|
Vơ Kỳ Điền
VÀI NHẬN XÉT
THẾ GIỚI VĂN CHƯƠNG HỒ
TRƯỜNG AN

Nhà văn Hồ Trường An
... Tôi
là một người đầy ham muốn và khá ṭ ṃ, và tin rằng nhiều độc giả cũng có tánh
nầy, hể đọc tác phẩm nào ḿnh yêu thích th́ bất cứ điều ǵ liên quan tới tác giả
cũng muốn biết hết, mà phải biết cho thật rơ mới chịu (cũng như khán thính giả
ṭ ṃ muốn biết đời tư của các tài tử, cải lương, điện ảnh Holywood, phim bộ
Hồng Kông, cầu thủ hockey hay đá banh vậy). Nhớ lại những năm về trước, có lần
tôi viết thơ cho Hồ Trường An (HTA) để điều tra cho kỹ -chơi với bạn lâu lắm rồi,
h́nh dáng của bạn ra sao tôi không h́nh dung ra được, mấy h́nh đăng trên sách
báo, cái th́ mập, cái th́ ốm, mắt mũi không rơ nét, khi nào rảnh làm ơn gởi cho
vài tấm chụp thiệt đàng hoàng, để coi dung nhan mùa hạ (hay thu?) của bạn hiền
ra sao.
Sau đó tôi liền nhận được ảnh của HTA chụp chung với nhiều bạn bên Tây, trong đó
chỉ biết có chị Nguyễn Thị Vinh. Trong h́nh, c̣n thấy ba bốn đấng nam nhi trạc
tuổi trung niên, ông nào cũng giống nhau v́ đen thui, cũng bụng bự bự, không
đoán được HTA đứng ở giữa hay ở b́a. Thôi đành ngắm cô trẻ trẻ đứng gần chị Vinh
v́ cô nầy ốm ốm, cao cao, thon thon và đẹp ơi là đẹp, trong bụng vẫn c̣n thắc
mắc không biết HTA là ông đen nào trong h́nh, dĩ nhiên cũng ṭ ṃ muốn biết cô
trẻ đẹp đó (sau nầy biết tên là Mỹ Nương) quen với bạn ḿnh ở mức độ nào, có
thân thiết nhau không, biết đâu chừng ...
Nhớ có lần học giả Lâm Ngữ Đường đă nói "-một người biết đọc sách xét kỹ tác
giả từ trong ra tới ngoài như người ăn mày lật áo ra để t́m rận. Một số tác giả
luôn luôn kích thích độc giả như một chiếc áo đầy rận của người ăn mày. Ngứa
ngáy là một cái thú trên đời." Đó là ông nói về điểm thích thú của người đọc.
Tôi cũng là một trong hằng ngàn độc giả có được cái đam mê đọc sách đồng thời là
một người bạn bút mực khá gần gũi của HTA trong giai đọan phôi thai của nền văn
học hải ngoại vào thập niên 80, nên chuyện t́m hiểu HTA là một ngứa ngáy đầy thú
vị.
Tôi sở dĩ nói ḷng ṿng như vậy v́ tôi mê văn HTA, muốn biết rơ con người HTA và
cố gắng t́m ṭi nét đặc biệt nào trong bút pháp mà anh đă tạo nên tên tuổi và
t́m được một chỗ đứng vững vàng trong văn đàn hải ngoại nầy. Nh́n cái cây xanh
trĩu lá hoa, ta phải thấy được bên dưới lớp vỏ nâu sần sùi, luân lưu đầy mạch
nhựa non tươi mát. Cây hết nhựa hay không c̣n chút nhựa nào th́ chỉ c̣n dành cho
ḷ sưởi... Cũng vậy chất liệu quí báu để nuôi cây tươi tốt là nhựa non bổ dưỡng,
c̣n chất liệu để nuôi một tác phẩm nghệ thuật là bút pháp và khí hậu ấm áp của
nó, cũng như máu nóng đối với cơ thể. Máu là điều kiện ắt có nhưng chưa đủ, muốn
đủ là phải nóng, điều nầy cần thiết hơn. Cũng vậy muốn trở thành nhà văn phải
chú ư đến trước hết là bút pháp và khí hậu của tác phẩm ḿnh tạo ra, tức là cách
viết đặc biệt của riêng ḿnh.
