|
Vơ Kỳ Điền
HẢI ĐẢO BUỒN LÂU BI ĐÁT II

Sương
khuya lành lạnh, sóng vỗ ŕ rào, mọi người đă chọn chỗ nằm, tha hồ mà ngắm sao
đêm nay. Tôi và Chiêu c̣n ngồi nh́n đọt dừa nói chuyện. Các gian hàng chợ trời
đă dẹp sạch trơn. Trên con đường trước mặt, một người nhỏ con lùn thấp đen đúa,
mặc một cái áo thun trắng dài sọc gần tới đầu gối đang đi ngang. Tôi khều Chiêu,
th́ thầm trong bóng đêm:
-Nh́n nè, có thằng nhỏ không bận quần đi kia ḱa...
Chiêu nh́n rồi trả lời:
-Sao anh biết nó không bận quần?
-Có thấy cái quần chỗ nào đâu. Cái áo phủ tới đầu gối. Có thể có mà cũng có thể
không. Theo anh đoán th́ không có…
Chiêu cười hà hà, hỏi lại :
-Tại sao anh đoán như vậy?
-Dễ hiểu quá mà, ở Bidong nầy trời nực… để trống trải vậy cho mát.
Hai anh em cười hăng hắc, bỗng nhiên Chiêu chợt nhỏm dậy, chạy theo người vừa đi
ngang, miệng hỏi:
-Xin lỗi, anh phải anh Năm, Trung Sĩ Biệt Động Quân không?
-Anh Chiêu, anh qua đây hồi nào. Tôi chờ anh mấy tháng nay…
Hai người găp lại nhau, có nhiều chuyện để nói. Tôi rán nh́n kỹ để kiếm coi anh
bạn mới, ngoài cái áo thun dài ra, c̣n có mặc ǵ nữa không? Tiếc quá, trời tối
ṃ ṃ, nên không thấy được ǵ hết trơn! Lần lần qua câu chuyện, tôi được biết
anh Năm trung sĩ là người quen với anh rể Chiêu. Lúc trước anh rể Chiêu qua
Bidong dựng cái lều cây kế khu chợ trời nầy để ở. Sau đó anh được đi Mỹ có nhờ
anh Năm ở lại giữ lều dùm, dặn kỹ là kiếm Chiêu để giao lại. Như vậy cũng đỡ.
Anh Năm thấy có nhiều trẻ em c̣n nhỏ, bèn nói:
-Đằng lều c̣n chỗ trống, anh Chiêu sắp xếp cho mấy chị có con nhỏ dời qua bên đó
ngủ tạm đêm nay đi… chớ ở ngoài trời sương gió như vầy bất tiện.
Tôi sửa soạn khăn và nước uống cho mẹ con Bi đi với chị Điệp cùng Trung, Dung,
miệng nói:
-Tụi tôi cám ơn anh Năm nhiều lắm. May mà gặp anh đêm nay, nếu không th́ phải
ngủ hết ngoài trời.
Anh Năm cảm động:
-Có ǵ đâu anh, gặp lại Chiêu em mừng lắm. Để em giao cái lều lại cho… Em cũng
gần được đi Úc rồi, rủi khi đi mà không gặp được ảnh, em cũng không biết phải
làm sao?
Rồi anh cười, nói tiếp:
-Nói th́ nói vậy chớ, em cũng đă tính rồi, đâu đó xong xuôi. Cái lều tốt quá,
hổng lẽ bỏ uổng, lúc đó chắc phải bán rẻ, kiếm một mớ xài đỡ… rồi khi nào có gởi
qua Mỹ trả lại.
Tối đó Duyên ẳm Bi, chị Điệp dẫn Trung, Dung, cô Bằng ẳm bé Linh đến lều của anh
Năm. Anh chị Năm nhường chỗ cho những người mới tới. Cả hai ngủ ở hai cái vơng
mắc vào các gốc cây. Lại một lần nữa vào phút chót, tôi được môt ân nhân, không
quen không biết ra tay giúp đỡ.
