|
Nguyễn Hàn Chung
LỤC BÁT TẢN THẦN
ĐIỆU TANGO MUỘN HAY KHÚC DÂN CA CỦA
NGƯỜI XA XỨ
Nguyễn Thoại Vy

Tango
là điệu nhảy phố biến có mặt trên khắp thế giới từ cuối thế
kỷ 19. Đây là một thể điệu chậm, soạn theo nhịp 2/4 hoặc
4/4. Bạn đọc có quyền hỏi tôi: Thế có liên can ǵ đến tập
Lục bát tản thần của thi nhân Nguyễn Hàn Chung?
Xin thưa: Đây chỉ là liên tưởng mang tính cá nhân mà thôi.
Có lẽ v́ tôi thấy có mối dây liền lạc giữa điệu tango và thơ
lục bát, giữa thể lục bát và ca dao - dân ca. Thứ nhất, lục
bát là thể thơ truyền thống dễ viết nhưng khó hay. Nhịp
chẵn. Âm nhạc và vũ điệu tango cổ điển cũng theo nhịp chẵn,
không khó thực hành trên sàn nhảy. Tuy vậy, vũ công tango
không chỉ khéo di chuyển nhờ thẩm âm – giữ nhịp tốt, mà h́nh
thể cũng cần tinh tế, uyển chuyển khi phối hợp với bạn nhảy.
Mặt khác, lục bát Nguyễn Hàn Chung phảng phất làn điệu dân
ca Quảng Nam.
Thứ hai, là gốc gác b́nh dân. Lục bát và dân ca có nguồn gốc
dân gian; điệu tango xuất phát từ những người nô lệ gốc Phi,
lan tỏa đến những khu b́nh dân ở Buenos Aires (Argentina)
trước khi trở nên phổ biến ở châu Âu.
Dài ḍng như thế để bạn đọc thấy rằng sự liên hệ ấy của tôi
không đến nỗi vô căn. Và điều hiển nhiên là trong
Lục bát
tản thần, ta bắt gặp cả nét hoang dă đồng nội lẫn sự mềm mại
uyển chuyển của một thể thơ, của cách lập ngôn giàu nhạc
điệu. Thử cùng thi nhân “chiết giải” soi sáng qua mấy câu
dung dị chân quê:
"Về đem lục bát ra phơi
Có em đang cắp nón cời đợi nhau
Anh từng chiết giải thâm sâu
Chiều quê vẫn sững sờ câu “Chiều chiều…”
Tôi không sững sờ như tác giả, mà đứng ngây ra giữa câu thơ,
ở giang đoạn “Chiều quê” và “Chiều chiều …”. Tôi để ḷng
ḿnh ngẩn ngơ neo ở dấu chấm lửng cuối câu kết đoạn. Có thể
bắt một nhịp cầu ở lưng câu thơ chăng ?!. Làm sao nối được
tâm t́nh sâu nặng của thi nhân ở sau dấu ba chấm ấy ?!. Sao
tôi có thể hiểu nỗi ḷng của người bén rễ với quê nhà chỉ
qua vài câu ca xứ Quảng: “Chiều chiều ra đứng ngơ sau/ Ngó
về quê mẹ ruột đau chín chiều”; “Chiều chiều lại nhớ chiều
chiều/ Nhớ nồi cơm nguội, nhớ niêu nước chè” hay “Chiều
chiều mây phủ Sơn Trà …”! Bạn đọc cũng không thể ước đoán
giản đơn là tại có em nón cời chờ đợi mà loanh quanh định
nghĩa cái t́nh thâm sâu kia. Mặc những “th́, là, mà, nếu, …”
vô vị, tôi cho rằng căn cớ là tại thi nhân đa cảm: Ở chiều
quê mà nhớ chiều quê. Chiết giải thâm sâu mà Nguyễn Hàn
Chung muốn giăi bày nghĩ cho cùng chính là thiền niệm. Th́
đă sao. Bạn đă đọc câu Hai-ku xuất thần này chưa “Ở kinh đô/
mà nhớ kinh đô”. Chiều sâu tâm hồn của hai thi nhân (Basho
và Nguyễn Hàn Chung) cùng rơi vào khoảng lặng giữa hai vế
của một câu thơ (Chiều quê … “Chiều chiều”; Ở kinh đô … nhớ
kinh đô) gợi dư ba khắc khoải.
Sự lặp lại từ ngữ trong thi tập không phải hiếm:
"Gọi em một tiếng mấy lần
Pḥng khi mai mốt ta cần có nhau"
Và hai câu kết của bài thơ (Gọi em một tiếng) là như vầy:
"Gọi em một tiếng nữa rồi
Anh cầm đôi đũa vẽ vời tàn tro"
Như lệ thường, câu kết thiệt hay ! Đối diện với quá khứ, ta
thường phân vân tiến thoái: hoặc nâng niu cất giữ hoặc dứt
khoát đốt thành tro. Mỗi người thơ có sự chọn lựa khác nhau.
