|
LAIQUANGNAM
Sở kiến hành,
Phần 1
Nguyễn Du
Lời dẫn : Đây là một bài hành, thơ chữ Hán của thi hào Nguyễn Du .
Hành: bài thơ, thường đề cập đến những vấn đề chung, những sự
kiện mới lạ, bất ngờ hay những đồng cảm tạo ấn tượng mạnh mẽ; chủ thể
trữ t́nh thường kể lại sự việc với tâm trạng bức xúc, có thể bày tỏ thái
độ, chính kiến; thể thơ cổ phong thường được sử dụng để sự biểu đạt
không bị g̣ bó, ràng buộc.(TRIỀU NGUYÊN định nghĩa)
Bài hành này được Nguyễn Du tŕnh bày dưới dạng kịch bản.
Qua bản dịch "Việt
ngữ " nó trở nên rơ ràng hơn nhờ kư tự alphabet. Người sứ giả Việt nam
mang trong ḿnh thuộc tính của người Việt “ thương người như thể thương
thân “ mà vị sứ giả này nghe từ thuở nằm nôi qua ḍng ca dao mẹ. Ông đă
khóc, đă ba lần rơi nước mắt khi viết bài này. Thời điểm viết là lúc nhà
Măn Thanh, một dị tộc, đă đô hộ Trung hoa gần 170 năm. Sĩ phu Tàu trốn
đâu mất biệt, hay chỉ biết gục mặt vào ăn, là bầy sói lang ăn thịt nhân
dân ḿnh, hay đang cúc cung tận tụy cho ngoại bang.
Chuyện kể về những ǵ đă thấy rành rành trên đường đi sứ. Ông dừng chân
hỏi han và có cuộc đối thoại giữa tác giả (Nguyễn Du ) và người từ mẫu
Trung hoa đáng thương và đáng kính. Sau đó, họ chia tay, phần ai nấy đi.
Bất ngờ cơn gió lạnh quái ác đến cùng lúc với thế giới cẩu lang đội lốt
người xảy ra trước mắt họ. Hai nỗi đau ập lên người đàn bà cùng lúc và
nó đă để lại cho sứ giả Việt những điều day dứt. Tức ḿnh, bằng lời thơ
kết thúc đầy bất ngờ, mĩa mai. Đây là lần thứ hai (1) mà laiquangnam
thấy người thi nhân rất đổi hiền lành này phải phẫn nộ.
Mời bạn đọc phần 1 qua bản dịch "Việt ngữ " trước. Phần 2 là nguyên tác,
phiên âm và chú nghĩa các từ khó và xa lạ với chúng ta. Phần 3 là
“Nguyên nhân sâu xa nào khiến Nguyễn Du ba lần rơi nước mắt.”
I. Phần thứ nhất:
Bản dịch "Việt ngữ "
1. Dịch thơ quốc âm
Sở
kiến hành
( Rành rành ra đó. )
Có một bà dắt ba trai bé,
Bốn mẹ con ngồi mé vệ đường
Gọn trong ḷng mẹ Út thương
4) Giỏ tre chừng nặng dị thường, Cả mang.
Trong giỏ đan thứ chi lắm thế?
“Thấy le hoe rau dại, cám thô.
Quá trưa bụng chửa chút nào,
8) Áo quần tơi tả buồn sao nỗi ḿnh (?&!).
Thấy người đấy! làm thinh, đầu gục,
Lệ ṛng ṛng thấm mục vạt ai.
Tung tăng mấy nhóc đùa hoài,
12) Có hay ḷng mẹ như ai dao dần!
Ḷng từ mẫu làm sao đau khổ?
“Đói năm nao bỏ xứ, đến đây,
Làng này, mùa được thóc đầy,
16-Lúa không cao vượt tầm tay người nghèo.
Mẹ chẳng hối, không đeo quê cũ,
_Miễn nơi nào no đủ miếng ăn.
Một thân vắt sức ra mần,
20-Cũng không nuôi đủ miệng ăn bốn người!
Lất lây ngày ăn mày kiếm sống,
Liệu bề không dài đặng bao lăm!
Thây vùi ng̣i rạch rành rành
24) Máu xương vỗ béo lũ ranh, Lang sài!
Mẹ chết ngay, có chi mà tiếc,
Càng vỗ về, càng đứt ruột ra,
Ḷng ai từng muối xát chà !!!
28) Mặt trời v́ thế ngả qua úa vàng. “
Cơn gió lạnh đâu đang thốc tới,
NgườiTrênĐường chới với xót xa,
Đêm qua tại trạm Tây Hà,
32-Tiệc tùng thừa mứa xa hoa muôn bề.
Bàn đầy ắp heo, dê đủ cả,
Bày gân hươu, vi cá tràn lan,
Ghế trên chả đụng đũa quan,
36- Đám hầu ghế dưới xàng xàng, qua loa.
Ăn không hết vứt mà chẳng tiếc,
Chó cận nhà ăn riết, chán khan,
Có hay! Ai đó trên đàng?
40) Mẹ con NhàNó khốn đang hành hà!,
Ai người thử vẽ phô ra,
Dâng vua ngự lăm, xem qua thế nào ?
laiquangnam
2. Chú thích, tham khảo và tâm t́nh :
2.1. Link Tham khảo :
2.1.1. Xin đọc bài
Phản chiêu hồn của Nguyễn Du do
laiquangnam giới thiệu.
2.1.2.
wikipedia : Sở_kiến_hành
2.1.3. Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu
2.2. Chú thích nhanh vài từ và tâm t́nh
2.2.1. Tạm dịch tiêu đề “sở kiến” =
thấy rành rành
Sở kiến hành = Rành rành hành
Đó là những điều trông thấy rơ ràng không sao chối cải được .