C̣n lại ở đây toàn là người lớn. Tôi trải các quần áo, mùng mền bị mưa ướt buổi
sáng ở Kapas chưa kịp phơi khô ra trên các ba lô, xách tay để phơi, rồi nằm ngủ
đại trên tấm ny lông dơ, giấc ngủ chập chờn v́ sợ người ta lấy cắp đồ đạc.
Khoảng một hai giờ khuya, có trận mưa nhỏ, cả đám chạy vào lều bên cạnh núp mưa.
Những luồng gió mạnh rít lên từng cơn, thổi tạt những giọt mưa bay ngang rào
rào, nước thấm ướt đầu, ướt cổ man mát. Ở phía nhà chờ đợi một ngọn đèn điện
sáng đỏ quạnh cô đơn. Chúng tôi lom khom nép người vào vách lều kế bên, nh́n
mưa, không ai nói tiếng nào. Cả đảo im ĺm, hiu quạnh thê lương… Mưa rồi cũng
tạnh, tôi ra ngủ tiếp. Giấc ngủ mê man! Suy nghĩ cho cùng, trong cái khổ cũng có
cái sướng. Trong đời chưa bao giờ, tôi được dịp nằm ngủ thẳng cẳng giữa chợ,
không mùng mền chiếu gối, một cách bụi đời như tối nay!
Đó là đêm đầu tiên tôi bước chưn tới đảo Bidong, hải đảo nóng bức của vùng xích
đạo, hải đảo mà hàng chục ngàn thuyền nhơn Việt Nam nghe tới tên phải xúc động
thẩn thờ. Không biết kể từ bao giờ, mỗi khi nhắc tới nó, người tỵ nạn vừa âu
yếm, vừa mỉa mai, gọi bằng một cái tên mới đặt, hải đảo Buồn Lâu Bi Đát. Cái tên
sao mà bi quan và hơi cải lương. Thiệt t́nh mỗi khi nghe tới, đâm rầu thúi ruột!
*
* *
Lều anh Năm áo thun ở tuốt về phía vách đá cuối băi, khi tới nơi quẹo mặt một
đổi rồi quẹo trái. Nó thuộc khu G của đảo. Muốn đi đến đó phải băng ngang qua
khu D chợ trời. Trời vừa tang tảng sáng tôi đă dọn dẹp xong đống đồ đạc ngổn
ngang, nhường cái băi cát dơ lại cho mấy bà bạn hàng để quăng rác. Chiêu đi
trước dẫn đường loanh quanh trong con hẽm nhỏ vừa đủ lọt một người đi. Tôi theo
sát v́ sợ lạc. Chung quanh lều cất san sát, cái cao cái thấp chen nhau, không
c̣n một khoảng trống. Quang cảnh hổn độn rối nùi. Thỉnh thoảng tôi phải dừng
lại, nh́n trái nh́n phải để định hướng. Đây rồi mẹ con Bi cùng mấy đứa nhỏ đang
ngồi trên sàn. Tôi bồng lấy Bi, thằng bé ôm lấy tôi, mừng rỡ. Duyên hỏi:
-Hồi hôm h́nh như trời mưa, mấy anh làm sao? Có bị ướt nhiều không?
-Mưa cũng nhỏ, tụi anh chạy qua lều kế bên đụt tạm. Sao, mẹ con ngủ ngon không?
Duyên mặt mày tươi tỉnh:
-Mệt quá nên nằm ngủ một giấc tới sáng. Thôi, lo rửa mặt rửa mày rồi ăn điểm
tâm.
Tôi đứng nh́n cái lều. Nó được dựng trên ba cây cột to bằng bắp chưn. Cây cột
thứ tư là một gốc cây lớn cỡ ṿng ôm, trên đọt c̣n đầy đủ cành lá xanh um. Nhờ
vậy mà lều rất chắc chắn. Căn lều cao cẳng nầy cũng được lót sàn, cao chừng một
thước rưỡi, có một cái thang ở ngay trước cửa, dùng để lên xuống. Như vậy cũng
tiện, bao nhiêu bụi bậm rác rưởi đều lọt tuốt xuống đất. Mặt sàn cũng bằng cây
tṛn nhỏ dài cỡ hai thước, ghép sáy lại để nằm ngồi, sinh hoạt. Nh́n những mắt
cây sần sùi, nổi u nổi cục, cây th́ thẳng, cây th́ cong, tôi lo lắng:
-Cái mặt giường lồi lơm như vầy, làm sao mà nằm?