Với một nhà văn, không có lời nhận xét nào thê thảm hơn khi bị phê b́nh là cách
viết nầy giống giống nhà văn nào đó. Viết văn mà giống người khác là mới tập
viết, c̣n ăn đậu ở nhờ nhà người chớ ḿnh chưa có nhà riêng. Phải cất nhà riêng
cho ḿnh, dù nhà lá hay biệt thự, phải do ḿnh tạo ra. Nhà không có nóc, phải
nương tựa vách nhà hàng xóm th́ chỉ là cái cḥi...
Trước hết tôi muốn nói đến khí hậu ấm lạnh của bài văn, đó là cái vốn căn bản để
làm văn chương nghệ thuật. Muốn trở thành một tác phẩm, bài văn phải ấm áp, đầy
nhiệt t́nh. Dù kỹ thuật có hay, cách viết có khéo, tư tưởng có cao, chữ dùng có
đạt mà khí hậu lạnh tanh th́ xấp giấy có chữ viết tèm lem đó phải chịu nằm ở xó
kẹt nhà kho chớ không phải được đặt trên kệ sách quí.
Nhưng làm sao để tạo sinh khí cho câu văn? Cũng như Chúa Trời tạo ra loài người,
Chúa phải chịu khó thổi hơi nóng cho người đầu tiên được nặn bằng đất sét. Nếu
không truyền cho một ít hơi nóng tự bản thân Chúa th́ con người chỉ là một cục
đất sét có mặt mũi tay chưn nhưng không nhúc nhích. Có nhiều cách tạo hơi nóng
cho tác phẩm, có tác giả dùng đối thoại dí dỏm, hoặc đốp chát tưng bừng gây cho
người đọc cảm giác tươi vui, có tác giả quan sát tỉ mỉ, phân tách chi ly khiến
độc giả ngạc nhiên nhảy dựng lên, có tác giả kiêu kỳ, khinh bạc ngông nghênh, có
tác giả thiệt thà, chất phác, b́nh dị, có tác giả ba trợn, ngang tàng, mỗi người
là một sắc thái riêng tư, không ai giống ai. Nhà văn là thượng đế đầy quyền uy
với nhiều chất liệu sáng tạo, phải biết tận dụng cách thức riêng để tạo sinh khí
cho tác phẩm ḿnh.
Riêng HTA, tôi vẫn thường thấy anh tạo hơi nóng cho tác phẩm, là trong khi sáng
tác, coi độc giả như người bạn thân t́nh để chia xẻ những buồn vui, cùng nhau
tâm sự, rồi lần lần đi đến nhiệt t́nh. Thế giới văn chương HTA không phải là thế
giới nghiêm trang của nhà thờ hay chùa nơi đó tác giả khoát bộ mặt ông cha hay
thầy tu để giảng đạo mong cứu vớt kẻ tội lỗi hoặc khổ đau; cũng không phải là
trường học để thầy giáo phô trương kiến thức uyên bác, giảng bài dạy dỗ cho học
tṛ là độc giả nghe; cũng không phải là chiến trường sắt máu hay chiếu rượu ồn
ào để cho tác giả múa may tung hoành, phô diễn những âm mưu lừa lọc, xăo trá,
hoặc ca tụng thù tạc; cũng không phải là chợ búa mua danh bán lợi để tác giả và
độc giả chia nhau từng mớ chữ nghiă, giành giựt chút danh hăo; cũng không phải
là thế giới của người thành thị giả dạng quê mùa hoặc ngược lại...
Thế giới văn chương của HTA là thế giới của những người bạn thân t́nh, cùng
chung những đau khổ và hạnh phúc, cùng chung những ước mơ và hy vọng, cùng chung
những an ủi và chia xẻ. Anh đă viết ra như vậy và đă sống thực như vậy. Độc giả
từng đọc truyện của HTA, bạn bè từng giao tiếp với An, thân cũng vậy, quen sơ
cũng vậy, An đều coi như bạn thâm giao, đem hết trái tim cùng ruột gan ra mà
cùng nhau chia xẻ buồn vui, không mảy may dè dặt, thủ thế ...