Lê Quang Trọng tự thán “Có những điều đốt măi chẳng thành
tro”. Hàn Chung lại không nỡ đành đoạn nhưng biết dùng lư
trí để dứt khoát, là ǵn giữ cái t́nh đấy thôi nhưng không
“khai quật” kỉ niệm. Ai đọc không tỏ sẽ ngỡ tiếng ḷng thi
nhân neo ở điệp ngữ “gọi em” ngân nga suốt bài thơ, kỳ thực
là ở hai chữ “vẽ vời”. Răng (cỏ) chỉ “thèm cháo” cần chi
dùng đũa. Hóa ra những mật ngọt cám dỗ khi “Ra đường có chả
có nem” cũng thành vô duyên vô dụng. Nói “vẽ vời” xao ḷng
mà thật ra chuẩn mực, nghiêm túc. Thế nên “gọi em” là gọi
t́nh gọi nghĩa, gọi kí ức về những năm tháng chia ngọt sẻ
đắng cùng “em”. Lục bát Nguyễn Hàn Chung vẫn tiềm ẩn những
bất ngờ như thế. Kể cả ở những phương ngữ, khẩu ngữ chân
chất đất Quảng "chưa mưa đà thấm" kết hợp sáng tạo với thành
ngữ dân gian cũng bất chợt phô dáng mộc mạc:
êm ru, trổ
trời, răng cỏ, trật rơ, mút (cà rem), dị (xấu hổ), chộ,
quưnh quáng, coi ṃi, bây chừ, quàng xiên, đi trớt, nhớ quắt
quay, nước lă người dưng, mặt dạn mày dày, bắt cá hai tay,
kén cá chọn cua …
Say thơ như điếu đổ nhưng cũng bất nhất âu sầu tự vấn, rồi
nảy phiền sinh uất: “Thơ ca ích mẹ chi trời/ nó dày ṿ cả
lúc người nhập quan." Ơ hay, đó là “cái giá của thi sĩ”!
Chẳng phải Tố Như tiên sinh đă căn dặn đó thôi: "Đă mang lấy
nghiệp vào thân/ Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”. Thi
nhân đáp trả ngay: Trách làm ǵ bởi “Cười khi khóc mới là
thằng đàn ông”. Tự trào chả vui hơn à ?
"Em đừng tin bọn đàn ông
Mười tên hết chín là không trung thành
Chỉ trừ có một ḿnh anh
Em điên mới để gă thành của chung"
Ân cần mà xót xa biết mấy. “Của chung” này e là miễn cưỡng.
Cái kiểu đau đáu tồi tội của Thúy Kiều khi trao duyên cho
Thúy Vân, đêm trước ngày phụ Kim Trọng theo Mă Giám Sinh để
báo hiếu “Duyên này th́ giữ, vật này của chung”. Với Kiều,
kỷ vật là của chung nhưng duyên t́nh th́ không. Với “em” –
đối tượng trữ t́nh, nàng thơ của “gă” – thi nhân ân cần
thuyết phục: đừng có dại mà biến gă thành của thiên hạ, nhớ
giữ lấy v́ “gă chung t́nh”, là người thủy chung trọn t́nh
dẫu cơ hàn khốn khó (hàn chung mà lị!):
“Vậy mà ai có biết đâu
tôi chung thủy đến trời sầu đó em”
Bạn đọc có thể xem như là thủ pháp chơi chữ, cũng có thể
hiểu đơn sơ rằng đấy là lời thành khẩn chan chứa: trong biển
người mênh mang, chỉ có tôi là trung thành tuyệt đối với em
thôi. V́ rằng “Thơ t́nh phải rất nhu ḿ/ có phá cách cũng
không đi trật đường”. Có phải v́ chừng mực trong phá cách mà
nhà thơ chọn thể lục bát để biểu đạt tư tưởng và t́nh cảm
của ḿnh ? Hay đó là tuyên ngôn thơ t́nh Nguyễn Hàn Chung ?!
Tôi không nghĩ rằng trong Lục bát tản thần chỉ thuần thơ
t́nh lứa đôi, mà có mặt cả những thứ t́nh cao xa khác: t́nh
quê hương, đồng bào, t́nh bằng hữu …
Tôi gọi thi tập là khúc dân ca t́nh tự của người con xa xứ
luôn hướng về quê mẹ. Và, tiếng ḷng nhà thơ là điệu tango
muộn. Cái xế muộn chiều quê đầy ám ảnh. Cái muộn mằn của mái
tóc pha sương vẫn lưu lạc nơi đất khách. Cái muộn của chất
nhạc chín nẫu đằm sâu trong từng câu chữ. Mà lạ chưa, sức
sáng tạo thi ca th́ vẫn trẻ trung, bền bỉ và tếu táo “Em chê
gă ấy hơi già/ đi t́m thằng trẻ như ta đây này/ tóc ta trắng
phớ làn mây/ tóc tên kia nhuộm phơi bày giả trang”. Một
Nguyễn Hàn Chung bộc trực không thích bất cứ sự giả trang
nào, kể cả trong thơ ḿnh. Nhà thơ xứ Quảng đă qua tuổi “lục
thập nhi nhĩ thuận” nên thơ ông như mẻ đường bát thắng tới
ngọt lịm. Trong thi tập không hiếm những câu những bài chín
cả về chất và lượng, tinh và thần; sự trải nghiệm về tri
kiến lẫn văn hành đạt độ đằm sâu. V́ vậy, dẫu thăng trầm -
sầu tư chất ngất thi nhân cũng đổ tại cô liêu, tại phận
người truân chuyên rày đây mai đó “Mỗi khi ḷng quá cô liêu/
ta ra quán rủ mĩ miều hàn huyên”. Dẫu có quặn ḷng héo hon
cũng đành “cười toe toét giấu nỗi buồn tái tê” hoặc ḅn thơ
mót chữ. Bởi chưng, thi ca là kinh kệ cứu rỗi tâm hồn thi sĩ
mỗi khi trở ḷng, nên “mót chữ trong kinh” cũng là phương
cách chữa trị tâm bệnh u sầu. Nên chi tôi nghĩ rằng cái kẻ
ác nhơn hành hạ tác giả chính là những nữ thần Muse trong
thần thoại Hy Lạp:
"Em hành tôi đến muôn sau
Nào hay tôi thắp nhang cầu xin em"
Nói cách khác nhà thơ chỉ điêu đứng v́ những nàng “lục bát
tản thần” dân dă mà huyễn mộng “Chuyên tâm lục bát tản thần/
không ham cày xới mấy tầng thanh cao” (Tự ngôn thơ).