Duyên trả lời:
-Khi nằm phải lựa thế từ từ ngả lưng xuống… chớ nằm lẹ th́ bị cấn đau lắm.
Tôi sực nhớ ra ở Bidong, tất cả vật liệu xây cất đều phải tự kiếm trên núi. Đinh
búa th́ xuất tiền túi ra mua ở chợ trời. Ban quản trại chỉ phát cho đồ ăn với
nước uống, làm ǵ có tới cây ván phẳng phiu để làm giường, làm chiếu. Mà nếu có,
th́ phải chở bao nhiêu tàu cho đủ? Có tất cả bao nhiêu cái lều ở đảo nầy? và bao
nhiêu nữa đang được cất thêm? Diện tích mặt sàn cỡ bằng bộ ván lớn. Đằng trước,
đằng sau, bên phải, bên trái, bị các lều lân cận ép kín mít, chỉ hở có trước
cửa, một con đường ra vô chỉ khoảng một thước mà thôi. Cũng c̣n một chỗ trống
nữa chớ. Ở vách bên phải c̣n dư một khoảng đất trống độ một thước ngang ba thước
dài. Người anh rể Chiêu làm môt cái nhà tắm và môt cái bếp nấu ăn. Cái nhà tắm
nhỏ như cái hộp cạc tông, c̣n cái bếp làm bằng đât sét, mỗi lần nấu nướng khói
um mịt mù. Tất cả chỉ có bao nhiêu đó. Nếu muốn kể thêm th́ có thể nói dưới sàn
là rănh nước chảy ngoằn ngoèo, dơ dáy. Cái rănh chứa hết tất cả nước dơ của các
lều khác chảy ngang qua đây rồi chảy về đâu nữa, làm sao tôi biết được!
Hành lư đă sắp xếp gọn ghẽ trên mặt sàn, tôi ăn tô ḿ tôm buổi sáng. Tô ḿ ngon
hơn tối qua, có lẽ v́ đói quá. Nắng đă len vàng trên đọt cây xanh. Nóc lều c̣n
một khoảng trống, phải lợp thêm, nếu không mưa lớn sẽ ướt hết quần áo, đồ đạc.
Bây giờ th́ sinh hoạt của đảo đă bắt đầu rộn rịp. Trong các túp lều chật hẹp
thien hạ tuôn ra đông đúc rộn ràng. Tôi lần theo lối cũ, trở ra khu chợ trời.
Người ta ngồi bán dọc theo hai bên lối đi. Trước mặt mỗi người là một thùng giấy
cạc tông hoặc môt tấm ny lông làm đệm, trên đó chất đủ loại mặt hàng cần dùng:
kem đánh răng, khăn, mùng, bao ny lông đựng đường hoặc bột, đèn bấm, đường, gạo,
bột, muối,… Có cả những thứ xa xỉ như bôm, nho, xá lỵ. Nhiều nhứt là những thùng
nước ngọt Coca Cola với Seven Up. Có một gian hàng bán đủ loại đinh ốc, kềm búa,
cưa, kéo. Tôi đứng nh́n mê mẩn, món nào cũng cần, cũng hấp dẫn dễ sợ. Gần bốn
năm năm nay sống dưới chế độ mới, không thấy mấy món hàng bày bán ở chợ trời như
những thời gian trước đây, bây giờ thấy lại mừng quá, như gặp cố nhơn. Những cái
khăn tắm mịn màng, những hộp bánh, hộp kẹo ngon nổi tiếng, những đồng hồ Nhựt và
Thụy Sĩ, những chai dầu thơm… tất cả như chào đón, mời mọc. Mắt nh́n nhưng chưn
th́ bước đi, trong túi không tiền th́ làm sao để có mà mua?
