Võ Kỳ Điền

 

NHỮNG NGÀY RẤT MỚI #2

 

 

 

          Bên phía khu người Hoa, lác đác có người dựng lều. Cái lều với cây ván mái che đàng hoàng, chớ không phải lều tạm bợ như của tôi với Tư Trần Hưng Đạo, nó chỉ là tấm ny lông trải dưới đất với cái mùng giăng ở trên. Dưới những cây bàng lớn, những cành mọc ngang đầy lá xanh láng mướt, người ta đã dựng lên những lều cây to lớn chắc chắn. Cây ván được lấy từ các ghe mục rã nằm rải rác ở mé nước. Suốt ngày nghe tiếng xà beng, cưa, búa đập rầm rầm.. Người ta giành giựt từng cây cột, miếng ván, gây nhau rầm trời... Tôi bồng Bi đứng dưới nước, thấy người Tàu dựng lều mà nôn. Nhưng suy đi tính lại, tôi thấy không cần phải che lều vì chắc ở đây không lâu. Mùa nầy trời không mưa, vả lại vợ chồng ốm yếu, lại có con nhỏ, làm sao có ván với cột để làm! Thôi, trải tấm ny lông dưới gốc dừa, cái xách tay để trên đầu làm gối, nằm nhìn bầu trời trong xanh hải đảo qua các kẽ lá dừa... cuộc đời sướng như vậy, không sảng khoái lắm sao!

Mấy cái ghe chỉ trong một hai ngày bị cạy gỡ, bây giờ chỉ còn trơ lại cái bộ xương sườn cong queo, cái bánh lái xiêu vẹo. Y như con thú bị cọp ăn, chỉ còn trơ lại đống xương vụn. Ở đời, có nhiều việc ngộ như vậy. Khi cần vượt biển thì nó là cái ghe. Khi cần che mưa che nắng thì nó là miếng ván cây cột để dựng lều. Còn khi không cần gì nữa thì cứ bỏ mặc đó cho sóng gió trùng dương. Tất cả rồi sẽ mục rữa tan biến vô lòng biển cả!
Bửa cái ghe đi biển để phá lấy ván dựng lều ở vài ngày, tôi cảm thấy đó là một phí phạm quá đáng. Cũng y như chế độ Cộng Sản dùng người. Trong đám dân cày lúc nhúc dưới ruộng bùn sình, có biết bao nhiêu nhân tài của đất nước, tinh hoa của dân tộc. Trong khi đó, những người kém cỏi, ít được học hành thì giữ những nhiệm vụ trọng đại, điều hành việc nước. Đất nước ngày một thê thảm, đó là lẽ tất nhiên. Một thi sĩ có tài nịnh hót được làm Phó Thủ Tướng đặc trách Kinh tế thì còn trời đất nào! Hèn chi có một học giả đã nhận xét, nếu một kinh tế gia tập tểnh làm thơ, rủi bài thơ dở tệ thì chỉ tốn có một tờ giấy. Cũng không thiệt hại gì quá đáng. Còn nếu như một thi sĩ mà lại tập tễnh đòi làm Kinh tế thì chắc chắn một điều là cả dân tộc phải ăn bo bo, độn với khoai mì dài dài. Nếu còn có bo bo và khoai để ăn, tới một lúc nào đói quá, chỉ cần mở đài của nhà nước nghe thi sĩ ngâm thơ, cũng đủ no! Giống như ông Tô Đông Pha ngày xưa, khi bụng đói cồn cào, ông bèn nằm dài, ló đầu ra ngoài, há miệng hớp nắng, y như con cóc... cho đỡ đói!

