|
Võ Kỳ Điền
VÂN THÂM BẤT TRI XỨ

Chiếc
BL 1648 phăng phăng rẽ nước, lao vun vút tới trước như con ngựa điên hung hãn bị
bịt hai mắt. Tiếng máy gầm thét lẫn với tiếng sóng vỗ rì rào như vang trong gió
nỗi giận hờn, bực tức. Nó đi mà không còn biết đâu là bến bờ. Bây giờ cả không
gian là một khối nắng chói lòa loang loáng. Trên là trời, dưới là nước. Trời với
nước phản chiếu nhau, trộn lẫn nhau, hắt cái hơi nóng hừng hực lên ghe. Mọi
người đứng ngồi la liệt như đám tàn quân bại trận thảm thương, mặt mày hốc hác,
quần áo nhàu nhò. Tôi nghe đầu óc váng vất. Cả đêm không ngủ rồi tâm trí căng
thẳng từ sáng tới giờ, nỗi thất vọng khiến toàn thân như tê liệt, mấy bắp thịt
hầu như nhão ra. Tôi đưa mắt nhìn lên phòng lái. Cái phòng vuông vức nhỏ xíu đó
đông nghẹt người chen chúc. Loáng thoáng thấy tài công Hốt, tài công mặt rỗ,
Quách Linh Hoạt, Dân thủy thủ, Hủ Tiếu... cùng một đám thanh niên đầu cổ bờm xờm.
Người thì leo lên mui ngồi ngất ngưởng trên đống hành lý, người nắm lấy vách cột
đứng cheo leo. Mặt mũi ai nấy buồn hiu.
Cái bờ biển vô tình hồi sáng, bây giờ đã mất hút trong tầm mắt. Ghe không còn
chạy dọc theo bờ mà lại đâm thẳng ra khơi. Núi non cây cỏ dần dần khuất mất
trong những đợt sóng. Trời, cái điệu nầy Hốt định bỏ Mã Lai rồi, chắc ‘giả’ định
tìm một bến khác. Bến mới nào đây? Singapore hay Indonésia? hay Úc? Nghĩ tới
những quốc gia mới nầy, lòng tôi đâm e ngại rụt rè. Có chắc gì những nơi sẽ đến,
người ta nhân đạo hơn, mở rộng vòng tay đón tiếp người tỵ nạn. Rồi sẽ đi nữa, đi
nữa... Hình như ở thời đại kỹ nghệ máy móc nầy, tìm một cõi lòng nhân đạo hơi
khó khăn!
Bất thình lình trong lúc không mong không đợi, có một chiếc tàu sắt sơn toàn màu
đen tuyền, từ đâu không biết, vụt đến chạy theo ghe. Chiếc tàu nầy lớn hơn chiếc
BL 1648 chút xíu, trang bị đầy máy móc chi chít đặc nghẹt trong khoang không một
chỗ chen chưn, chạy thiệt nhanh và lướt sóng thiệt khéo. Chắc là loại tàu kéo
hay tàu máy của dàn khoan dầu. Trong chớp mắt nó cặp sát. Những đợt sóng do nó
tạo ra đập mạnh vào thân ghe, khiến chiếc ghe chòng chành dữ dội. Lá cờ trăng
lưỡi liềm với các sọc đỏ nằm ngang bay phần phật trong gió. Đúng là cờ Mã Lai.
Từ trong khoang một người Mã to lớn chui ra, đưa tay ra ngoắc tài công Hốt ra
dấu bảo theo, sau đó chạy trước dẫn đường. Chiếc BL 1648 như người mù mất phương
hướng, bây giờ tự nhiên có người đến dắt đi, mừng rỡ bám sát.
Trên ghe niềm hy vọng làm tươi tỉnh những gương mặt rám đen héo úa. Những ánh
mắt mệt mõi bắt đầu long lanh nhìn theo chiếc tàu lạ. Trưa nay gió thiệt to và
sóng thiệt cao. Chiếc dẫn đường lướt sóng phăng phăng, chiếc theo sau rán hết
sức để bám sát, tiếng máy gầm rú lên từng hồi. Có nhiều đợt sóng lớn đánh tạt
vào mạn ghe, nước văng tung toé lên cả chỗ ngồi. Chiếc tàu nầy máy mạnh quá.