Có khi lục bát Nguyễn Hàn Chung mang hơi thở của sự hồ hởi
hy vọng, của tin yêu tươi trẻ:
“Tôi tin là hắn yêu ḿnh/
không yêu sao cứ hay ŕnh đọc thơ/ tôi vừa mới post bây giờ/
chưa tan ngụm nước có thơ phản hồi”. Dĩ nhiên là đoán định
chủ quan. Dĩ nhiên là tự huyễn hoặc ḿnh!. Thế nhưng trong
đôi chữ mấy ḍng hiện sinh ấy vừa có nét chân t́nh dễ mến,
vừa cám cảnh băi bể nương dâu mà thở dài:
"Huyễn chân giả
huyễn mộng thường
huyễn cơn huyễn hoặc
huyễn xương cốt tàn"
Tôi để nguyên cách ngắt ḍng là lạ của hai câu lục bát trong
"Huyễn 2". Có lúc chỉ một câu lục mà tác giả xuống ḍng ba
lần, lại khi mỗi ḍng chỉ một chữ:
“Huyễn người/ không dễ/
huyễn ḿnh/ huyễn t́nh nhân/ dễ/ huyễn t́nh nương/ đau”.
Nhịp thơ hổn hển gấp gáp mà mộng mị đ́u hiu. Thi ư vướng mắc
trong hư huyễn đời người, nên dễ ǵ mà không đau. Điệp từ
ngữ - cú pháp, cách ngắt câu xuống ḍng bất thường lại là ưu
điểm hay gặp trong tập thơ: “Kệ đi, đừng có ưu phiền/ Kệ đi,
đừng có ưu phiền. Kệ đi”.
Kệ đi ! Miễn nhà thơ nỗ lực làm mới thi pháp, cách tân thể
điệu lục bát để tránh sa vào lối ṃn là đă hết ḷng với
nghiệp thơ, với bản sắc văn hóa Việt.
Mặt khác, nếu không làm chủ chữ nghĩa, người thơ sẽ dễ rơi
vào góc “việt vị” của h́nh thái diễn xuôi tự nhiên, dẫu đằng
sau câu chữ là triết lư cơi người “Học em tập bước qua hàng/
bao giờ cũng biết ngó sang bên đường (…)/ Cuối đời bước đến
pḥng thi/ trước tờ giấy trắng giống y tên đù”.
Cả thi tập hai trăm bài mà chỉ có đôi câu, dăm bài không hay
đă là điều đáng mừng đáng phục. Dẫu chưa hoàn hảo th́ t́nh
quê vời vợi của thi nhân gieo vào từng luống chữ đă đủ lấp
đầy bất cứ sự thiếu hụt nào. Lục bát tản thần là điệu tango
muộn màng mà say đắm của t́nh tự quê nhà xa ngái:
"Van em về lại với anh
Xẻ vầng trăng, xẻ chiếu manh, xẻ ḿnh
Mặc người hắt hủi coi khinh
Anh hoài nâng níu chuyện t́nh Mị nương
Người ta đă lạc mù phương
Lũy tre chái bếp con mương vẫn chờ"
Đó là mấy câu thiết tha trong “Về thôi, lục bát” chở ngút
ngàn t́nh quê qua hàng loạt thi ảnh đậm chất liệu dân gian
(Mị nương, lũy tre, chái bếp, con mương) và h́nh dáng Truyện
Kiều (Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Nửa in gối chiếc, nửa soi
dặm trường). Trên dặm trường nghiệp dĩ, nếu thi nhân có mỏi
th́ nhớ ngả đầu vào thơ nghỉ mệt chốc lát; hoặc mượn vầng
trăng lấp lánh trong ca dao - Truyện Kiều mà soi tỏ tấc ḷng
quan hoài đăm đắm trông về quê mẹ.
Nguyễn Thoại Vy
|