BÀI
THƠ DỊCH THỦY TỐNG BIỆT
Bắt đầu từ bài thơ tiễn đưa KINH KHA
qua sông Dịch đi hành thích TẦN THỦY HOÀNG:
"Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn."
Dịch:
Gió hiu hiu hề sông Dịch lạnh
Tráng sĩ một đi hề không trở về.
Lạc Tân Vương đă viết bài thơ: "Dịch
Thủy Tống Biệt":
Dịch Thủy Tống Biệt
Thử địa biệt Yên Đan
Tráng sĩ phát xung quan
Tích thời nhân dĩ một
Kim nhật thủy do hàn.
(Lạc Tân Vương - đời Đường)
Tiễn Biệt Trên Bờ Sông Dịch
Đây chỗ biệt Yên Đan
Tóc dựng khí căm gan
Anh hùng xưa đă khuất
Nước lạnh hận chưa tan.
(NGUYỄN HIẾN LÊ dịch)
Đất này ly biệt Yên Đan
Giận run; tráng sĩ, mặt ran; tóc xừng!
Lận dao trủy thủ, lên đàng
Ngày này Sông Dịch, ngổn ngang lạnh hoài!
(Laiquangnam dịch)
VẤN ĐỀ KINH
KHA
Kinh Kha đi hành thích Tần Thủy Hoàng
là chuyện có thật trong Sử Kư của Tư Mă Thiên. Anh hùng
hay không đang trong ṿng bàn căi ! Rất nhiều người khen
ông ta, nhưng Nguyên Lạc tôi không nghĩ vậy. Nhân vật
này rất tầm thường nếu so với các anh hùng Việt Nam. Tại
sao chúng ta người Việt lại ca tụng ông ta quá mức vậy?
Hăy đọc kỹ sẽ thấy KINH KHA bất tài,
vô trí; chỉ là một con rối bị người mua chuộc, lợi dụng.
Vơ lược cũng chẳng ra ǵ! Này nhé:
1. Nguyễn Du chê bai Kinh Kha.
Trong SỬ KƯ của Tư Mă Thiên có chép:
"...Thái tử Đan tôn Kinh Kha lên làm Thượng Khanh, xây
một biệt thự đối diện với biệt thự Phàn Ô Kỳ, gọi là
Kinh Quán để Kinh Kha ở. Thái tử Đan ngày ngày đến thăm,
cung phụng đúng mức, hiến đủ thứ, ngựa xe và gái đẹp.
Hôm nọ Kinh Kha cùng Thái tử Đan đi chơi ở Đông Cung,
thấy dưới ao có con rùa lớn nổi lên. Kinh Kha nhặt viên
ngói ném rùa, Thái tử Đan liền lấy thoi vàng đưa Kinh
Kha thay viên ngói. Một hôm hai người cùng thi cưỡi
ngựa, Thái tử Đan có con ngựa quí đi ngàn dậm. Kinh Kha
bỗng nói:
- Gan ngựa ăn ngon lắm.
Thái tử Đan lập tức giết ngựa lấy gan cho Kinh Kha ăn.
Thái tử Đan lại giới thiệu Phàn Ô Kỳ với Kinh Kha.
Lại một hôm Thái tử mở tiệc đăi Kinh Kha ở Hoa Dương
Đài, có cho mỹ nhân hầu hạ, gảy đàn giúp vui. Kinh Kha
thấy hai bàn tay của mỹ nhân trắng muốt, thoan thoát
chạy trên những đường tơ, vội buộc miệng khen:
- Thật là tay tiên. Đẹp làm sao !
Lúc tan tiệc, nội thị dâng Kinh Kha một hộp ngọc. Kinh
Kha mở ra xem, th́ đó là hai bàn tay của mỹ nữ mà Thái
tử Đan sai chặt, đem biếu Kinh Kha.
Kinh Kha than:
- Thái tử Đan đăi ta như thế ấy, dẫu chết cũng chưa trả
được ơn sâu !"