Biển trưa nay động dữ dội mà trông nó vẫn vững vàng, hai cái hông bè ra đè trên
sóng mà đi. Lâu lâu người thuyền trưởng Mã ló đầu ra phòng lái, cười cười tỏ dấu
thân thiện rồi đưa tay chỉ về phía trước. Tôi đoán chừng chắc đâu đây có cái đảo
nhỏ dành riêng chứa người tỵ nạn do Liên Hiệp Quốc bảo trợ, các đài truyền thanh
ngoại quốc thường nói đến. Lạy trời cho đúng là nó. Cái đảo nhỏ bên bờ Mã Lai...
niềm hy vọng của rất nhiều người và của riêng tôi. Nó là nỗi chờ đợi, trông
ngóng ước mơ...
Chừng độ một tiếng đồng hồ sau tôi nhìn thấy một hòn đảo in bóng xam xám trên
nền trời trong vắt. Lại gần hơn, gần hơn nữa... Đảo hiện rõ trong tầm mắt. Cây
cối xanh rì, núi non chớn chở. Thằng Dân thủy thủ đứng cheo leo trên mui ghe,
miệng la chói lói vang dội:
-Bà con ơi đảo dừa, đảo dừa...
Cái thằng thiệt lanh tay lẹ miệng, chưa gì hết mà đã dám đặt tên cho cái nơi sắp
đến, làm như đảo nầy không có cây gì khác. Mà cũng đúng thiệt. Những ngọn dừa đã
hiện rõ dưới bầu trời nắng cháy như những chiếc dù xanh non. Trên đảo chỉ thấy
toàn là dừa. Dừa mọc từ bờ nước trở đi, cây nầy san sát cây kia, nhiều vô tận
mọc tuốt sâu bên trong. Chỗ nào cũng thấy những thân dừa lớn như cây cột cao vút
suông đuột. Người thuyền trưởng Mã tốt bụng bên chiếc tàu đen đưa tay chỉ vào
đảo, rồi khoát tay từ biệt. Chỉ trong vòng vài phút ngắn ngủi chiếc tàu mất hút
sau những ghềnh đá chập chồng, chênh vênh gie ra một góc biển. Ôi! giữa những
cõi lòng vô tình cũng còn có những trái tim nhơn ái.
Chiếc BL 1648 từ từ tiến sát vô bờ. Bãi cát trắng phau phau. Rừng dừa xanh ngăn
ngắt. Hình như là đảo hoang. Không thấy một làn khói, một mái nhà, một căn lều
nhỏ, một dấu vết gì chứng tỏ có sự sinh hoạt của con người. Vậy thì cái đảo nầy
đâu phải là nơi chứa người tỵ nạn. Tôi ngơ ngác tự hỏi. Nhưng dầu phải hay không,
cũng không quan trọng. Cái quan trọng nhứt là được đặt chưn xuống đất rồi thủng
thẳng tính nữa. Duyên cũng vừa nghĩ tới ý đó :
-Mình vô một đảo hoang, không có nhà cửa gì hết !
-Có lẽ vậy mà tốt, tạm ở vài ngày rồi tìm cách liên lạc với Hồng Thập Tự hay
Liên Hiệp Quốc, chớ nơi thị tứ đông người thì thế nào cũng bị rắc rối như hồi
sáng. Trên ghe đông người quá, khó xoay trở... Nhắc tới cảnh buổi sáng tôi vụt
nhớ tới hai bạn Chiêu, Hiếu bị bỏ lại trên bờ đất lạ. Không biết tình trạng bây
giờ ra sao? Một cảm giác buồn buồn xót thương trộn lẫn với một chút lo lắng về
cái nơi sắp tới. Vô một đảo hoang? Lấy gì mà ăn. Số thực phẩm trên ghe chỉ có
tám bao gạo, mấy ngàn lít nước phải chia cho ba trăm năm chục người. Cầm cự được
mấy ngày?