Tiêu để khác đă được chấp nhận là “
Những điều trông thấy “
Đây là một bài lên án chủ nghĩa “ mackeno” không sao chấp nhận được và
vốn xa lạ với người Việt chúng ta. Nguyễn Du là người sứ giả. Người sứ
giả là người có đầy đủ phẩm chất tốt nhất của người Việt đương thời.
2.2.2. Quan điểm của laiquangnam là không dịch tiêu đề, bởi tiêu đề là một
thương hiệu của tác giả, không nhầm lẫn được. Tên thương hiệu sẽ giúp
bạn đọc dễ t́m tư liệu trên Google và dễ tiếp cận đến các bản dịch khác
đa dạng hơn, hay hơn.
2.3. Thành thật khai báo.
Trong 6 câu cuối có vài từ quá tinh tế
( hiểu nó th́ khách thơ mới thấy thú vị ).
撥棄無顧惜
鄰狗厭膏粱
不知官道上
40-有此窮兒娘
誰人寫此圖
42-持以奉君王
Bát khí vô cố tích,
Lân cẩu yếm cao lương.
Bất tri quan đạo thượng,
40-Hữu thử cùng nhi nương.
Thùy nhân tả thử đồ,
42 Tŕ dĩ phụng quân vương
1- Nhi là bé trai khi c̣n quá bé.
2- Nương là người con gái trẻ tuổi.
3- Cùng là bước khốn cùng, t́nh thế quẩn bách.
Tưởng cũng nên nhắc lại, câu đầu Nguyễn Du tả:
有婦攜三兒, Hữu phụ huề tam nhi
= Có một bà ( phụ ), dắt ba trai nhỏ
4- Phụ là người đàn bà đă có chồng bất luận tuổi tác. Để ư, Nguyễn Du
trong câu đầu dùng “phụ” ( thấy xa ) và câu cuối dùng “nương” (sau khi
đă tiếp chuyện). Nguyễn Du lúc này cũng gần năm mươi rồi. Như thế ông
coi người mẹ trẻ trạc tuổi con ḿnh. Như vậy người mẹ c̣n trẻ lắm.
5- Thử là bên kia. Trong đoạn này Nguyễn Du dùng hai lần từ “thử“. Bên
kia đây hàm chứa “ là mặt bên kia, là góc khuất ở mé bên kia."
*Thử lần thứ nhất: Hữu thử cùng nhi nương =
Ở góc khuất phía bên kia có
người phụ nữ rất trẻ ( nương) cùng các con trai c̣n quá bé ( nhi ) đang
lâm vào bước cùng đường.
** Thử lần thứ hai: Thùy nhân tả thử đồ
= Ai là người tả ra ( thật ra tả
ở đây là nói hết ra, tả là ói hết ra, phô trương hết ra ) đủ các góc
khuất của bức tranh kia.
6- Trong nguyên tác Nguyễn Du dùng cụm từ “ phụng quân vương “. Phụng là
dâng hiến với một ḷng tôn kính.
Cho dù cố gắng hết sức laiquangnam cũng chỉ dịch được như thế này
Ăn không hết vứt mà chẳng tiếc,
Chó cận nhà ăn riết, chán khan,
Có hay ! Ai đó trên đàng?
40) Mẹ con “NhàNó" khốn đang hành hà!
Ai người! thử vẽ phô ra,
42)
Dâng vua ngự lăm, xem q(Q)ua, thế nào.
Để ư Nguyễn Du sau khi viết hai câu
Có hay ! Ai đó trên đàng?
40) Mẹ con “NhàNó" khốn đang hành hà (**)
th́ Nguyễn Du đột ngột chấm dứt, không viết thêm nữa. Ông đang lau nước
mắt ! và viết lời “mĩa “ với từ “Thùy nhân “, người nào ? Ai đủ dũng,
ai làm điều này. Có ai !....
Đó là những ǵ bạn cần biết khi đọc một bản dịch cổ văn của tiền nhân ta,
của bất kỳ một ai và người dịch cũng nên thành thật khai báo cái mà ông
ta không đủ tài năng chuyển dịch sang quốc âm, nhờ thế lớp sau đạp lên
lớp trước để cuối cùng có một bản dịch hay hơn, hoàn chỉnh hơn. Đó không
là điều hạnh phúc cho ḿnh sao? Mong được làm tam cấp cho lớp trẻ bước
lên vai, âu cũng là điều hạnh phúc của thế hệ sắp nói lời bye bye với
cuộc đời.
Đề nghị : Bạn thử mang năm chữ Tàu này “有此窮兒娘” và năm chữ Tàu 誰人寫此圖 này
ra hỏi một người Tàu rặc nhờ họ giảng. Bạn sẽ thấy họ sẽ không hiểu được
những ǵ sâu xa nhất mà Nguyễn Du có ư muốn chuyển tải đến người Việt,
đồng bào của ông. Đó là sự khác biệt giữa hai cách nh́n, một thứ chữ
Hán của tiền nhân ta đối với ta như là một cổ ngữ, tử ngữ và một là thứ
chữ Tàu là do chính người Tàu đọc như là một sinh ngữ. Việc này có thể
nhờ ai đó test dùm và ghi âm lại như là một minh chứng và củng cố niềm
tin rằng thứ chữ Nho mà ông bà ta dùng cần có một cái nh́n khác đi như
ta vẫn nghĩ và tranh luận bất tận.
Laiquangnam
Tháng 11, 2013 tại Quê người
______
a2a mời đọc :
Phản Chiêu Hồn của Nguyễn Du ( laiquangnam)
Từ điển Hán Việt Thiều Chữu
trang laiquangnam
www.art2all.net
|