đều mặc âu phục, quần dài và áo tay dài cài khuy. Họ nói được những
câu tiếng Anh thông thường. Những đợt sóng lớn chồm lên, nước văng tung tóe, ghe
lắc lư mạnh. Chiêu ói đầu tiên, mặt xanh xám, rồi như bắt chước nhau, thằng Dân
gì đó, Sơn ói liên tu bất tận. Phía bên kia, vợ Quách Linh Hoạt cũng ụa liên
hồi, mấy đứa nhỏ ngồi bu xung quanh mặt mày bơ ngơ báo ngáo. Duyên cũng bắt đầu
váng vất, nàng bèn bồng Bi lên phòng lái ngồi chung với mấy người già yếu. Trên
đó có mái che và trải chiếu. Bi nằm ngủ ngon lành...
Ghe đi dọc theo bờ biển Mã Lai. Nhìn lên bờ về hướng trái thấy núi non xanh đen
trùng điệp nối tiếp nhau không dứt, bát ngát mênh mông. Ðúng là xứ của núi cao
rừng sâu. Ghe có lúc đi gần bờ, tôi rán nhìn thấy được những cao ốc, dinh thự
của một thành phố lớn y như một thành phố Âu Mỹ lẩn khuất trong những rặng cây
xanh. Có phải đây là Kuala Trengganu mà người ta thường nhắc tới? Những trụ điện
cao thế băng ngang qua đồi núi, lẩn khuất len lỏi trong rừng sâu... Ghe vẫn nổ
máy giòn giã tiếp tục cuộc hành trình dằng dặc.
Một anh thủy thủ buồn tình lấy dây câu ra câu cá. Ðó là một miếng ván nhỏ hơi
dài hình chữ nhựt dùng để quấn dây. Lưỡi câu lớn có cột một chùm lông gà trắng.
Dây câu được tuôn ra hằng trăm thước bề dài, kéo lướt trên sóng. Vì ghe chạy quá
nhanh nên nó không chìm xuống được. Tôi nhìn cái nhóm lông gà trắng lẫn trong
bọt sóng mong có một con cá rượt theo đớp mồi. Sợi dây câu lớn bằng cọng bún,
chắc dành để câu cá lớn, giữa biển khơi đâu có cá nhỏ... Ngồi chờ hoài không
thấy cá, anh chán nản để dây câu móc vào be ghe, đứng lên mở nắp hầm dưới khoang
lấy ra những xắp màn ny lông dầy màu xanh nước biển, quảng cáo với chúng tôi, -Ở
Bidong cần loại này để che nóc lều, qua đó mua mắc lắm, bây giờ anh bán rẻ cho.
Mời mọc hoài cũng chẳng ai mua.
Cá cũng không cắn câu mà hàng cũng không ai mua, thua buồn anh ngồi xuống lấy
thuốc ra hút. Lúc đó từ trong khoang bước ra một người dân sự độ bốn mươi tuổi,
có mang súng cồm cộm bên hông. Cũng giống như bất cứ anh công an nào, anh ta nói
úp úp mở mở mình không phải là công an. Anh ăn mặc chải chuốt, nón trên đầu,
giày dưới chưn, khăn vắt túi, dây nịt khoen vàng, viết vắt ở túi, viết cầm tay
ghi ghi, chép chép. Ðúng là một nhơn vật quan trọng. Ghi chép hồi lâu chừng cũng
chán, anh ta móc túi lấy ra một cọc tiền Mã Lai dầy cộm, đếm đi đếm lại. Tụi tôi
trố mắt ra nhìn. Mấy ngón tay anh lanh lẹ hết sức, lật tờ giấy bạc kêu xoành
xoạch. Tay này mà chia bài gian lận thì ai nhìn cho kịp... Xong màn biểu diễn,
anh gạ tụi tôi có đồng hồ bán anh mua. Chiêu đương cần tiền vội cởi ngay cái
đồng hồ cũ đang đeo. Mới có một tháng đi biển, cái đồng hồ tuy còn chạy nhưng
xác xơ. Hơi nước đóng mờ trên mặt kiếng, nước mặn ăn loang lổ vỏ ngoài. Vài ba
người Tàu cũng đưa ra vài cái. Anh công an coi tới coi lui rồi chê. Anh đòi các
hiệu nổi tiếng như Oméga, Seiko, Orient... Chiêu tưởng là không bán được tính
đeo lại nào ngờ nó lại chịu mua, trả giá mười đồng. Tất cả những cái khác nó đều
mua hết...