Ở tác phẩm HTA, bất cứ cuốn nào, bài nào, th́ độc giả cũng thấy ở mỗi chữ, mỗi
câu, mỗi thiên, mỗi tiết, ngay cả ở cách đặt tựa của những truyện ngắn, truyện
dài, là những lời thủ thỉ tâm t́nh của tác giả và độc giả. Như có lần trong một
bài tạp ghi viết về những sinh hoạt văn học nghệ thuật ở Montréal, bạn đọc đă
ngạc nhiên khi thấy cái tựa đề lạ lùng "Montréal, một thành phố hăy c̣n trong
mường tượng" Chỉ với mấy chữ ngắn gọn, vậy mà HTA nói được biết bao nhiêu điều,
như muốn kể trước cho bạn đọc nghe anh đang mơ mộng về một phương trời Montréal
xa thẳm, ở đó đang có những người bạn văn, đang chơi tṛ chơi chữ nghiă, có lẽ
rất tưng bừng, phải chi một ngày nào ḿnh đến đó...
HTA đă viết và độc giả theo dơi ‘Chuyện miệt vườn’, ‘Chuyện quê Nam’, ‘Lúa tiêu
ruộng biền’ ‘Đêm chong đèn’’Tạp ghi xanh’ ‘Lá thư mùa thu’ ‘Trên dải tân bồi’..
nói chung những tác phẩm của HTA toàn là những câu chuyện riêng tư vụn vặt của
một người bạn là tác giả rù ŕ rủ rĩ, kể lễ cho bạn hiền, là độc giả nghe, y như
hai người bạn thân đang nói chuyện với nhau, ngồi xổm ở quán cóc hay vĩa hè, bên
một liếp rẩy hay trên một bờ mương rong rêu, bên chiếc cà ràng đất đầy tro bụi,
tất cả xuất hiện trong một không khí đầy ấm áp và nhiệt t́nh.
Họ nói với nhau cái ǵ vậy? Có ǵ lớn lao đâu, toàn là chuyện cà kê dê ngỗng,
chuyện con mẹ nầy thương thằng cha kia, chuyện bà hàng xóm kia đánh ghen cô láng
giềng nọ, chuyện bếp núc làm tôm làm cá, cách kho thịt làm sao cho ngon, cách
phi hành sao cho thơm, về quần áo th́ thứ lănh nào đẹp, loại xuyến nào bền, may
mặc đường kim mũi chỉ sao cho khéo, cách trang điểm của mấy cô mấy bà, với các
lớp kem lót mặt hiệu nào, làm sao cho da được mịn,... Những người bạn độc giả
nầy cũng dễ tánh, ai nấy đều xuề xoà, khi th́ lắng nghe kỹ lưỡng, khi th́ lim
dim mắt nhắm mắt mở, nhiều khi giựt ḿnh ngơ ngác hỏi, bạn kể tới đâu rồi, h́nh
như vụ đánh ghen đó, vụ kho cá bóng kèo kia, rồi vụ nấu canh rau đắng, rau ngổ,
rau tập tàng, vụ ma nhát ở Đồng Chó Ngáp... lần trước đă kể rồi mà.
Tác giả cũng với nụ cười hịch hạc dễ dăi, có ǵ đâu mà bạn phải bận tâm, cứ yên
ḷng mà nghe kể tiếp. H́nh như đức Phật có lần nói, chớ cho bất cứ chuyện ǵ là
quan trọng, đừng để tâm vướng mắc, cứ buông bỏ hết đi, th́ sẽ đạt được hạnh phúc
ngay trong cơi đời nầy. Đời tự nó đă khổ rồi, tại sao lại phải dằn vặt khổ thêm.
Văn chương phải làm cho đời thêm tươi mát đẹp đẽ hơn, đừng nhắc chi chuyện buồn
rầu...mệt lắm.