Tôi nh́n về phía trái, thấy đó là pḥng Y Tế của khu D. Những người bịnh vào xin
thuốc đứng đầy ra tới cửa. Ai có sáng kiến lập pḥng nầy ở đây coi bộ không khá,
v́ chỉ cách xa độ mười thước thôi, một dăy cầu vệ sinh công cộng quay mặt ngó
xéo vào. Cầu đuược đào sâu dưới cát trên lót ván, xung quanh được che bằng tole
dợn sóng, cao khoảng một mét rưởi, không có nóc. Chỉ có đàn bà con gái mới cần
đến, c̣n đàn ông, con nít th́ chịu khó mất công đến đây làm ǵ, mé biển hoặc hốc
núi chỗ nào cũng được, lại sạch sẽ, thoải mái. Chừng tuần sau dăy nhà cầu nầy bị
dẹp bỏ, cả đảo hoàn toàn không có một cái cầu nào. Tôi mới đến có một ngày, chưa
biết đuợc ǵ nhiều, vă lại cũng không quen với một vị nào làm việc trong trạinên
không nghĩ ra đượclà ở Bidong nên lập cầu vệ sinh hay không nên? Nếu nên lập th́
tại sao có rồi phá bỏ, c̣n nếu không nên th́ cả đảo là một băi phân khổng lồ.
Như hiện giờ trên đường đi, trên băi cát, ở gốc câychỗ nào cũng co những ḿn bẫy
can quân ta gài lại trong đêm hôm khuya khoắc, sơ ư là dẫm phải. Ở vào trường
hợp nầy không cần vào pḥng Y Tế mà phải chạy lẹ ra mé biển… để rửua chưn! Cũng
do vấn đề vệ sinh, tôi mới chợt hiểu công dụng của cây đèn bấm chớp tắt liên hổi
trong đêm hôm của những người đi đường! Ai cũng phải có, không có là không được!
Tôi phải nín thở đi thật lẹ khi ngang qua đây. Trời ơi, cái chỗ tôi nằm ngủ hồi
hôm cũng đâu có cách xa ǵ. Cái đống rác ch́nh ́nh kế bên. Rồi cái băi cát dùng
làm chỗ tạm trú cũng ở kế bên đó luôn. Vậy mà đêm qua tôi dám cả gan nằm ở đó,
ngủ một giấc ngon lành. (Vị nào trong ban tổ chức trại, có sáng kiến chọn khu
tạm trú cho người mới tới ở chỗ nầy, thiệt là bất nhơn!)
Nắng đă bắt đầu nóng, mồ hôi rịn ra trên lưng. Những người thợ hớt tóc đă bắt
đầu hành nghề bên cạnh những ông thợ bạc đang mài mài, dũa dũa các món nữ trang.
Tôi thấy dưới gốc cây bàng lớn là pḥng đánh điện tín dành riêng cho người tỵ
nạn, vài ba người đang chờ đợi tới phiên ḿnh. Quăng đường tự nhiên hẹp lại. Một
căn nhà tuy đă cũ nhưng kiên cố, to lớn và khá đẹp được rào kín đáo. Nhà cất
kiểu cao cẳng Mă Lai. Mặt sàn cao chừng một thước rưỡi, cầu thang đi lên nhà
được xây bằng gạch tô xi măng.. Ở đảo nầy mà lại có môt căn nhà kiểu lạ không
biết của ai, tôi đứng nh́n ṭ ṃ, không thấy người bên trong. Ủa, sao lại có
người ở dưới sàn, đầu cạo trọc lóc. Anh ta nh́n tôi, vẻ mặy thê lương, nước da
xạm đen. Tôi nh́n kỹ hơn. Hai tay anh được tự do nhưng cổ chưn bị xiềng vô gốc
cột. Trời, sao kỳ cục vậy? Nét mặt nầy là người Việt hay người Tàu chớ không có
vẻ ǵ là người Mă Lai. Từ trong nhà đi ra hai người cẩnh sát Mă cầm súng săn to
ṇng. À, th́ ra cái nhà nầy là cơ quan cảnh sát Mă Lai trên đảo. Vậy mà tôi đứng
đây hồi lâu không biết.