Ghe đi được ba tiếng đồng hồ thì Bidong hiện ra trước mặt. Giữa biển cả sóng gió
chập chùng một hòn đảo nhỏ xanh rì nổi lên chơ vơ, hiu quạnh. Có một đảo nhỏ bên
cạnh nép kế bên như con rùa con bò kế bên con rùa mẹ. Pulau Bidong lớn hơn đảo
nhỏ này nhiều nhưng so với Kapas thì Bidong nhỏ xíu. Từ đây nhìn vào bờ không
còn thấy những rặng núi xanh xanh, dầu chỉ là lờ mờ. Chỉ còn trời và nước. Nó xa
cách đất liền, trơ trọi giữa biển khơi. Cũng giống y như Côn Ðảo của Việt Nam
mình!
Mọi người xúm nhau mà ngó. Bidong đây rồi. Cái nơi tìm kiếm trên cả tháng nay.
Nắng lúc năm giờ chiều vẫn còn chói chang. Niềm hân hoan của mọi người trên ghe
cũng như ánh nắng lung linh trên sóng. Gần một tháng ở đảo vắng xa cách hoàn
toàn thế giới bên ngoài, bây giờ được gặp gỡ nhiều người, biết được nhiều việc,
tiếp xúc được nhiều nơi... chắc là thú vị lắm. Phong cảnh rõ dần, rõ dần. Ðảo là
một khối hình tròn, giữa có núi đất. Rừng cây chỗ đậm, chỗ lợt. Những thân cây
vì ở quá xa nhìn thấy nhỏ xíu đứng song song nhau trong khối lá xanh rì. Những
chỗ lợt là những bãi trống loang lổ vì bị cháy rừng hay bị đốn phá bừa bãi...Có
những đám khói xám trắng bốc lên ở đỉnh núi. Ở dưới chưn núi, sát mé biển cũng
một rừng dừa. Những thân dừa suông đuột vàng lên dưới nắng. Thiệt, cái xứ Mã Lai
chỗ nào cũng toàn là dừa.
Một cầu tàu nhỏ bằng cây chạy dài ra ngoài mé nước. Sơn níu lấy tay tôi:
- Anh coi kìa, chỗ nào cũng có lều...
Ðến bây giờ thì tôi thấy rõ. Dưới những tàn dừa là những lều cao thấp chen chúc
nhau, kề cận nhau, xô đẩy nhau nối tiếp, cái này nhô ra, cái kia thụt vào, hỗn
độn rối nùi. Vui quá sức! Cả một sức sống vươn lên. Bidong có cái gì hấp dẫn hơn
Kapas. Kapas chỉ là có cái cầu tàu bằng sắt sơn xanh là có bàn tay con người,
còn tất cả là thiên nhiên. Bidong thì không. Từ ngoài cầu tàu, đến bờ cát, sâu
vô trong, trên ghềnh đá, trong các hốc núi, cheo leo trên thân cây, loanh quanh
trên sườn đá đều có bàn tay con người xen vô. Ðủ thứ màu sắc xanh đỏ tím vàng
tha hồ mà tô điểm. Tôi trả lời Sơn:
-Bidong coi bộ hấp dẫn, anh bây giờ chịu cảnh rần rần náo nhiệt như vầy nè, ở
bên Kapas buồn quá sống một tháng mà tưởng chừng một năm...