Tôi vụt nghĩ tới rừng dừa trước mặt, yên tâm không lo nữa. Nếu hết gạo thì còn
cả muôn triệu cây dừa kia, không lo đói. Nước dừa, cơm dừa, cổ hủ dừa, cái nào
ăn cũng được. Trong truyện Một Ngàn Lẻ Một Đêm có chuyện anh chàng Sinh Bá lọt
vô đảo của bọn người khổng lồ, được cho ăn dừa mỗi ngày để cho thiệt mập. Sau đó
chúng lựa người nào mập nhứt mà ăn thịt. Hơn nữa gần đây có ông Đạo Dừa từ nhỏ
tới lớn sống toàn bằng dừa. Ông ta sống được thì mình cũng sống được. Biết đâu
đắc đạo mấy hồi! Tôi sẽ xin Tư Trần Hưng Đạo vài cái lưỡi câu, đi câu thêm cá
tôm ngoài biển. Đảo nầy vắng vẻ chắc cá cua sò ốc nhiều.
Bãi cát trắng tinh chưa có một dấu chưn người, chạy dài tạo nên một cái vịnh
hình vòng cung rất đẹp. Bờ cát thoai thoải dốc lài ra tận xa, thiệt là lý tưởng
cho ghe ủi bến. Hốt thong thả từ từ lái đâm thẳng vô. Trên trời năm ba cánh hải
âu chao mình liệng qua liệng lại trước mũi ghe mà nhìn xuống. Nó nhìn chúng tôi
ngạc nhiên, tôi nhìn thấy nó, mừng rỡ. Anh bạn Quách Linh Hoạt từng nói, đi biển
cứ mong gặp được cánh chim, biết là sắp đến được đất liền. Huống chi là đất liền
trước mặt. Tôi sắp được bước chưn lên.
Dưới những tàn dừa im mát tôi sẽ che một cái lều nhỏ lợp bằng những lá dừa. Vợ
chồng con cái sẽ chun vô sống qua ngày để chờ người cứu vớt, y như ngày xưa, hồi
nhỏ chơi trò đám cưới lợp lều bằng lá đủng đỉnh. Bi sẽ lấy hộp lon sữa bò đi
gánh nước nấu cơm, tôi sẽ đi chặt lá dừa để làm nóc làm buồng nhứt là làm một
cái cổng cho đẹp. Duyên vô trong rừng hái hoa dại để trang hoàng. Tôi còn mong
gì hơn...
Nhưng giấc mơ của tôi nửa chừng bị ngưng lại. Khi chiếc ghe sắp đụng bờ cát dưới
những tàn dừa rậm rạp có hai người lính Mã Lai mặc quân phục rằn ri cầm súng
chạy vọt ra dáng điệu hầm hừ. Ở trên ghe nhìn thấy cả hai nhỏ xíu như đứa con
nít mười tuổi. Họ đưa súng bắn rầm rầm, đạn bay veo véo. Trời ơi, tụi nó bắn
thẳng vào ghe. Nguy quá, mọi người sợ hãi, nằm rạp xuống sàn. Tôi vừa run, vừa
lầm bầm “cái xứ gì dã man mọi rợ! Hồi sáng đánh người, bắt người chưa đủ, bây
giờ lại bắn trực xạ như vậy.” Sau một loạt đạn, cả hai quơ tay quơ chưn la lối
đuổi ghe ra. Hốt do dự, ngừng lại. Trên bờ, họ chuẩn bị nạp hai băng đạn mới.
Hốt liền cho ghe quay mũi, nổ máy lớn chạy đi luôn. Cũng may, loạt đạn đầu chúng
chỉ bắn dọa, đạn bay cao trên đầu nên không ai bị thương. Tuy vậy mọi người đều
bị một vết thương trong lòng. Vết thương buổi sáng chưa kịp hàn miệng thì bây
giờ lại bị rách toang thêm. Ôi, đáng thương cho cái kíếp ăn đậu ở nhờ, bị người
xua đuổi tàn tệ không nương tay. Tôi vừa buồn vừa tủi. Khi không bỏ nhà êm cửa
ấm ra đi chầu chực xin xỏ nơi đất lạ quê người để bị đuổi xô hất hủi. Tại ai?