Tôi vội bước đi mà ḷng thắc mắc, người bị nhốt dưới sàn kia, tội t́nh ǵ mà
phải xiềng xích và đầu bị cạo trọc? Một nỗi buồn vô cớ len len trong ḷng khiến
tôi bước đi vội vă để tránh chỗ nầy. Tôi không muốn nh́n cảnh tượng thương tâm
diễn ra trước mắt, cuộc đời vốn đă nhiều khổ sở, càng thấy nhiều, biết nhiều lại
càng khổ hơn. Nhưng dầu muốn thấy hay không muốn thấy, cũng không do ư ḿnh. Vừa
qua khỏi nhà chờ đợi tạm mà tôi đă vào làm thủ tục hôm qua, mắt tôi chợt thấy
một nhóm ba người đàn bà Tàu đang lên nhang đèn ś sụp khấn vái. Trước mặt họ,
dưới một gốc cây dừa già cỗi, một cái miếu nhỏ đóng bằng cây ván vụn một cách
thô sơ, sơn đỏ bầm trên đó một hàng chữ Tàu ngoằn ngoèo đậm nét. Đám đông rầm rộ
xung quanh. Một lư hương cắm đầy nhang đỏ khói lên nghi ngút. Những lời cầu
nguyện lẫn trong tiếng động vô t́nh. Tại sao nơi đây lại có một cái miếu nhỏ?
Tôi hỏi một chủ lều bên đường, ông ta đang đứng thong dong -‘cách đây mấy tháng
một ông già ngồi ở chỗ đó bị dừa rớt trúng bể đầu, chết liền tại chỗ. Ổng là
người đầu tiên chết ở Bidong nầy, được đem chôn trên đồi tôn giáo đó!’
Nói xong ông ta ngó về phía giếng đông người, thản nhiên không một xúc động,
trong tay c̣n cầm cọng nhang xỉa răng… Tôi nghiệm ra một điều ở Bidong nầy số
lượng người đông như kiến thành ra đời sống của mỗi cá nhơn bị ch́m ngập trong
đám đông. Mỗi cá nhơn nhỏ nhoi quá, không có nghĩa ǵ hết. Ai bị gông xiềng th́
cứ thản nhiên ở tù, ai bị dừa rớt bể đầu th́ cứ thản nhiên chết, c̣n ai chưa bị
ǵ hết th́ cứ thản nhiên mà sống. Ḍng đời cứ thản nhiên trôi. Chỗ nầy có người
khóc, chỗ khác người ta cười. Đâu c̣n ai có th́ giờ để quan tâm đến người khác
chi cho nhọc sức. Tôi nh́n cái miếu đỏ mà ḷng xốn xang. Ông già nầy là người
tỉnh nào? Đă tốn bao nhiêu tâm huyết, tiền của vượt thoát được bao nguy hiểm bủa
vây tứ phía, từ Viêt Nam qua được tới đây? Ông c̣n để lại vợ, con? Ông chết đi
như vầy c̣n ai thương nhớ? Bất chợt tôi nh́n một lượt toàn cảnh. Cả trại nằm
trọn trong rừng dừa. C̣n hàng ngàn cây chưa đốn, những túp lều chen nhau núp
dưới bóng mát của nó. Rồi sẽ có bao nhiêu trái dừa sẽ rớt, sẽ có bao nhiêu người
nữa bị lên đồi tôn giáo nằm cạnh ông già bất hạnh kia? Chỉ có trời biết thôi, mà
trời th́ ở cao xa thăm thẳm không thèm nói trước!
