|
9. BỮA CƠM VỚI NHỮNG MÓN MIỀN NAM
GỌI TÔI VỀ VỚI CỘI NGUỒN Má rửa xong vết thương cho tôi thì chị Tư (?) cũng đã dọn cơm xong và vào “mời Bà và cậu xuống dùng bữa”. Hình như ở Sài gòn dạo ấy đã có dịch vụ giúp việc nhà theo giờ vì tôi chỉ thấy chị Tư chỉ xuất hiện đâu chừng vài tiếng đồng hồ trong ngày chứ không ở lại hẳn như các o Sen, o Hiền, o Tình, o Tự đã từng giúp việc nhà cho Ba, Me tôi ở Huế. Tôi nhớ hình như là bữa trưa hôm ấy có món tôm thịt kho với thơm theo kiểu miền Nam để lấy nước chấm rau sống, mướp đắng (mà chị Tư gọi là ‘khổ qua’) xúc trứng vịt, canh chua cá lóc và một rỗ rau sống đầy ăm ắp rau diếp cá và xà lách. Đói bụng, lại gặp thức ăn ngon tôi cắm đầu ăn hết một chén cơm với món thịt, tôm kho và mướp đắng xúc trứng. Lúc đưa chén xin Má thêm cơm, tôi mới phát hiện nãy giờ Má vẫn chưa cầm đũa. - Ủa, răng Má chưa thời cơm? - Con cứ ăn cho no đi. Má không thấy đói, với lại cũng lỡ bữa rồi. Lúc đó tôi mới chợt nhớ ra là cũng đã gần hai giờ chiều rồi. Sau này khi đã qua tuổi 50, tôi mới cảm nhận được cái cảm giác không còn thấy ngon miệng khi phải ngồi ăn vào thời khắc đã ‘lỡ bữa” và hiểu rằng lúc ấy, không chỉ vì lỡ bữa mà chắc hẳn Má đang lo cho anh Ái đang hành quân đâu đó trên đầu nguồn sông Hương, hay quanh vùng Ái tử đầy bom mìn, nhớ anh Phước đang đóng quân ở một chốt nào đó đầy nắng, gió và cát nóng ở Cam Ranh và thương chị Hà và Cường đang sống xa vòng tay mẹ ở xứ Huế quê nhà. Tôi cầm chén cơm Má bới, lòng cũng bồi hồi nhớ các anh chị em mình. Sau này, trong những bữa cơm ‘lỡ bữa’ một mình khi vợ tôi phải về Sài gòn tái khám sau mỗ khối u ung thư đại tràng, cái cảm giác bồi hồi nhớ Má, nhớ những bữa ăn gia đình đông đủ ngày còn thơ ở Huế, nhớ những bữa ăn gần đây vào những ngày Tết – dịp duy nhất trong năm có đông đủ các con. Gắp một nhúm rau sống, chan một tí nước canh chua vào chén, tôi chậm rãi lùa cơm vào miệng. Lúc vị thơm, hơi chua chua của rau diếp cá tan trong miệng, và vị ngọt bùi của canh chua cá lóc nấu theo kiểu miền Nam bỏ nhiều đường rất hợp với khẩu vị của mình ngấm vào đầu lưỡi, tôi chợt nhớ những ngày chúng tôi từ Huế vào Vũng Tàu khi dự Đại hội Sinh viên các trường Đại học năm 1973. Buổi chiều đầu tiên nhà hàng chiêu đãi chúng tôi món đặc sản miền Nam “lẫu cá lóc” này ăn kèm với rau sống, chúng tôi đã nhăn nhó, khổ sở khi cả khứu giác lẫn vị giác lần đầu tiên tiếp xúc cái vị béo ngậy của mỡ cá lóc và mùi “tanh muốn oái” của rau diếp cá. Thế mà đến ngày cuối cùng chúng tôi lại là nhóm thực khách sinh viên yêu cầu nhà hàng tiếp thêm đến hai ba lần nước cốt lẩu cá này và ba bốn rỗ “cái thứ rau chi mà tanh muốn oái rứa hè” ni cho bàn ăn của mình. Khi tôi kể lại cho Má nghe cảm nhận ban đầu này, Má cười nhắc tôi “Ông nội con là người miền Nam đấy. Mộ tổ nhà mình còn ở Biên Hòa. Hôm trước Ba con vô Sài gòn không chỉ để thăm Má và chị Khánh mà còn về Biên Hòa tìm mộ tổ đấy! Trong gen tụi con có máu Nam bộ thì mần răng không thích món ăn miền Nam được? ”. Sau 1975 Ba tôi cùng anh Hồ lại cất công về Biên Hòa tìm mộ tổ bị tàn phá sau chiến tranh để sửa sang, xây đắp lại khang trang. Khi về Huế, Ba tôi đã lập bản đồ chỉ đường đi và địa điểm mộ và giao cho em Thắng “đi một chuyến cho nhớ đường sau này còn đưa các anh chị vào thăm.” Và Thắng đã mất gần một tuần để tìm đến mộ tổ và những người bà con cả đời chưa từng gặp. Ngày còn sống, hằng năm anh Hồ vẫn tổ chức cho con cháu nội ngoại của dòng họ ở Sài gòn về thăm mộ tổ. Hôm anh Hồ mất, sau khi đưa anh về nơi an nghỉ, mấy chị em chúng tôi lại thuê xe về thăm mộ tổ (lúc này theo qui hoạch mới thuộc tỉnh Bình Dương). Nhờ sơ đồ Ba vẽ lại và lần đi thăm trước, em Thắng đã đưa được chúng tôi đến thắp nhang khu mộ tổ và gặp gỡ những người bà con chưa từng gặp bao giờ. Tôi mừng là cho đến nay các cháu con anh Hồ vẫn giữ gìn truyền thống tốt đẹp này, hằng năm, trước Tết âm lịch, vẫn tổ chức để các đời con cháu nội ngoại đi thăm mộ tổ và tôi vẫn ước ao một lần nữa được về thăm nơi ông nội tôi đã sinh ra, lớn lên, chăm chỉ học hành để từ một chàng trai quê vùng Lục tỉnh trở thành một trong những vị quan nhất phẩm triều đình Huế, một trong những người Thầy của vua Duy Tân, một trong những công dân danh dự của làng Nam Trung vì ông là một trong những người sáng lập Hội Nam Châu tương tế (mà trụ sở là Nam Châu Hội Quán hiện nay ở Kim Long). Ôi, miền Nam luôn vẫy gọi những đứa con Đặng Ngọc về thăm.
|