Tại ai mà chúng tôi biến thành những kẻ đi ăn mày tình thương của kẻ khác, lang
thang tận góc biển chưn trời như vầy. Không ngờ trong đời tôi lại lâm cảnh éo
le, lở khóc lở cười. Chắc Hốt cũng cùng chung một tâm trạng nên tôi nghe trong
tiếng máy ghe nổ ầm ầm rền vang kia có pha lẫn nỗi tức tưởi nghẹn ngào. Lại một
lần nữa, chiếc ghe bỏ thêm một bến lạ mà đi...
Ghe tăng vận tốc đổi hướng vòng lên phía trên đảo. Cây cối cảnh vật chạy ngược
về sau. Vừa qua một vịnh biển hình cánh cung cách đó chừng vài cây số có một cầu
tàu thiệt lớn, được cất gie chồm ra ngoài bờ nước xa. Cầu xây bằng thép sơn màu
xanh đậm, nguy nga đồ sộ. Bên cạnh cầu, một chiếc tàu sắt, lườn đen, thành sơn
màu trắng toát. Nó lớn như một toà nhà năm sáu từng cao. Cái ống khói lớn như
cây cột vĩ đại, sơn hàng chữ MING KONG theo chiều dọc từ trên xuống dưới, cùng
lá cờ Singapore bay phần phật trong gió. Trên chiếc boong cao vút có mái che,
sáu bảy người thủy thủ Trung Hoa quần áo màu mè, tóc đen dài phủ ót, cùng một
người thuyền trưởng người da trắng to lớn, râu ria bó càm, đứng vịn lan can tò
mò nhìn xuống đám người tỵ nạn đang chen chúc dưới ghe. Thấy họ thảnh thơi mà
tủi thân. Cái ghe nhỏ như vầy chứa trên ba trăm người, còn cái tàu kia, nó lớn
hơn gấp mấy chục lần, vậy mà chỉ chứa có mấy người trên đó. Họ tha hồ tắm rửa,
ăn uống đi tới đi lui. Chiếc tàu nầy bên trong ít ra cũng có năm bảy từng, chắc
có quầy rượu, sàn nhảy đầm, sân đá banh, hồ tắm... Nhìn mấy bộ bàn ghế bằng mây
lớn để dọc theo lan can tàu thì biết. Y như hình chụp trong các quán rượu sang
trọng... bên Tây! Tôi nghe chưn cẳng tê rần, mấy ngón ngo ngoe hết được, ngồi
quá lâu bị vọp bẻ mất hết cảm giác. Đã ba ngày, ba đêm chịu cảnh bó gối như vậy,
tôi thèm một khoảng trống chỉ cần đủ để ngã cái lưng ra một chút, một chút xíu
thôi. Chắc ở trên đó, mấy người thủy thủ, mỗi người có giường nệm khăn lót trắng
bong, có bồn rửa mặt, có tủ lạnh chứa đồ ăn, có ti vi để coi mỗi tối. Phải chi
mình được lên, không cần nhiều, chỉ xin một chỗ nào đó cũng được, ngã đại cái
lưng xuống sàn, nằm dài ển ngược xương sống, thẳng chưn ra một cái, nhắm mắt lim
dim sảng khoái. Trời ơi! chắc là đã lắm! Bất cứ chỗ nào cũng được mà, từ đầu mũi
tới cuối lái rộng thinh thinh.