Thử coi cho kỹ trong đống tác phẩm hàng ngàn quyển đă in ra, nhà văn nhà báo nào
cũng nói thương yêu quí mến độc giả mà ai lo lắng chăm sóc độc giả kỹ lưỡng bằng
HTA không? Tại sao bằng chữ nghiă có sẵn, ḿnh không dọn cho độc giả những mâm
thịt cá ê hề, mời họ ăn cho ngon, thêu may quần áo toàn bằng lụa là để họ mặc
cho đẹp, rồi chịu khó dẫn cả nhà đi coi hát bóng, coi cải lương, lắng nghe họ
căi nhau cho đă đời rồi nh́n họ yêu nhau thắm thiết... HTA cắt nghiă rơ cho bạn
đọc nghiă đen của chữ tiểu thuyết, tiểu là nhỏ mà thuyết là lời nói hay câu
chuyện. Đó là viết những chuyện vụn vặt để thể hiện được cái quan trọng là cơi
ḷng tốt đẹp, trong sáng, dịu dàng, cái t́nh cảm nhân hậu của con người đối với
con người thương mến nhau. HTA đă gởi gấm và đă được độc giả chia xẻ trong niềm
tương thân tương ái, ấm áp thân t́nh.
Như đă tŕnh bày, trong văn giới có tác giả thâm trầm mà khinh bạc, người sắc
sảo đến độ chi ly, người th́ phù hoa óng chuốt, có người ngông nghênh bất cần
đời, người mộc mạc chất phác, người th́ thô kệch...tất cả đều phải thể hiện nét
sắc sảo, ly kỳ của ng̣i bút mong đạt tới nét độc đáo tài hoa của ḿnh, điều đó
khó mà dễ. Nhưng với cách viết giản dị tươi sáng, mà tạo được sự ấm áp thân t́nh
hầu như hiếm lắm và ít người đạt đến được như HTA, tưởng dễ mà thật khó. Nhà học
giả nổi tiếng của Trung Hoa, Lâm Ngữ Đường có lần đă nói: ‘cá tươi không cần gia
vị vẫn nấu được món ăn ngon, c̣n cá ươn th́ phải thêm mắm muối càng nhiều càng
tốt....’
Coi độc giả như bạn thân, HTA đă làm được nhưng chưa đủ, các tác giả nữ công gia
chánh, nhà báo gỡ rối tơ ḷng, trả lời thơ tín, rơ ràng họ đâu phải là nhà văn.
Cũng vậy những vị học lực thâm sâu, kiến thức quảng bác, bằng cấp cao tột, cũng
không phải là nhà văn, họ chỉ là những học giả nổi tiếng. Muốn là nhà văn, như
có lần Mai Thảo đă nói, phải là người giàu có, tha hồ tiêu xài chữ nghiă. Mai
Thảo nói ǵ mà rắc rối khó hiểu quá vậy?
Nếu chịu khó suy nghĩ th́ đúng thiệt, ông ta nói là làm. Nhà văn Mai Thảo vốn là
tay ăn hoang tiêu rộng, phung phí chữ nghiă v́ quá sức giàu có. Quả thật, ngôn
ngữ là để diễn đạt tư tưởng, t́nh cảm. Vốn liếng của nhà văn là ngôn ngữ, nếu
ngôn ngữ nghèo nàn, khô cạn, héo khô, ngọng nghịu...th́ làm sao mà trao đổi, làm
sao mà bàn bạc, diễn đạt. Giàu chữ nghiă có nhiều cách hiểu. Muốn diễn tả một ư
niệm, nhà văn có thể dùng rất nhiều từ để diễn đạt, dùng nhiều cụm từ phụ thuộc
như tĩnh từ (adjectif), trạng từ (adverbe) làm đậm đà thêm ư muốn nói. Đó là
cách thường dùng của các nhà văn Tây phương. Câu văn nhờ đó mà trở nên đẹp đẽ,
mỹ miều, tinh tế và nhứt là diễn đạt được tới cùng tận chỗ chi ly, sâu kín nhứt
của ḷng người. Cách ngược lại là cũng có thể dùng vài từ mà diễn đạt được nhiều
ư, để độc giả tuỳ tŕnh độ học thức và thưởng ngoạn, tự nghiền ngẫm thấm thiá
cái thú vị riêng tư (như cách của các nhà văn Trung Hoa).
HTA đă áp dụng được cả hai cách nhuần nhuyễn. Tuy anh học khoa học (ngành Dược)
nhưng khả năng hiểu biết và kiến thức văn chương Việt Nam và thế giới khá cao,
anh đọc rất nhiều sách và trí nhớ phải nói là như máy điện toán. Trong những thơ
từ qua lại, nhiều khi tôi phải sững sờ tự hỏi làm sao HTA nhớ nổi các mẫu chuyện
vụn vặt xảy ra ở một góc phố nào đó, vào một thời điểm xa lơ xa lắc của quá khứ.