Sơn nhìn tôi:
-Lúc trước cũng anh nói anh thích Kapas yên tĩnh, sống gần gũi hòa hợp với thiên
nhiên, bây giờ anh lại nói thích Bidong vì ồn ào náo nhiệt... Sao kỳ vậy?
Tôi cười:
-Ừ, anh cũng không biết tại sao khi vầy khi kia. Chắc muốn có cái gì thay đổi...
cho cuộc đời vui hơn một chút... Anh chỉ cần mỗi ngày... vui hơn một chút thôi,
không đã lắm sao!
Ba chiếc ghe Mã từ từ cặp bến. Cầu tàu bằng cây dài khoảng năm mươi thước, cột
dầu cũng bằng cây lớn cắm sâu xuống những thùng phuy đổ đầy xi măng chôn dưới
đáy nước. Nước biển trong xanh phản chiếu ánh nắng vàng rực buổi chiều chói mắt.
Dưới chân cầu, hàng ngàn người da đen nâu đang nô đùa, lặn hụp trong sóng nước
long lanh. Vì ở trên cao nhìn xuống tôi không phân biệt người lớn cùng trẻ con,
đàn ông cùng đàn bà, tất cả đều nhỏ xíu xôn xao rộn rịp như đàn kiến. Ba chiếc
ghe mới tới như miếng mồi ngon, đàn kiến ngưng đùa giỡn, bu quanh đen nghẹt,
người vịn thành ghe, kẻ bám cột cầu tranh nhau hỏi tíu tít đến từ đâu?
Tôi cố nhìn xuống đám người đang lội dưới kia, hy vọng gặp một người quen, nhưng
hoài công, không dễ nhìn thấy được. Ai cũng mình trần trụi đen thui, râu tóc dài
thậm thượt rậm rì, giống nhau như hệt. Sóng nhấp nhô dưới chưn cầu, người bơi
lội nhấp nhô theo sóng. Khi ghe đã cột đõi, chúng tôi được hướng dẫn lên đứng
xếp hàng hai trên cầu để ban trật tự của đảo sắp xếp và kiểm soát. Hành lý được
chuyển lên để kế bên. Bây giờ tôi mới có dịp đứng yên để nhìn vô đảo. Trên bờ
người ta túa ra từ các ngả rầm rộ để coi ghe mới tới. Không thể tưởng tượng được
tỷ lệ dân cư ở đảo này. Sao mà đông quá sức, cả rừng người chen lấn xô đẩy nhau.
Phần đông đều ở trần, mặc xà lỏn, tóc dài, râu dài, chưn mang dép cao su đủ màu.
Loại dép Mã Lai đế rất cao. Họ đứng dầy đặc ở bãi cát, ở dưới những gốc dừa. Cây
dừa ở đây cũng cao vút như ở Kapas nhưng thưa hơn, dưới những tàn lá có vài mái
nhà tôle, có thể là nhà hội, cơ sở của đảo.
Tôi ngó bên này, rồi ngó bên kia, trong đầu nghĩ tới vài người bạn đã tới trước.
Tôi thèm gặp được một người quen lúc này hết sức. Nhìn hoài không thấy được ai,
thôi vậy đứng tách riêng ra cho người ta nhìn mình. Nghĩ xong tôi đứng tách ra
khỏi hàng, ở vị trí cho dễ thấy... Cho tới khi ban trật tự ổn định sắp xếp xong
hướng dẫn cả đoàn đi vào nhà đợi làm thủ tục nhập đảo, cũng chưa gặp được một
người quen. Như vậy bạn bè vượt biên của tôi, ở đảo Bidong, chắc là ít lắm. Nhà
chờ đợi cũng ở ngay mé biển, bên trái cầu tàu. Mái lợp tôle trắng, các cột bằng
cây vuông, nền tráng xi măng, không có vách. Dĩ nhiên cũng không có bàn ghế gì
hết. Ba trăm người vào ngồi lủ khủ bên các đống hành lý của mình như món hàng
triển lãm, bên ngoài vòng rào thiên hạ chen lấn nhau dòm vào. Nếu lúc thường mà
bị dòm ngó như vầy thì khó chịu và mắc cỡ nhưng người tỵ nạn đã vô Bidong ở cái
cảnh tận cùng đất đen, nói nôm na một chút là ‘cùi không sợ lỡ’ nữa rồi, còn gì
đáng e ngại, quan tâm nữa đâu.
