Đặng Ngọc Thanh Hải

 

NHỚ MÁ

 

8. SỬA GIÀN BẦU VÀ LẠI TÉ LÀM MÁ HẾT HỒN

          Ăn sáng xong, Má con tôi bắt đầu sửa lại dàn cây phía sau nhà. Bộ khung dàn cây đã được làm khá chắc chắn với 4 cây chống là 4 cây cọc sắt làm hàng rào của quân đội, được néo quanh bằng dây thép gai. Hai cây phía trong được đóng dính vào tường nhà, còn hai cây phía ngoài được chôn gần mép nước. Có lẽ do tàu bè chạy qua lại nhiều nên sóng làm cho phần đất chôn hai cây phía ngoài trôi dần, cây nghiêng xuống và dàn cây cũng ngã theo xuống nước. Tôi cẩn thận nâng cây sắt bên phải lên, lấy đá chèn bên dưới rồi dùng búa nện cho đá lèn dần xuống gốc trụ. Sau đó đóng thêm hai cây gỗ sát cạnh cây sắt rồi lấy dây thép buộc quanh.

Khi nâng cây sắt bên trái lên, tôi phát hiện ra khuất sau đám lá xanh rậm rì là hai trái nhỏ bằng cỡ ba ngón tay. Tôi reo lên: “Má ơi! Cây bí nhà mình có trái rồi Má nì!”.

Má đeo kính vào, đến gần nhìn hai trái nhỏ như hai quả dưa chuột, rồi nhìn tôi, cười:

“ Ông Cử ơi là ông Cử. Đây là cây bầu chứ mô phải cây bí!”

Tôi ngớ ra: “Ủa, con tưởng là cây bí đao chớ! Mà bầu răng không có cái eo hả Má?”

Má lại cười, “Có hai loại bầu con ạ. Bầu ni là bầu sao. Khi mô trái lớn, vỏ có đốm như ngôi sao. Bầu ni để nấu canh hay xào. Còn bầu eo thường dùng làm bầu nậm đựng rượu. Mai mốt con lên Ban Mê Thuột sẽ thấy đồng bào Thượng dùng bầu ni, phơi khô để đựng nước.”

Tôi vớt vát cho đỡ xấu hổ: “À, con nhớ rồi. Bầu ni ngoài Huế nhà mình hay nấu canh với tôm thêm chút ruốc vô là ngon tuyệt cú mèo, phải không Má? Nhưng mần răng Má biết nhiều về rau quả hay rứa?”

Má gật gật đầu. “Ừ, con không nghe người ta hay noái ‘râu tôm nấu với ruột bầu …’ à?”

Rồi không đợi tôi xác nhận, Má hỏi tiếp: “Con có biết ngày xưa ông Ngoại ra làm tri phủ tận ngoài Hoằng Hóa, Thanh Hóa không?” Và trong khi tôi đang chăng thêm mấy dây thép ngang dọc để dây bầu có chỗ để leo, Má nhỏ nhẹ kể cho tôi nghe về dàn bầu, bí, về các loài cây trái “vườn nhà mình ở xứ Thanh”. Nhìn đôi mắt Má mơ màng, tôi biết Má đang nhớ ông bà ngoại, nhớ thời thiếu nữ của mình và nhớ một đàn bảy chị em gái một thời sum vầy quanh ông bà ngoại. Có phải vì căn nhà vườn nhiều cây trái đó mà ông ngoại tôi chọn các loài hoa, trái để đặt tên cho các con gái mình?

“Con có nhớ dàn mướp nhà ông Bẹo sát hàng rào nhà Chị không?” Má hỏi. “Dây mướp leo kín hàng rào, leo quanh cả lên cây nhãn nhà mình. Nhà mình không ăn mướp nhưng nhìn những cánh hoa vàng rực một góc vườn cũng thích.”

“Dạ nhớ chứ Má.” Và trong tôi hình ảnh mấy quả mướp lủng la lủng lẳng trên cây nhãn, khô dần chuyển từ màu xanh lục sang mầu nâu sẩm và chúng tôi lấy sào khoèo xuống, lột lớp vỏ, phơi khô xơ mướp để dành. Và tôi như đang cảm nhận được những miếng xơ mướp khô ấy mềm mại trong tay mình, mỗi khi được dì Huệ cho phép nghịch tay vào thau nước vo gạo đầy cám đục ngàu để rửa sạch vết bám dầu mỡ trong chồng chén dĩa đầy ắp trong những ngày giỗ ông bà ngoại, cả dòng họ tụ tập đông vui nơi căn nhà số 5 Cường Để đầy ắp kỷ niệm tuổi thơ và những đêm ngồi quanh nghe ông chú kể chuyện ma vừa thích, vừa sợ đến nỗi nửa khuya mắc tiểu, phải gọi cả nhà dậy mở đèn sáng trưng mới dám ra nhà vệ sinh bên cạnh bể nước ở vườn sau.