Vậy mà HTA đă nhớ rơ mồn một, kể lại từng chi tiết, tên tuổi của từng nhân vật
tỉ mĩ có ngọn có ngành không sai sót... Chúng ta thử đọc vài đoạn hầu coi mức
giàu có trong kho tàng ngôn ngữ miêu tả của anh:
"-răng năm nào của tôi tuy hô tuy vẫu nhưng vẫn xước mía thật tài t́nh, nhai
ổi ngau ngáu. Mắt tôi tuy hí năm nào hễ khi nhắm mắt ngủ một giấc thoải mái
trong veo. Giờ đây bốn chiếc răng giả xinh như hạt lựu, ngời sắc men mịn bóng,
dẫu tôi có giận ai, chửi ai th́ dám chửi chớ không dám cắn. Mắt tôi thụt sâu để
gương mặt tôi sáng hơn, nhưng đôi mắt ấy biết bao đêm mở dài tráu tráu trong
bóng đêm v́ mất ngủ, và hễ khi tôi nuốt thuốc ngủ vào, đôi mắt vừa nhắm là thấy
ác mộng, dị mộng nườm nượp kéo về. Kiệt (Kiệt Tấn ) nhắc lại đôi mắt cũ, hàm
răng cũ của tôi, nhưng làm sao hắn trả lại cho tôi hai thứ quí báu đó để tôi
nhai xương gà, cạp bắp, gặm gị heo, nhai khô mực, để đêm đêm nhắm mắt là ngủ
một giấc êm suông sẻ, óng chuốt."
Hoặc trong Chân Trời Lam Ngọc:
"-Hôm đó chị mặc chiếc áo dài màu rêu sẩm nổi hoa xám bạc. Màu sắc rất ch́m,
rất nguội nhưng rất trang nhă. Đặc biệt nhất là chiếc khăn choàng hiệu Pierre
Cardin màu đen nổi vạch màu hoàng kim, màu xanh lân tinh và màu đỏ yên chi làm
cho màu áo khiêm tốn và màu son phấn tranh điểm kín đáo của chị nổi bật xôn xao
hẳn lên. Tôi có bảo một anh bạn: bà Diệu Tâm hôm nay chơi trội màu sắc quá."
Qua hai đoạn ngắn trên chúng ta thấy tác giả dùng nhiều danh từ, nhiều tĩnh từ
khiến phong cảnh, nhân vật đầy màu sắc lung linh và h́nh ảnh tràn đầy. HTA
thường viết như vậy và lối viết đó trở thành thói quen. Anh phóng bút thoải mái,
nghĩ sao viết vậy không sửa đổi, trau chuốt gạn lọc, nhờ vậy nên văn rất tự
nhiên. Độc giả chỉ cần đọc vài câu và biết ngay tác giả là ai, không hề lẫn lộn
hoặc sai lầm qua người khác. Đám đông quần chúng dễ đón nhận và cảm thấy gần gũi
v́ chuyện xảy ra y hệt cuộc sống b́nh dị hằng ngày.
Nhưng đôi khi HTA cũng dùng cách thứ hai, "đạt ư ở ngoài lời" của Trung Hoa. Đó
là khi anh cố ư làm văn, khi viết th́ câu văn ngắn gọn, chữ nghiă đơn giản,
không nhiều tiếng phụ thuộc rườm rà, nhưng gây nhiều h́nh ảnh. H́nh ảnh được tác
giả cố ư gợi ra để độc giả tưởng tượng thêm. Một lần trong Lá Thư Mùa Thu
(11.1984) HTA đă than thở: -"Giờ, Troyes đối với tôi là đất trích. Nhưng đất
trích nầy đẹp quá, không có "lau vàng trúc vơ nẫy mầm quanh hiên" như cảnh đất
trích của nhà thơ Bạch Cư Dị. Nhưng tôi biết, bắt đầu giữa thu, cây sẽ trụi hết
lá, cảnh vật sẽ buồn thảm, bầu trời thường thấp xuống và phủ mây màu ch́. Có thể
là vào đầu thu ở đây đẹp. Lá vàng như c̣n rạo rực ánh rạng rỡ. Vào buổi sáng hay
buổi chiều, sương lam mỏng vương vất từ cḥm cây khóm lá. Vào chơi trong rừng
thu như vào cảnh mộng, đến khi trở ra xe th́ áo măng tô đă ẩm nước" .