Tôi ngồi trân ra đó, bệt trên sàn xi măng, tai nghe mọi thứ âm thanh vang dội
hỗn độn ồn ào xung quanh như trong một cái tổ ong bầu. Người ngồi bên trong nói
vọng ra vang vang người bên ngoài chen lấn hét lớn vào, chia tay ở Việt Nam gặp
lại ở Bidong xa xôi này không vui mừng sao được. Có những người là bà con ruột
thịt, cũng có những người hàng xóm quen biết sơ sơ nhưng dầu là thân hay sơ câu
chuyện cũng giòn giã thân tình. Bi phần nóng nực, phần ồn ào nên phát khóc, đòi
đi chơi. Duyên vừa dỗ con vừa nói: - Có qua đây rồi mới biết, sao mà hỗn độn rần
rần, em muốn ngộp thở. Cái tên Bidong cũng là tiền định, làm em nhớ tới chữ
bidonville...
Chắc nàng đang nghĩ tới khu Bàn Cờ, tôi thì nhớ tới những trại tỵ nạn của đồng
bào An Lộc, Bình Long vào năm 1972, mùa hè đỏ lửa, cả chục ngàn người bỏ cửa bỏ
nhà chạy đổ xô về Bình Dương sống chui rúc trong những căn nhà che tạm bằng bất
cứ thứ gì lượm được: cây, ván, vải vụn, thùng giấy cạc tông... sống cảnh màn
trời chiếu đất.
- Ừ, ừ, cũng ngộ thiệt. Bidong này với bidon kia có khác gì đâu. Gần bốn chục
ngàn người sống trên một khoảnh cát nhỏ xíu như vầy. Trên thế giới chắc không có
nơi nào tỷ lệ dân cư cao như ở đây. Mà đố em tại sao đảo này có tên là Pulau
Bidong? Duyên suy nghĩ một hồi, chịu thua.
Tôi nói cho nàng nghe:
- Pulau thì dễ rồi, có nghĩa là hòn đảo, tiếng Việt mình cũng dùng y như vậy gọi
là cù lao. Hồi còn ở Kapas có lần anh hỏi thằng Zăm Bri, tiếng Mã Lai nghĩa của
chữ Bidong là gì. Nó nói Bidong là rắn. Pulau Bidong là đảo rắn. Chắc ở đảo này
rắn nhiều lắm nên mới được đặt tên như vậy.
Nàng hóm hỉnh nhìn tôi:
- Vậy Kapas là dừa, Pulau Kapas là đảo dừa...
Tôi cười trừ:
-Cái đó phải kiếm thằng Dân thủy thủ để hỏi, tên đảo Dừa của nó đặt ra đó!...