Ngày nay đọc đoạn văn ấy, chúng ta không thấy xúc động
như Kinh Kha, mà nổi giận v́ tại sao Thái tử Đan tàn bạo
đến thế. Thái tử Đan tàn bạo có kém chi Tần Thủy Hoàng.
Thủy Hoàng sai bỏ con của Lao Ái và mẹ ḿnh là Triệu Cơ
vào bao, rồi đập chết, c̣n có lư do. Thái tử Đan v́ muốn
Kinh Kha trả thù cho ḿnh, chỉ v́ một lời khen bàn tay
đẹp mà giết mỹ nhân vô cớ, thật tàn bạo? Sao Thái tử Đan
không tặng Kinh Kha mỹ nữ, mà lại chặt tay mỹ nữ như con
ngựa, con heo vậy? Đâu là ḷng nhân ?!
Nguyễn Du chê Kinh Kha không bằng Dự Nhượng. Dự Nhượng
hy sinh thân ḿnh báo thù cho chủ, c̣n Kinh Kha đi thích
khách Tần Thủy Hoàng chỉ v́ có người biết đến ḿnh, và
v́ sự đối đăi thừa mứa. Kinh Kha chỉ là một con rối,
hành động không v́ tấm ḷng trung dũng (diệt kẻ tàn bạo,
pḥ người đức độ) đâu có hy sinh v́ dân tộc, mà hành
động chỉ v́ sự mua chuộc và kích động của Điền Quang,
của Thái tử Đan. Hành động của Kinh Kha không có Trí, mà
chỉ v́ Danh. Không có ḷng Nhân, mà chỉ có Bạo lực đối
với Bạo lực. Cái Dũng của Kinh Kha chỉ là cái dũng của
kẻ bị mồi ngon thừa mứa, cám dỗ mà hành động.
Đây là trích đoạn bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, phần
chê bai Kinh Kha.
Thần dũng nghị nhiên duy độc quân.
Đồ đắc Điền Quang khinh nhất vẫn.
Khả liên vô cô Phàn Ô Kỳ,
Dĩ đầu tá nhân vô hoàn th́.
Nhất triêu uổng sát tam liệt sĩ,
Hàm Dương thiên tử chung nguy nguy.
(KINH KHA CỐ LƯ - Thơ chữ Hán Nguyễn Du)
Liều thân chỉ v́ kẻ biết ḿnh,
Huống được Điền Quang tự đâm cổ.
Khá thương Phàn Kỳ chẳng tội chi.
Đem đầu cho mượn chẳng hoàn ǵ.
Một sớm chết oan ba liệt sĩ.
Hàm Dương, Thiên tử vẫn uy nghi.
(Nhất Uyên dịch)
(Theo Tiến sĩ Phạm Trọng Chánh)
2. KINH KHA vơ lược tầm thường
Trong SỬ KƯ của Tư Mă Thiên có chép:
[... Tần Thủy Hoàng:
- Lấy bàn đồ Vũ Dương cầm đưa lên đây.
Kinh Kha dâng lên. Vua Tần lần mở ra xem, mở gần hết th́
ḷi chuôi con dao trủy thủ. Kinh Kha thừa dịp, tay trái
nắm tay áo vua Tần, tay phải cầm trủy thủ đâm. Nhát đâm
hụt. (hành động của Kinh Kha không dứt khoát, thủ pháp
không chính xác). Vua Tần hoảng sợ, đứng phắt dậy, tay
áo đứt rời. Vua Tần tuốt kiếm, kiếm dài vướng vỏ. Lúc
bấy giờ hoảng hốt, kiếm lại chặt quá nên không rút ra
ngay được. Kinh Kha đuổi theo vua Tần, vua Tần chạy
quanh cột trụ (vua trang phục thường rườm rà, nên không
nhanh nhẹn vậy mà Kinh Kha cũng không thể nào đuổi kịp,
chứng tỏ thân pháp của Kinh Kha có vấn đề, không linh
hoạt). Bọn triều thần đều kinh ngạc, v́ sự việc xảy ra
bất ngờ nên không ai giữ được b́nh tĩnh. Theo phép nước
Tần, các quan chầu trực ở trên điện không được mang theo
binh khí. Các Lang Trung cầm binh khí đều đứng sắp hàng
ở dưới điện, nếu không có chiếu gọi th́ không được lên.