Thử phân tích đoạn văn ngắn nầy th́ thấy ngay văn tài của HTA. Chúng ta hay bất
cứ ai cũng có thể tả cảnh mùa thu có có lá vàng, có mây đen màu ch́, có sương
lam mỏng, có khí trời ẩm đụt, nhưng với tất cả đường nét đó không nói lên được
điều ǵ, đó là những đường nét chết, miêu tả một cảnh vật không sinh khí... Chỉ
thêm vào mấy chữ cuối ḍng, HTA đă làm cho mọi sự sống động. Tác giả không chỉ
vẽ h́nh ảnh một người lạc loài bơ vơ nơi đất khách, sống hiu quạnh thê lương qua
thân xác bên ngoài mà c̣n vẽ được trong cơi ḷng cảm nghĩ nữa. Con người lưu lạc
đó cũng biết tận hưởng cảnh đẹp như mộng đang có của phương trời Tây. Cái không
khí mùa thu đất Pháp bàng bạc qua văn của Anatole France với h́nh ảnh chú bé
lưng mang cặp sách, nhảy chân sáo tung tăng buổi tựu trường đầu thu ngang qua
công viên Luxembourg, lăng đăng với không khí mùa thu Tô Châu, Hàng Châu của
Trung Hoa ngàn năm trước. Thi hào Tô Đông Pha đời Tống đă viết lời kết trong
Tiền Xích Bích Phú...." khi đồ nhắm hoa quả đă hết, mâm bát bỏ ngổn ngang,
cùng nhau gối đầu mà ngủ ở trong thuyền, không biết vầng đông đă sáng bạch tự
bao giờ. (hào hạch kư tận, bôi bàng lang tạ, tương dữ chẩm tạ hồ chu
trung, bất tri đông phương chi kư bạch)
Người xưa say mèm giựt ḿnh thức giấc, bất giác thấy vầng đông đă sáng bạch.
Người nay tuy đang dạo chơi rừng thu - khi trở ra xe th́ áo măng tô đă ẩm nước.
Hai trạng thái thức ngủ tuy khác mà cảm giác như một. Độc giả cũng bất giác,
ngạc nhiên sững sờ thú vị. Viết ngắn gọn được như vậy là tuyệt bút. Đâu cần phải
có câu chuyện ly kỳ, tâm sự éo le, tư tưởng siêu tuyệt,... mới là văn chương.
C̣n bao nhiêu điều chưa khám phá trong thế giới văn chương HTA? Tôi tin là nhiều
lắm nhưng do t́nh cờ đọc lại xấp thư cũ bạn gởi cho, đâm giựt ḿnh. Một ngày
cuối thu năm 1993 An đă viết ‘-viết về HTA, xin bạn đừng nên, việc ǵ phải
quậy lên cho độc giả chú ư. Tôi khác mụ X... ở chỗ đó, không quá khiêm tốn để tự
hạ ḿnh, không quá hách x́ xằng, không khua động... Cố viết sao cho anh em bằng
hữu vui, rồi ḿnh cũng vui theo là được. Mà Điền tin đi, hễ ḿnh vui là độc giả
vui lây...’
HTA đă viết rành rành như vậy mà thiệt t́nh, tuy tay tôi không cầm bầu rượu nắm
nem mà cũng v́ măng vui nên đành quên mất lời anh dặn ḍ. Trong mớ trí nhớ hổn
độn mù mờ, chợt nhớ hai câu thơ của một người bạn gái văn sĩ :
Người đă nói rồi hay chưa nói,
Người đă nói rồi hay chưa nói ra...
Quả t́nh mấy ông, mấy bà làm cái nghề thi sĩ, văn sĩ thiệt rắc rối, nói tới nói
lui, ṿng qua ṿng lại không ai hiểu ǵ hết trơn. Thực sự đến giờ phút nầy, cũng
không biết tôi đă viết được chút ít ǵ về văn tài HTA, người bạn văn sĩ ở bên
Tây của tôi chưa. Thôi đành kể như là có nói mà chưa hết ư...
VƠ KỲ ĐIỀN
(Văn Học, tháng 5 1999).
art2all.net
|