Buổi xế trưa, mặt trời đã nghiêng về một góc, tuy những tia nắng vẫn còn dữ dội. Thằng khi đột Zăm Bri, tay cầm gậy tre, chưn đi lặc lè, cái bóng xiiên xiên đổ dài theo bãi cát trắng đầy dấu chưn. Hắn tìm những người tiêu tiểu bừa bãi để phạt. Phạt đủ kiểu như ở quân trường, hít đất, thụt ống dầu, quay máy bay, pha cát vô nước biển bắt uống. Cái lối phạt tàn nhẫn, vô nhân đạo! Xong rồi hắn ra lịnh cho cả đám, phải đào một hố vệ sinh phân biệt nam nữ ở tận trong sâu. Tay cầm cây gậy dài, hắn quơ vô bên đám dừa, cạnh khu lều nguời đẹp. Một ông người Tàu già, xung phong chỉ huy, tập hợp một số trai tráng tình nguyện thi hành công tác. Tôi bèn bước vô trong đám để đi theo. Không biết làm sao mà người ta còn dấu được rất nhiều dụng cụ như dao, cưa, búa, cuốc, để làm việc nầy. Tất cả kéo nhau đi sâu vô rừng dừa. Qua môt cái trảng hẹp đầy cỏ tranh xanh màu lúa non mọc cao ngang ngực, phải rẽ lối mà đi. Dưới những bước chưn ngập ngừng, thỉnh thoảng tôi đạp phải những trái dừa khô nằm rải rác khắp nơi. Có trái mới rớt, có trái khô queo, cũng có trái đã mọc rể thành cây con. Dây leo rất nhiều, mọc chằng chịt, bò lan khắp mọi chốn. Những thân dừa cao dài suông đuột, vươn lên tận trên cao, phía dưới là hàng ngàn loại cây rừng mọc xen lẫn. Đất mục, ẩm ướt. Lá khô rơi từng lớp dầy. Chỗ nấy không còn thấy cát nữa, mà là đất đen. Ánh nắng đã bị đám lá xanh chặn bớt thành ra nghe ẩm thấp, lành lạnh, âm u. Tôi đứng nhìn cây lá Mã Lai để tìm coi có giống chút gì với Việt Nam. Nhìn quanh nhìn quất, thấy được một bụi nhãn lồng, trái nhỏ còn non. Mấy cây lá xanh bóng, hơi tròn có gân nổi giống như cây điều lộn hột, vì chưa có trái nên không biết có phải hay không. Những dây trầu bà rừng to bằng ngón chưn cái, lá lớn như cây quạt màu xanh đậm, leo uốn vòng theo một cây to, có lá y như lá mít. Những cây cọ thấp mọc thành bụi um tùm, lá hình rẻ quạt, nhiều quá, chỗ nào cũng có.

Ông Tàu già, đứng ngắm nhìn địa thế một hồi, đưa tay chỉ vào một chỗ khoảng khoát. Một bãi cỏ tranh, không có một cây nào khác, chỉ xen vào đó là năm bảy gốc dừa lớn cở vòng tay. Được quá, chỗ nầy khá lý tưởng. Đất coi bộ sạch. Mấy anh bạn sấn vào, tay dao tay cuốc, thanh toán trong chốc lát đám tranh um tùm. Tôi được cắt trong đám đi tìm cây lá. Chúng tôi đi sâu vô hơn một chút. Mấy bụi tre mỡ cao vút, ngọn cong cong dưới ánh nắng thoi thóp buổi chiều. Cây tre suông đuột, gọn gàng da xanh láng bóng, lóng thẳng mà thiệt dài. Tốt quá, chỉ cần năm cây là đủ dùng. Anh bạn cầm cưa, mới cưa vài nhát dưới gốc, cây tre đã ngã dài trên đất. Loại tre tuy dầy cơm nhưng lại dễ cưa. Xong rồi, anh cắt ra từng đoạn nhỏ. Tôi cầm con dao đi rừng, tìm những cây dừa thấp để chặt lá. Lá dừa dùng để che nóc và dựng vách. Khi tre và lá dừa đã khá đủ, chúng tôi è ạch khiêng vác về chỗ cũ. Bãi tranh bây giờ đã trống trơn, quang đãng. Hai cái hố tiêu khá rộng đã đào xong, hình chữ nhật. Đất chỗ nầy khi đào xuống toàn là cát trắng. Đào rất lẹ và thiệt dễ. Hèn chi, chỉ có cỏ tranh mọc được mà không có cây nào khác xen vô. Cả bọn xúm nhau, người dựng cột, người lót nền, người lợp nóc, dừng vách. Chỉ độ một tiếng đồng hồ là xong. Tuy đơn sơ và khá trống trải nhưng nhờ có nó mà vệ sinh trên đảo rất tốt.
Tư Trần Hưng Đạo vừa phủi tay cho sạch đất cát, bụi bặm vừa nói:
-Kể từ chiều nay, bà con yên chí giải quyết bầu tâm sự, khỏi phải coi chừng tụi lính Mã Lai bắt phạt nữa. Khoẻ re...
Thằng Dân gì dó đứng chống cuốc, nhăn răng vàng cười hì hì:
-Không sợ Mã Lai gì đó mà sợ mấy người ở dãy bên kia ngó qua. Anh coi nè, lá dừa gì đó ít quá, trống lỏng, ngó thấy hết trơn.
Rồi nó tiếp tục phân tích:
-Mấy cái lá dừa, hai ba ngày nữa gì đó, nó khô queo lại, kể như hổng có che ‘gì đó’...
Quách Linh Hoạt bèn xen vô liền:
-Cái thằng nầy bày đặt bàn ra tán vô, mày muốn dòm cái gì đó thì cứ sớm mơi tới chiều tối ra đây ngồi. Mầy liệu coi có chịu đựng nổi không?
Cả đám ôm bụng, xúm nhau mà cười. Tiếng cười vang vang trong khu rừng buổi chiều xuống. Thôi thì mạnh ai nấy nói, đường đi về chỗ cắm lều cũng gần, tiếng xôn xao cười giỡn vang tận xuống dưới đó. Tôi nhìn thấy những làn khói xám vươn lên, những gốc dừa ẩn khuất, ngoài bãi còn vài tia nắng cuối cùng. Tôi giao cây dao lại cho ông Tàu già, chạy lúp xúp trên mặt cát nhấp nhô thẳng ra bờ nước. Tôi vẫy vùng một hơi trong làn nước mát, cả ngưởi tỉnh táo hẳn ra. Mồ hôi, bụi bặm, đất cát, trôi đâu mất hết... Buổi cơm chiều Duyên đã nấu sẵn xong xuôi. Đồ ăn kể như không có gì nhưng mà sao ngon quá. Ngon ơi là ngon! Trời sụp tối hồi nào không hay.