Bấy giờ đang lúc gấp, không kịp gọi những người cầm binh
khí ở dưới. V́ vậy Kinh Kha đuổi theo vua Tần, các quan
cuống quưt, không có ǵ để đánh trả lại, chỉ lấy tay
không mà đánh Kinh Kha. Lúc bấy giờ viên thầy thuốc đứng
hầu, tên là Hạ Vô Thư, lấy túi thuốc cầm trong tay ném
Kinh Kha. Vua Tần cứ ṿng quanh cái cột mà chạy, cuống
quưt không c̣n biết phải làm thế nào. Bọn tả hữu nhắc:
- Đại vương, đẩy kiếm ra phía sau lưng.
Vua Tần đẩy kiếm ra sau lưng, tuốt chém Kinh Kha, chặt
đứt đùi bên trái. Bị thương, Kinh Kha phóng con dao trủy
thủ, nhưng không trúng vua Tần (lại thêm một chi tiết
rất đắt giá phản ánh rơ nét nhất về thủ, cước pháp của
Kinh Kha, cứ cầm dao chạy theo, không hề có phản ứng của
quyền cước), trúng cái cột đồng (ngày nay trong các bức
họa Kinh Kha thích Tần đều vẽ cây trủy thủ ghim vào cột
là thế). Vua Tần chém tiếp, Kinh Kha bị tám vết thương,
tự biết công việc không xong bèn tựa vào cột mà cười,
ngồi xổm mà mắng:
- Việc này không thành là v́ ta muốn bắt sống nó (lời
nói rất ngạo mạn, khoác lác), buộc nó phải nhận lời trả
lại các đất đai đă chiếm của chư hầu, để ta được báo đáp
Thái tử. ]
Qua những lời trên, rơ ràng chúng ta thấy Kinh Kha chỉ
là tên khoác lác, vơ thuật tệ hại !
LUẬN ANH HÙNG
"Anh hùng là hành động của một người v́ đại cuộc không
xem sự sống chết của ḿnh là quan trọng tuyệt đối, sống
v́ tha nhân, hy sinh v́ dân tộc, cho dù có phải chết th́
vui ḷng đón nhận. Khi bàn đến hai từ “anh hùng” th́ ư
niệm thành công không nằm trong thuộc tính định nghĩa
cho từ đó. Thử tra hai từ Heros trong các bộ Encyclopedia th́ biết. Đông Tây đều định nghĩa như thế"
(Laiquangnam)(1)
Suy gẫm chuyện KINH KHA, ta thấy ông ta đâu phải là
người anh hùng. Như Nguyễn Du đă chê bai: Kinh Kha đi
thích khách Tần Thủy Hoàng chỉ v́ có người biết đến ḿnh
và v́ sự đối đăi thừa mứa. Kinh Kha chỉ là một con rối,
hành động không v́ tấm ḷng trung dũng (diệt kẻ tàn bạo,
pḥ người đức độ), đâu có hy sinh v́ dân tộc, mà hành
động chỉ v́ sự mua chuộc và kích động của người khác.
Tại sao ông ta lại được nhiều người làm thơ, hát ca để
ca tụng, vinh danh?!
Anh hùng là như Đặng Dung của VIỆT NAM ta đây:
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.