Tôi đi ra tới cầu tàu mà trong đầu cứ c̣n lởn vởn h́nh ảnh ông già mệt mỏi xơ
xác sau bao ngày vượt biển đến đây, ghe phải vất vả gian nan mới cặp được vô cái
cầu tàu nầy. Ông đuợc lên bờ và ghé vào ngồi dựa gốc dừa để nghỉ mệt…Phải chi
ông bị chuyện rắc rối tới trễ một vài phút, phải chi trái dừa rớt sớm hơn vài
phút, phải chi nó rớt trật qua một bên và hàng ngàn cái phải chi khác… nối tiếp
nhau cho tới cái phải chi cuối cùng th́ tôi vỡ lẽ. Đó là, phải chi đừng có Viêt
Cộng vô xâm chiếm miền Nam th́ ông già đâu có vượt biên làm ǵ, mà ông không
vượt biên th́ làm sao dừa Bidong rớt trúng đầu ông được. Và từ đó tôi suy ra
hàng trăm, hàng ngàn nỗi khổ đau cực nhục của người thuyền nhơn, tỵ nạn Việt Nam
phải gánh chịu là do cái chủ nghĩa Cộng Sản thiếu trái tim người gây ra. Mà suy
nghĩ cho cùng, đâu phải chỉ có mấy trăm ngàn thuyền nhơn chịu khổ đau, cả xứ
Việt Nam sáu chục triệu người cũng đồng chung một thảm cảnh giống nhau. Phải
chi…phải chi đừng có chủ nghĩa Cộng sản th́ dân tộc sẽ hạnh phúc biết bao nhiêu!
Tôi lần đến cầu tàu. Hằng trăm người vẩn vơ đứng ở đầu cầu, đa số đều ngóng nh́n
ra khơi. Không biết họ t́m ǵ ngoài đó. Những câu chuyện về chuyến đi, những may
mắn cùng những hăi hùng đựợc nhắc đi nhắc lại. Ai ai đến đây cũng đều bị một dấu
ấn khắc sâu trong ḷng cho đến chết cũng không quên. Chuyến đi của cả một đời.
Chỗ nầy thuộc khu A, người ta ra đây để hóng mát, để gặp gỡ hàn huyên. Nước biển
đầy rác và phân người. Vậy mà chiều hôm qua, tôi đă thấy hàng ngàn người lặn hụp
dưới đó. Ḿnh mẫy bụi bặm dơ dáy mới đi tắm, mà tắm ở đây xong th́ dơ hơn! Cũng
ngộ quá sức!
Cái cầu cây dài cả trăm thước nầy được gọi là cầu supply, tôi nghe mọi người đều
gọi như vậy. Cũng đúng thiệt! Từ sớm mơi cho tới nửa đêm, người ta đă chuyên chở
vô đảo
không biết bao nhiêu tấn thực phẩm và hàng hóa. Các thanh niên tự nguyện thuộc
khối tiếp tế có đến mấy trăm người, thay phiên nhau công tác liên tục. Họ di
chuyển trên cầu, ở xa trông như đàn kiến tha mồi vào tổ. Kho chứa là một dăy nhà
tôle nằm dài theo băi cát bên phải đầu cầu. Xa một chút, xác một chiếc tàu sắt
nằm nghiêng trên băi chơ vơ như một bộ xương rỉ sét… (danh từ cầu supply chỉ phổ
biến vào năm 1979, đến 1980 trở về sau được điều chỉnh để gọi cho đúng là cầu
jetty).
Trời đă nóng gắt, oi bức dễ sợ. Tôi cởi áo cầm tay. Mọi người đều ở trần, tôi
cũng thử ở trần đi giửa đám đông coi thử ra sao. Cũng thoải mái, đâu có ǵ ngại
ngùng. Con đường chánh từ cầu supply đi thẳng vô trung tâm hành chánh của trại,
bề ngang độ chừng hai thước. Nó là đại lộ Lê Lợi của Bidong, người đi như nêm
trên mặt đất nện vàng ẻo. Một vũng nước đen ng̣m nằm bên đường đầy rác rưởi rong
rêu chảy ngang qua lộ bằng một đương mương nhỏ. Người ta phải bắt qua vài tấm
ván mỏng gập gh́nh. Rồi sau đó là người và người, tôi bị ch́m mất trong đám đông
di chuyển hổn độn. Một rừng người xô đẩy chen lấn nhau, phức tạp, rối nùi. Có
một giếng nước ngọt ở đầu đường, đông ghẹt người đến lấy nước. Ở đây không có
việc sắp hàng chờ đợi. Mạnh ai nấy quăng thùng xuống giếng rồi sau đó kéo lên,
được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Tiếng thùng thiếc va chạm nhau gây nên một âm
thanh loảng xoảng vang dội. Nh́n cảnh lấy nước giành giựt nhau từng lon, tôi
ngao ngán. Trơi, phải tả xung hữu đột để kéo lên một lon nước nhỏ, thiệt là vất
vả quá. Rồi phải bao lâu mới được một thùng?