Lúc đó thì Chiêu đã gặp lại anh bạn học ở Hốc Môn, thơ ký của chiếc 0126C, rồi
tới anh Tư Trần Hưng Ðạo, anh chị Thuần, chị Ðiệp gặp được dì Chín, cậu Tám...
nhiều nhứt là các người Tàu. Câu chuyện nổ ròn như bắp rang. Tôi ngó mông, ngó
mênh mãi cũng không gặp được ai quen. Cho đến khi rời khỏi chỗ tạm trú qua đêm
mới gặp được một cô học trò cũ. Mạch Ảnh Lang học ở Hoàng Diệu Sóc Trăng. Cô ta
đã tốt nghiệp Y khoa một lượt với Tuyết và Tiến. Cả hai gặp lại nhau mừng rỡ tít
tít nói chuyện huyên thuyên. Ảnh Lang đã đến đảo từ mấy tháng trước, ngày mốt là
lên đường đi định cư ở Úc. Người trên đảo đông nghẹt như trong hội chợ nên đường
sá rất khó định hướng. Nhìn chỗ nào cũng thấy người ta, tôi sợ lạc nên từ giã
Ảnh Lang đi theo dòng người về nơi tạm trú. Len lỏi trong rừng người, chen lấn
xô đẩy vượt qua một đoạn đường giống như khu chợ trời ở chợ cũ Hàm Nghi, hai bên
là những người ngồi bán các loại hàng hóa của Mỹ của Mã Lai trên các thùng cạc
tông. Ðường đầy rác rưới, đất cát dơ bẩn lồi lõm quanh co. Mãi rồi cũng tới khu
đất trống để tạm trú qua đêm. Quăng cái sắc marin bự cùng cái xách tay xuống
đất, tôi ngó quanh. Hỡi ơi! Khu tạm trú là đây sao? Dưới là cát đầy rác rưới,
xung quanh la liệt những người bày hàng bán chợ trời, rải rác có các cây dừa
cao. Bầu trời đã đầy sao. Trời tối từ hồi nào tôi không hay biết. Trên các sạp
thấp lè tè người ta đã lên đèn. Ðèn là các hộp lon coca tim vải, đốt bằng dầu
lửa hoặc dầu cặn khói tù mù. Người di chuyển qua lại dùng đèn bấm để soi, ánh
sáng chấp chóa, chớp tắt liên hồi. Cả một cảnh tượng hỗn độn, kỳ cục, lạ mắt,
một cảnh sinh hoạt tìm không ở đâu có, chỉ trừ ở hải đảo lẻ loi này. (Chợ âm phủ
trong các chuyện cổ tích được ghi chép lại chắc cũng y như vậy: các hồn ma cũng
đi chợ, cũng mua bán trả giá, cũng dùng tiền giấy, trong những ánh đèn chập
chờn...)
Các bạn gặp được người quen đến trước, họ lần lượt đi gởi hành lý và xin ngủ nhờ
qua đêm, khỏi phải chịu cảnh màn trời chiếu đất đêm nay. Anh Tư Trần Hưng Ðạo,
anh chị Thuần và đám chị Ðiệp, chị Kiều đã đi rồi. Chỉ còn đám anh em tôi, tứ cố
vô thân, ngó quanh ngó quất không quen ai để nhờ vả. Một đống hành lý ngùn ngụt,
trời tối mò mò. Có vài người đứng nhìn chúng tôi e ngại, họ nhắc khéo nên coi
chừng ăn cắp, ở đây hở ra cái gì là mất cái đó... Thôi phải rán tự túc tự cường.
Tôi trải tấm ny lông trên bãi cát dơ, cạnh gốc dừa gom hết hành lý dồn đống lại.
Ðành đêm nay ngủ đỡ tại đây! Ngồi xuống tấm đệm, dựa lưng vào mấy cái gói xách,
tôi duỗi tay chưn. Mấy bắp thịt nhão ra, mỏi nhừ. Ðến bây giờ mới thấy mệt. Cổ
họng khát khô. Duyên lục trong túi xách tay tìm được một thùng nước nhỏ, tôi cầm
lấy uống một hơi, để xuống, cơn khát đã đỡ nhưng trong lòng cảm giác bơ vơ,
trống vắng. Bóng đêm tối đen mù mù, tiếng chưn người xào xạc trên cát, những ánh
đèn bấm chớp tắt, chớp tắt...