Hốt cho ghe cặp sát vào hông tàu. Chiếc tàu cũng cón khá mới. Vách cao dựng
ngược như vách thành sừng sững, những đốm rỉ sét ăn loang vàng ẻo. Ở các mối hàn,
sơn tróc nhiều mảng lớn. Tàu chừng như đã hết hàng hóa nên đáy nổi lên cao. Nó
lớn quá, nước trưa nay dâng cao sóng vỗ ầm ầm, nó vẫn im lìm thong dong, không
lay động. Trong khi đó, chiếc BL 1648 nhồi lên hụp xuống muốn chóng mặt. Nhựt
Bổn từ trong khoang ghe mò ra đứng trước mũi, ngước cái đầu sói lên tàu, dùng
tiếng Trung Hoa để liên lạc. Ông thuyền trưởng dùng tiếng quan thoại nói khá sỏi
và rành mạch. Hai bên hiểu nhau dễ dàng. Đại khái ông nói luật hàng hải không
cho phép vớt người trên ghe còn tốt và đang ở trong hải phận Mã Lai. Ông chỉ có
thể giúp đỡ bằng cách cung cấp nước, dầu cùng thực phẩm... Cuối cùng ông chỉ cho
Nhựt Bổn vị trí đảo Bidong có trại tỵ nạn lớn lắm, từ đây đi chừng chín hải lý
theo hướng ba trăm mười độ thì thấy. Từ dưới nhìn lên, thấy ông ta nói hàm râu
bạc rậm rì bó quanh càm rung rung, cánh tay quơ quơ, tôi có cảm tưởng là một
linh mục Tây Phương đang giảng đạo, tụi tôi là những con chiên ngoan.
-Cứ đi đi sẽ gặp Pulau Bidong dễ dàng. Ở đây tụi lính Mã Lai thấy bất tiện lắm.
Có gì cần thêm thì tôi sẽ giúp cho...
Đứng cạnh ông mấy người thủy thủ quăng xuống ghe vài bịch thuốc lá, bánh ngọt,
chocolat, kẹo...
Ôi! Thêm những cõi lòng nhơn ái. Nếu mọi người trên cõi đời nầy đối đãi nhau
lịch sự như vậy thì quả đất nầy thiệt là thiên đường.
Tôi rán lắng tai nghe, hiểu được lỏm bỏm. Mừng quá! Pulau Bidong hải đảo nhiệt
đới, Pulau Bidong miền đất lạ, nơi ước mơ của người tỵ nạn bơ vơ. Nó ở gần đâu
đây, loanh quanh trong vùng biển nầy. Vài giờ nữa tôi tôi sẽ đặt chưn lên tới đó,
bắt đầu những ngày sống tự do thoải mái ở vùng đất mới. Tôi sung sướng gọi nho
nhỏ Pulau Bidong, Pulau Bidong. Mấy tiếng nghe thiệt êm ái như ngày nào thủ thỉ
tên ai...
Nhựt Bổn sau khi hỏi thăm kỹ lưỡng đường đi nước bước, lom khom vịn mui ghe chun
vô khoang. Thấy cảnh ông ta đầu sói sọi, muôn dặm lặn lội đến đây hỏi thăm đường
người thuyền trưởng lạ, bất giác tôi nhớ bài thơ cổ. Bài thơ ngắn chỉ có năm chữ
bốn câu:
Tùng hạ vấn đồng tử
Ngôn sư thái dược khứ
Chỉ tại thử sơn trung
Vân thâm bất tri xứ
Tạm dịch thì như vầy. Dưới gốc tùng hỏi chú tiểu đồng, thầy em đâu? Thưa rằng,
thầy tôi đi hái thuốc trong núi nầy. Không xa lắm, chỉ có điều mây mù nhiều quá
nên không biềt chỗ nào đó thôi. Chỉ tại thử sơn trung, vân thân bất tri xứ. Mây
phủ dầy đặc nên không biết ở nơi đâu? Ôi! mây nào giăng kín bưng bưng lòng người
dân Mã, mây nào mang mang lòng người tỵ nạn thê lương, mây nào mù mịt thảm sầu
quê hương tù ngục? Chỉ cần vén được mây đen thì thấy được trời trong xanh ngăn
ngắt. Nhưng phải làm sao để mây tan? Đó là dấu hỏi lớn cho một kiếp người.
Võ Kỳ Điền
(Trích Pulau Bidong Miền Đất Lạ,
Chương 8)
art2all.net
|