(Đặng Dung)
Thù trả chưa xong đầu đă bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
Xin mời các bạn t́m hiểu kỹ về vị ANH HÙNG đáng kính này
cùng bài thơ CẢM HOÀI (Nỗi niềm hoài băo) của ông. (1)
Mặc dù vua Trần Giản Định Đế đă u mê giết tướng Đặng
Tất, cha Đặng Dung, thế mà ông vẫn v́ nước quên thù nhà,
lănh đạo cuộc kháng chiến chống lại cuộc xâm lặng của
Trương Phụ (tướng nhà Minh)
Sử liệu cho biết:
"Minh Thành Tổ Vĩnh Lạc chỉ đạo cho Trương Phụ (năm
1406), trong lần xuất binh thứ hai, huy động 80 vạn quân
dân binh các loại, quyết tâm làm cỏ nước ta và xóa sạch
đất nước này trên bản đồ thế giới.
Các vị anh hùng (dưới sự lănh đạo của Đặng Dung) đă đánh
nhau ṛng ră trên dưới bảy năm (1407-1413) với một binh
lực hơn hẳn ḿnh. Có lúc họ cũng đă thắng nhiều trận lẫy
lừng, tưởng chừng như đă thắng, nhưng dài hơi th́ cuộc
đọ sức đă không cân sức. Than ôi! họ đă bại trận!. Trên
đường bị bắt đưa về Yên Kinh ( Bắc Kinh ngày nay) để làm
nhục, vua tôi Đặng Dung đă ca hát như không có chuyện ǵ
xảy ra, thắng bại là lẽ thường t́nh đối với người tráng
sĩ một khi họ đă toàn tâm toàn ư , hết ḷng, hết sức v́
dân tộc. Đặng Dung, trong vai tṛ lănh đạo cuộc kháng
chiến, đă ngâm cho vua tôi nghe khúc ca cảm khái này,
vừa ngâm vừa gơ nhịp xuống ván gỗ thuyền, cùng vui và
sẵn sàng đón nhận mọi sự trả thù tàn bạo của kẻ thù. Dân
tộc ta đâu c̣n lạ ǵ sự tra tấn đầy thú tính của người
Tàu đối với dân bị trị.
Sử kể rằng: Đặng Dung vốn coi cái chết nhẹ như lông
hồng, ông thường ngâm vang cho các chiến hữu cùng nghe
bài thơ này. “Nhóm quư Ông” cùng nhau gơ ván thuyền giữ
nhịp. Lính canh xem Họ khác ǵ như cá nằm trên thớt, nay
cam đành số phận. Họ không c̣n mấy ngày trên thế gian.
Bọn lính canh lơ là và trở nên dễ chịu là lúc "quư Ông"
lập mưu, xin lính canh đựợc chút không khí để thở, do
bởi có người đang ốm. Bất ngờ, kẻ trước người sau, cùng
nhào xuống biển từ trầm qua ô cửa vừa mở ra.
Một thiên anh hùng ca lẫm liệt, một cái chết của một tập
thể kiêu hùng trong ḍng sử Việt. (Laiquangnam)(1)
Đây là bài thơ CẢM HOÀI (Nỗi niềm hoài băo) của Đặng
Dung.
Bài thơ này là một bản anh hùng ca mang tâm trạng về thế
sự, trong ấy thể hiện rơ phong cách của người tráng sĩ,
người anh hùng trong cơn quốc nạn.
CẢM HOÀI
Thế sự du du nại lăo hà
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Trí chúa hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ văn thiên hà
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.
Tạm dịch nghĩa
NỖI NIỀM HOÀI BĂO
Thế sự mang mang lại tuổi già
Thiên hạ th́ vô cùng hăy nhập vào mà hát hàm ca
Thời đến bọn đồ tể, bọn câu cá cũng thành công dễ dàng
Thời qua anh hùng cũng đành nuốt hận
Hết ḷng v́ chúa có hoài băo xoay trục đất
Rửa giáp binh không lối kéo ngược ḍng sông ngân hà
Thù nước chưa báo th́ đầu bạc trước
Bao thời qua đội trăng mà mài kiếm long tuyền.
Đặc biệt là câu 3 và câu 4:
Thời lai đồ điếu* thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
...........