Sơn và Dân gì đó sau một hồi dạo lên dạo xuống, sợt về. Dân ngồi xuống mặt đệm:
- Mình có thể nhắn tin tìm người quen ở phòng thông tin gì đó.
Tôi hăm hở:
- Làm sao để nhắn tin?
-Anh viết tên tuổi địa chỉ hiện ở cùng số ghe của mình gì đó rồi đem lại phòng
thông tin. Ở đó họ sẽ đọc lên loa phóng thanh gì đó cho mọi người cùng nghe...
Sơn lục trong đống hành lý tìm giấy. Không có. Tôi thoáng thấy mấy hộp cá mòi
lăn lóc, bèn cầm lên gỡ lấy cho mỗi đứa một tờ nhãn hiệu cá đỏ bầm phía sau còn
trắng bong có thể dùng để viết được. Cả ba hý hoáy vội vàng những chi tiết vào
tờ giấy nhỏ bằng bàn tay... Tôi cùng đi với Dân và Sơn trở lại con đường hồi nãy
rồi quanh về bên trái. Phòng thông tin được cất dưới tàn dừa âm u, bên trong có
đèn điện sáng choang, vách cây dừng bốn phía. Tôi đứng ngay cửa sổ, chờ đợi. Sơn
đứng kế bên. Cô xướng ngôn viên mặc áo trắng tay tóc ngắn thấy ba anh em tôi
đến, quay lại. Sơn mừng quá la lên:
- Ơ, chị Ba, em nè.
Cô xướng ngôn viên cũng khựng lại, mừng hết sức:
- Sơn đó hả, tới hồi nào vậy, sao không kiếm chị?
Sơn cười tươi rói:
- Em mới tới hồi chiều, kiếm phòng thông tin để nhờ nhắn tin tìm chị đây nè!
Nó đưa tờ giấy nhắn tin viết trên lưng nhãn hộp cá mòi. Cô nhân viên trẻ đẹp đó
là chị ruột của cô bồ Sơn. Cả gia đình của cô đã tới Bidong trước mấy tháng nay
đang chờ đi định cư ở Mỹ. Sơn mừng húm, chạy về xách hành lý để theo tiếng gọi
của... con tim. Tôi và Dân gì đó bị bỏ rơi, hai anh em bơ bơ đi trở về.
Ở ‘nhà’ Chiêu cũng không chịu ngồi yên, nó đi đông đi tây, may quá gặp được các
người quen ở Bình Dương. Một số vội vàng đến thăm. Tôi từ từ thấy được một góc
trời quê hương. Chị Mỹ Á bán vải ở nhà lồng chợ, anh Hưng Thạnh bán gạo ở mé
sông cùng vợ chồng anh Liêu Thạnh. Anh Liêu Thạnh còn trẻ độ hai lăm, hai sáu có
nhà ở sát cạnh nhà tôi, cũng bán gạo. Cô vợ bồng con còn nhỏ, anh mừng rỡ:
- Mấy anh có ăn uống gì chưa?
Tôi vội trả lời:
- Từ trưa tới giờ lung tung mọi chuyện nên không có thì giờ. Bây giờ rảnh rồi
nhưng bếp núc đâu mà nấu?
Anh lục lục trong cái xách tay, cầm lấy mấy gói mì, miệng lanh chanh nói với vợ:
- Coi nè, mấy ảnh có gạo, có mì, có sữa...
Chị vợ mau mắn:
- Vậy thì mình nấu mì ăn đi cho vững bụng.
Tôi lo lắng:
- Làm sao có bếp, củi để nấu nước sôi?
Anh cười:
- Dễ quá, dễ quá, để tôi lo cho, có liền mà. Mấy anh chị chờ một chút nghen...