Loay hoay cả hai, ba tiếng đồng hồ, tôi mới buộc xong các sợi dây thép để tạo thành những ô bàn cờ cho dàn bí. Khi leo lên đứng trên chiếc ghế đẩu bằng gỗ kê sát mép nước để buộc mối dây cuối cùng, tôi bỗng phát hiện ra, phía xa xa bên kia là một chiếc cầu với kiến trúc rất lạ mắt. Mấy vài cầu thanh nhã và giữa hai chân cầu là một thanh đỡ hình bán nguyệt, nét cong mềm mại, duyên dáng để những chiếc thuyền lững lờ trôi xuôi bên dưới.

“Ô chao ơi, đẹp quá! Má ơi! Bên tê có cái cầu chi mà đẹp rứa, Má?”

Má nheo nheo mắt nhìn theo hướng tôi chỉ và chậm rãi trả lời: “Cầu nớ bắt qua Sở Thú Sài gòn đó con. Ngày trước có thể đi qua cầu ni được nhưng chừ thì bị chận lại rồi.”

“Tiếc quá Má hí! Cây cầu đẹp như ri mà không cho qua lại, uổng thiệt!”

Tôi vừa ngoái đầu nhìn cây cầu, vừa nhón chân, vói tay buộc nốt mối dây thép cuối cùng vào dây kẽm gai mà quên mất mình đang đứng trên chiếc ghế đẩu bằng gỗ kê sát mép nước. Cái thế đứng chênh vênh cọng thêm nền đất mềm sát mép nước làm một chân ghế lún xuống, ghế nghiêng sang một bên và tôi ngã nhào xuống đất. Cũng may tôi kịp níu sợi dây thép trước khi buông tay ngã xuống nên cú ngã không gây tổn thương gì. Nhưng nghe tiếng tôi té đánh uỵch một phát, Má hoảng hồn, đứng sửng, miệng lắp bắp: “Ui chao, răng rứa? Có sao không con?”

Má dợm bước tới đỡ tôi dậy: “Có bị dây thép gai quẹt chỗ mô không con?”

Tuy cũng hơi ê ẩm, nhưng sợ Má lo, tôi vội vàng đứng lên, phủi đất chỗ đũng quần và kéo vội tay áo xuống che vết xước. “Không răng mô Má.”

Má bước tới, kéo tay áo tôi lên, thấy vết trầy rươm rướm máu, Má la tôi: “Chảy máu đây nì mà cứ biểu là ‘không răng’. Để Má gọai chị Khánh về chở đi tiêm phòng ‘tê-ta-nốt’ hí.”

Để Má yên lòng, tôi đùa: “Má lo chi! Lúc nhỏ té cây ổi nhà chị Tường, máu chảy tùm lum mà có tiêm phòng ‘tê-ta-nốt’ chi mô. Rứa mà vẫn sống khỏe tới chừ. Không răng mô Má.”

“Thôi cái dàn bầu như ri cũng tạm được rồi.” Má nói. “ Nghỉ đi, vô nhà Má xức thuốc đỏ cho!”

Tôi thu dọn đồ đạc, mang vào nhà thì đã thấy Má để đủ thứ trên cái ‘táp-đờ-nuy’ cạnh giường Má: chai ‘ăn-côn’, chai thuốc đỏ, cuộn bông Bạch Tuyết, cuộn băng vải, cuộn băng dính, cái kéo và cả cái ‘panh’ để kẹp bông nữa. Tôi chưa hết ngạc nhiên về điều này thì Má đã ấn tôi ngồi xuống giường Má, biểu tôi xăn tay áo lên rồi bắt đầu rửa sạch vết thương cho tôi bằng ‘ăn-côn’. Vừa rửa Má vừa thổi nhè nhẹ: “Có rát không con?” Tôi lắc đầu, ngồi yên tận hưởng sự chăm sóc dịu dàng của Má và mắt lại ươn ướt.

Sau này khi đã nghỉ hưu, con cái sống ở xa, đôi lần bắc thang tỉa mấy nhánh vải nhỏ lòe xòe che mấy bụi lan bên dưới, hay kê ghế nâng lùm cây chuỗi ngọc lên để cho nhà cửa thoáng đãng hơn, tôi lại bị té và khi ngồi tự rửa vết thương tôi lại nhớ Má, thương mình nhưng không còn rươm rướm nữa. Hình như … nước mắt đã chảy ngược vào trong …

 

 

Xem tiếp phần 9
 

thân quen

art2all.net