Tôi đi hướng về trung tâm của khu A. Một cái ổ ong lớn hoạt động nhộn nhịp rộn
ràng ở các dăy nhà ngang, dọc. Khu hành chánh của trại ở đầu đường trên một băi
đất nện được đắp cao. Hai dăy nhà cây lợp tôle dợn sóng, vài cái lều cây và lều
vải nhà binh được dựng thêm kế bên. Tất cả đều được một hàng rào kẻm gai vây
quanh, những chỗ thiếu kẽm, người ta lấy cây ván thế vào. Những người có thiện
chí và khả năng ự nguyện góp công góp sức ḿnh đang lăng xăng làm việc. Có những
người đàn ông, đàn bà và đa số là thanh niên trẻ tuổi. Họ đến từ một phương trời
xa xăm, không quen biết nhau, v́ cùng một cảnh ngộ, đem sức lực và tâm trí đóng
góp vào việc chung của trại. Quyền lợi th́ hoàn toàn không có ǵ nhưng trách
nhiệm và bổn phận th́ khá nhièu. Tôi gặp ngay ông trưởng trại, một người bạn cũ,
có một thời anh làm hiệu trưởng trường Trung Học Thoại Ngọc Hầu ở Long Xuyên.
Mười năm rồi mới gặp lại nhau, anh cũng không thay đổi chút nào, người nhỏ con
rắn chắc, đôi mắt xanh như mắt mèo v́ có ḍng máu lai, dân gốc ban Pháp Văn, Đại
Học Sư Phạm Đà Lạt. Anh gặp tôi mừng rỡ hỏi thăm tin tức quê nhà và các bạn cùng
trong nghề dạy học ở B́nh Dương. Tôi cũng mừng lắm v́ gặp lại bạn cũ ở mơi tha
hương, nói:
-Kiệt nè, đừng có lo lần lần rồi tụi ḿnh sẽ thấy các bạn đó ghé vô Bidong nầy
hết cho coi. Ở bên nhà, ai nấy cũng rán t́m đường để đi..
Rồi tôi hỏi:
-Bạn có cách nào giúp tôi t́m một người thân trong gia đ́nh đă vượt biên gần hai
tháng nay mà không biết tin tức. Tôi cũng có nhờ nhắn tin tối hôm qua…
Kiệt sốt sắng nói:
-Sợ không có ghé vô đảo nầy. Nếu có th́ chắc chắn sẽ t́m ra.
Kiệt dẫn tôi vào văn pḥng hành chánh, gặp anh trưởng pḥng tên Phong, lúc trước
cũng là giáo sư dạy ở Pétrus Kư. Phong đưa cho tôi sáu quyển sổ lớn dầy cộm, ghi
danh sách người tỵ nạn theo thứ tự thời gian đến đảo. Xung quanh những ban khác
làm việc rộn ràng, họ ngồi trên các băng bằng cây, đánh máy rào rào. Mặt bàn
cũng bằng cây vá víu sơ sài, những tập vở học tṛ, những cây viết cùng giấy vụn
bừa băi. Bên vách là một cái tủ cây không có cửa dùng để sắp xếp hồ sơ, có một
màn vải trắng úa vàng che phủ bên ngoài… Tôi kiếm ngày tháng rồi lật từng trang.