Anh vụt chạy về. Chừng một lúc sau anh khệ nệ bưng ra một nồi nước đầy nước còn
nghi ngút khói. Chị vợ đã kỹ lưỡng cầm theo đủ cả chén đũa. Ðoạn đường từ lều
đến chỗ tạm trú cũng khá xa, đường ban đêm quanh co khúc khuỷu tối tăm, anh
khiêng nồi nước nóng, cô vợ cầm đèn pin soi đường. Thiệt là ân nghĩa hết sức.
Cách cho quí hơn của cho. Trong đời thỉnh thoảng tôi nhận được những tấm lòng
thương yêu quí báu của những người thân và không thân. Tôi phải làm sao để đền
đáp được những ân tình ấm áp đó?
Tôi ăn một chén mì, thấy đã no, ăn không nổi nữa, có lẽ mệt quá. Sau đó một
thanh niên đến hướng dẫn tôi lại lều của dì Sáu để biết chỗ liên lạc với chị
Ðiệp. Trời tối đen thui không thấy gì hết, nó đi len lỏi trong đám người đi mờ
mờ, đèn đuốc không có, quanh quanh co co mãi một hồi lâu thì đến nơi. Nhìn quanh
thì hỡi ơi! Ðó là một cái lều cây nhỏ ọp ẹp, bước vô cửa phải cúi thật thấp nếu
không muốn bị đụng bể đầu. Trong lều có sàn duy nhứt hẹp té làm bằng những đoạn
cây nhỏ cỡ ngón chưn cái ghép lại. Cái sàn này vừa dùng để hành lý, để ngồi và
cũng để ngủ. Cái mặt sàn nổi u nổi nần làm sao mà nằm? Một đống đồ đạc chất gần
sát vách choán gần hết phân nửa mặt sàn. Một mình dì Sáu cũng đã chật rồi, bây
giờ lại thêm chị Ðiệp với hai con nhỏ và mấy đứa em. Vậy thì phải giải quyết ra
làm sao, tôi không biết. Ðông qua, chỗ đứng cũng không có nói chi đến chỗ nằm.
Trên boong ghe BL 1648 cũng còn rộng hơn.
Dì Sáu khoe đã mua căn lều này giá một lượng vàng. Nó khá nhứt ở khu này đó! Tôi
thụt lùi trở ra và đó là lần đầu tiên biết thế nào là một căn lều ở Bidong. Tôi
vội từ giã để về, đêm hôm khuy khoắc. Chết rồi, hướng cũ chỗ nào, trời lại tối
đen, thôi cứ đi đại. Tôi len lỏi trong các đường hẻm sình lầy, chưn mang đôi dép
đứt đi bước thấp bước cao. Ðường đi lại có nhiều gốc cây nhỏ chặt không sát,
thỉnh thoảng trồi lên một gốc, vô ý đá mạnh vào xước da chảy máu, đau thấu tận
trời xanh. Mò mẫm đi một hồi lâu ra tới bờ biển lạ hoắc. Nhìn kỹ đây không phải
là chỗ lên hồi chiều. Tôi nghe tiếng nhạc bập bùng, giọng ca eo éo, rải rác trên
bãi một đám đông nhàn hạ thảnh thơi hóng gió nghe nhạc ké trong quán vẳng ra.
Tôi còn bụng dạ nào nấn ná chần chờ ở đây để thưởng thức những giọng oanh vàng.
Phải hỏi đường cho kỹ để về khu tạm trú. Tôi hướng về cầu tàu rồi loay hoay cũng
về được chỗ cũ. Tôi vừa về tới nơi thì vợ chồng con cái anh Tư Trần Hưng Ðạo
cũng trở lại tìm chỗ ngủ. Rồi tới chị Thuần, kế đó là mẹ con chị Ðiệp với mấy
đứa em. Thì ra Bidong lòng ai cũng rộng nhưng lều thì hẹp quá, thôi tất cả đành
ngủ tạm trên bãi cát dơ!
Võ Kỳ Điền
(Trích Pulau Bidong Miền Đất Lạ,
Chương 15)
art2all.net
|