Ngoài khơi những đợt sóng lớn chạy vào bờ, đập vào vách đá đen cuối bãi nghe ầm ầm. Đều đặn, tiếng vang động duy nhứt trong đêm hải đảo. Khu dựng lều hầy như không một bóng đèn. Chỉ có ở lều của Phì Lũ với Hủ Tiếu, chập chờn ánh đèn cầy. Từ xa ngó như ánh sáng đom đóm. Nhỏ quá. Trời đã mát hẳn. Đám tụi thằng Lĩnh mập, Chí ròm, Xuân Lan rủ mấy đứa con của Tư Trần Hưng Đạo với tụi con nít xóm dưới quây quần ngoài bãi cát chơi đùa. Chạy giỡn chán chê, con nhỏ Thủy Tiên bày đặt chơi trò tuyển lựa ca sĩ. Tụi con nít đâu biết gì, cũng khoái chí vỗ tay loạn xạ hoan nghinh. Cả đám ngồi quay tròn. Một đứa đứng chính giữa hát ngập ngừng, cô nào cậu nấy hoan nghinh ỏm tỏi. Bi đi chập chững được dắt vô biểu diễn trước đám đông. Thằng bé không biết gì hết, đứng ngó loanh quanh rồi đưa hai cánh tay có ngấn vỗ một mình. Nhờ có ánh trăng lưỡi liềm nên bờ cát sáng mờ mờ, tuy nhìn không rõ mặt nhau. Gió thổi lào rào. Không khí trong mát. Những đọt dừa đen thẳm, điểm trên đó là những ánh sao linh lung. Tôi ngồi thoải mái trên một cục đá lớn bằng cái bàn, bên cạnh có vài bạn ở gần lều. Các bà nắm tay nhau đi dạo trên bờ cát. Đêm về trên đảo vắng, cảnh vật rất nên thơ. Tiếng sóng đập nhịp nhàng vào ghềnh đá, tiếng trẻ con nô đùa, tiếng người lớn nói chuyện rì rào, khiến cảnh biển đêm có gì sống động, tươi mát. Ở ngoài khơi xa thẳm, hình như là đất liền. Có ánh đèn sáng chạy dọc theo đường chơn trời. Có thể là vùng đất Marang mà chiếc BL 1648 đã ghé vào những hôm trước hay chăng? Vậy mà ban ngày nhìn mù mịt không thấy gì hết trơn. Ánh đèn trong đêm đen giữa biển khơi chập chùng là một niềm hy vọng cho những người trên đường phiêu bạt. Tôi quay ra Sơn đang ngồi bên cạnh, im lìm:
-Ê, Sơn nhìn kỹ coi, hình như bên kia biển là vùng đất hôm trước mình định ghé. Anh không có kiếng nên không thấy rõ!
Sơn cũng đang nhìn về phía đó:
-Ừ, ừ, em cũng thấy giông giống. Chắc là ở chỗ đó. Không biết bây giờ anh Chiêu với Hiếu ra sao rồi?
Nghe hỏi, tôi nhớ lại cảnh cả hai bị đánh ở bãi cát Marang, lòng vụt thẩn thờ. Bây giờ cả hai ra sao? Làm sao để liên lạc? Hỏi ai bây giờ? Tôi ngơ ngác ngó quanh thấy từ xa có ánh đèn pin loang loáng. Một người lính Mã Lai mặc thường phục áo sơ mi tay trắng, quần dài đen đang đi tới. Hắn thấy trên bãi cát đông nghẹt người lớn lẫn con nít đang cười nói, chơi đùa. Hắn khoát tay chỉ vô lều, miệng hô lớn:
-Ti đu, ti đu...
Sơn khều tôi nói:
-Chắc nó kêu mình đi vô. Giống tiếng Việt ghê. Ti đu là đi vô, thiệt rõ ràng!
Tôi chưa kịp trả lời, còn đang chần chờ thì một ánh đèn pin quét ngang vô mặt:
-Ti đu, ti đu.
Tôi đứng dậy xỏ chưn vô dép. Mọi người cũng lần lượt về lều. Tôi đi gần chị Kiều, bèn hỏi:
-Chừng nào thằng Adidas lại lấy thơ. Hay là tôi đưa cho chị bây giờ, rồi nhờ chị giao lại?
-Chắc là vào khoảng chín, mười giờ tối. Bây giờ mới tám giờ mà nó bắt đi ngủ rồi. Nếu buồn ngủ thì đưa thơ đây, tôi chuyển dùm cho. Khỏi mất công qua.
-Ti đu là đi ngủ hay đi vô?
Chị trả lời phân hai:
-Tôi cũng đâu có biết. Thôi mình dịch ti đu là đi vô ngủ. Phải chi có cô đẹp đẹp hồi sáng qua, mình hỏi thì biết liền. Coi bộ cô giỏi tiếng Mã Lai quá!
Trời, lại nhắc tới cái cô đẹp đẹp hôm qua. Tôi hỏi tới:
-Chút xíu ông già Adidas lại lấy thơ, chị hỏi dò coi ổng biết gì về mấy người ở tận sâu bên trong rừng dừa, chắc họ cũng tỵ nạn như mình nhưng lạc vô đây từ lâu. Cái điệu nầy mình bị bắt ở lại đây hoài, chắc chết. Chỉ vài ngày nữa là hết gạo, lấy gì mà sống đây! Trong bóng tối mò mò chị dò dẫm về lều, còn rán nhắn lại:
-Ừ, thế nào tôi cũng hỏi cho biết. Thấy người ta, đâm lo cho mình. Sao điệu bộ của ông già Adidas coi cũng sợ thằng Tăn Ku. Nó kiểm soát gắt gao quá, canh mình như canh tù...