Lật hoài, lật hoài… măi đến giữa trưa cũng không thấy. Tôi cám ơn Kiệt và Phong,
từ giă hội trường để trở về, trong bụng thắc mắc, lo âu…
Dựa lưng vào gốc dừa nghỉ mệt, tôi nh́n qua bên trái, một dăy nhà tôle dợn sóng,
dùng làm trung tâm y tế của trại. Có một dấu Hồng Thập Tự đỏ sơn ở trước cửa ra
vô. Vào giờ nầy tuy người đă thưa bớt nhưng vẫn c̣n đông lắm. Bất chợt, tôi nh́n
thấy một người quen bên kia đường, đang đi lại. Rơ ràng là nhạc sĩ Lê Thương,
thầy dạy Sử Địa của tôi ngày trước, không ngờ gặp lại ở cái đảo xa xôi nầy. Thầy
Lê Thương cũng y như ngày xưa mập mập, mặt tṛn, mắt sáng, miệng cười tươi, phía
trong có cái răng vàng duyên dáng. Tôi mừng quá, chạy qua chào hỏi:
-Chào thầy, thầy qua đây từ bao giờ. Thầy c̣n nhớ em không?
Tôi mừng hết sức, không ḱm được ḷng nôn nao, hỏi ào ào không kịp thở. Người
thầy dạy học mà tôi hằng kính mến và ngưỡng mộ. Những ngày tôi mới lớn, mới vào
bậc trung học, thầy Lê Thương với mái tóc xanh mướt óng ả, dáng dấp đẹp đẽ đă
gieo vào tâm hồn ngây thơ của tôi lúc đó, niềm say mê, kính phục. Bây giờ thầy
cũng đă vượt biên ở chung một đảo nầy, không vui mừng sao được. Tôi đă đứng
trước mặt mà thầy vẫn c̣n ngơ ngác, đứng im. Vậy là thầy đă quên cậu học tṛ cũ
ngày xưa…
Tôi nhắc lại:
-Ngày xưa, em có học với thầy những năm 1953, 1954 ở trường Nguyễn Trăi, Thủ Dầu
Một, thầy chắc c̣n nhớ, những năm première année, deuxième année…
Thầy Lê Thương của tôi, sau một hồi ngỡ ngàng, lắp bắp:
-Ngộ… ngộ, không piết ǵ hết á, nị nói cái ǵ vậy?
Trời, sao kỳ cục vậy, tôi nh́n lộn người rồi sao, quê ơi là quê! Thầy Lê Thương
nầy không phải thiệt. Ông ta người Tàu, nói tiếng Việt không rành. Lần nầy th́
tôi lắp bắp, nói không ra tiếng:
-Ủa… ủa, xin lỗi, xin lỗi… tôi lộn rồi…
Ông Tàu Chợ Lớn bỏ đi một nước. Tôi đứng há hốc như trời trồng, nh́n theo cái
lưng ông ta cho tới khi không thấy nữa. Sao mà có người giống nhau quá sức,
không phân biệt được. Làm sao mà tôi nhận không đúng thầy Lê Thương? Tự nhiên
tôi nghĩ ra một điều, lầm bầm cằn nhằn, -‘thiệt t́nh, già cái đầu rồi mà c̣n ba
chớp ba sáng, sao không chịu suy nghĩ, hấp tấp nhận lầm, đến phải xin lỗi người
ta’. Ngu ơi là ngu! Thầy Lê Thương tới bây giờ ít ra cũng đă sáu mươi đến sáu
mươi lăm tuổi. Đă trên hai mươi lăm năm xa cách không gặp lại, thầy phải già ra
chớ! Một người sáu mươi mấy với một người bốn mươi tuổi, khác nhau một trời một
vực, sao mà lại lầm như vậy cho được. Th́ ra cái đầu tôi như cái máy chụp h́nh.
H́nh nào nó đă ghi rơ một thời, th́ cứ y như vậy mà nhớ hoài, không thay đổi.
Không bao giờ thay đổi! Tôi vừa tức cười, vừa quê quê, ngó quanh một lượt coi có
ai để ư không, xong rồi đi một hơi về lều, chắc mẹ con Duyên đang chờ cơm.
Vơ Kỳ Điền
(Trích Pulau Bidong Miền Đất Lạ,
Chương 16)
art2all.net
|