Tôi vén mùng chun vô. Mẹ con Bi đã vô trước nằm phía trong. Tôi nằm bên ngoài nhìn ra biển cả tối đen mịt mùng. Bên tai, tiếng sóng rì rầm điệu nhạc trùng khơi bất tận. Gió thổi rào rào trên đọt dừa, cái vách mùng đong đưa. Tiếng sóng vỗ vào ghềnh đá y như tiếng sóng ngày xưa ở Dinh cậu xa xôi, cũng suốt đêm đì đùng vang vang đến nhà ở bờ sông Dương Đông, nơi tôi sinh trưởng. Ở đó, trên một mỏm đá cao, có ngọn hải đăng chớp tắt, chớp tắt cái đốm lửa xanh lè, tôi bắt đầu nhìn cuộc đời bằng con mắt ngơ ngác yên vui, bằng một cõi lòng ngây thơ trong sáng. Bây giờ nằm đây trên miền đất lạ, tuy mừng là đến được chốn bình an nhưng sao lòng nặng trĩu những suy tư khắc khoải lo âu! Vận nước đổi thay, số phận muôn người bập bềnh như bọt nước, trôi nổi đến bao giờ. Đường đời mới bước có chừng phân nửa, phải phủi tay buông xuôi, chập chững đi lại những bước đầu tiên, tôi lao đao như con chim bị rụng hết lông cánh. Bên cạnh hai mẹ con Bi vẫn còn thức. Thằng bé lăn qua lăn lại, chim chíp đôi môi nhỏ, nói cái gì lúng búng trong miệng. Gió bắt đầu nghe lành lạnh thổi tạt vách mùng, phất phơ chạm vào gò má, tôi quay qua ôm gọn Bi vào lòng, y như hồi nhỏ ba tôi ôm tôi trong những đêm sấm chớp mưa giông. Bi chừng thấy ấm, nằm im. Thôi, Bi ngủ đi để ba dỗ cho...

Ù, ơ, ví dầu....
Tới đây dây vắn, gàu thưa
Hỏi người cố cựu, giếng xưa ai đào?

Ờ, ờ, nghe cũng được. Mãi đến bây giờ tôi mới tập ru con ngủ lần đầu, cũng may còn nhớ được mấy câu. Mà sao tự nhiên là câu nầy!
Tôi cố gìm giọng ru thiệt nhỏ, chỉ vừa đủ cho Bi nghe. Bốn bề im lặng, quạnh hiu. Tôi cảm thấy âm thanh tan loãng, mơ hồ, xa vắng...

Ù, ơ, ví dầu...
Giếng sâu có nước ...không gàu...
Hỏi người cố cựu... sao đào giếng sâu?

Võ Kỳ Điền
(Trích Pulau Bidong Miền Đất Lạ, Chương 11)
 

 


 

art2all.net