* đồ điếu: đồ là người đồ tể, chỉ Phàn Khoái, chiến hữu
của Hán Lưu Bang; điếu là người đi câu, chỉ Hàn Tín, đại
tướng của Lưu Bang. Cả hai giúp Lưu Bang xây dựng nhà
Hán (dưới mắt Đặng Dung cả hai đều là bọn bần tiện, đồ
tiểu tốt)
...........
- "Thời lai đồ điếu thành công dị": Trương Phụ thoát
chết là nhờ may mắn khi Đặng Dung nhảy lên thuyền
cùng toán người nhái, v́ nh́n không ra ai là Trương Phụ
nên hắn đă thoát.
Sử liệu chép:
"Chuyện khó tin trong binh sử thế giới, trường hợp hy
hữu này duy chỉ có trong quân sử Đại Việt. Khi vị tướng
tư lệnh lại là cầm đầu toán người nhái cảm tử rất gọn
nhẹ đánh thẳng vào sào huyệt kẻ tử thù. Việc tổ chức đă
xong đợi ngày G sẽ đến. Cơ hội đến, vào tháng 9 được
biết quân Trương Phụ vào đến Thuận Hóa, và kéo binh tập
kết vào ngă ba sông này để tổ chức cuộc săn đuổi vua
quan Hậu Trần đang đóng quân ở trên bờ. Quan thái phó
Nguyễn Súy và quan đại tư mă Đặng Dung nửa đêm chia quân
đến đánh Trương Phụ. Quan thái phó Nguyễn Súy dùng
thuyền nhẹ đánh nghi binh, giặc Minh trào về phía Nguyễn
Suư, và thừa lúc đó Quan tư mă Đặng Dung lao ḿnh xuống
nước trước, hơn mươi chiến sĩ cảm tử quân lao theo sau.
Họ bơi nhanh về phía thuyền lớn nhất, sáng nhất trên
sông. Từ dấu hiệu của Đặng Dung, bọn họ leo lên được
thuyền của Trương Phụ, dùng đoản đao thịt lẹ các tên
lính trên sàn. Họ nhào vào tên mập mạp nhất, phương phi
nhất và đă bắt sống tên này, lôi y xuống nước. Y la lên.
Do v́ không biết thường ngày tên Trương Phụ mặc quần áo
ǵ, do chưa thấy mặt kẻ thù lần nào, nên họ đă bắt lầm.
Thừa cơ Trương Phụ lập tức nhảy xuống sông lấy cái
thuyền con mà chạy thoát."
(Laiquangnam)(1)
- "Vận khứ anh hùng ẩm hận đa": Người Đại tư mă , Tổng
tư lệnh mà chịu dẫn quân đi thích khách kẻ chỉ huy
địch, xưa nay trên chiến trường chưa hề có , đó là hành
động anh hùng .
Xin lập lại nghĩa hai câu trên:
Thời đến bọn đồ tể, bọn câu cá cũng thành công dễ dàng
Thời qua anh hùng cũng đành nuốt hận
Chính câu 3 và câu 4 trong nguyên tác đă gây biết bao
nhiêu cảm xúc cho người thời nay. Cụ Phan kế Bính năm
xưa đă dịch:
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay. (Phan kế Bính )
Đặng Dung cũng cho Trương Phụ, người đă thắng ông, và cả
đất nước của Trương Phụ cùng là xứ sở bần tiện cực kỳ."
(2)
Vị anh hùng của Việt Nam ta tài đức vẹn toàn như thế sao
chúng ta không hát ca để vinh danh, mà lại đi ca tụng
một ông "nước lạ" tầm thường!
Về chuyện các vĩ nhân tầm cỡ quốc tế như NGUYỄN TRĂI
(tiễn cha) (3) , BÀ TRƯNG (trả thù chồng) (4) Trần Hưng
Đạo (quên thù riêng), Lư Thường Kiệt (bản hùng văn Hịch
Tướng Sĩ)(5). v.v..chúng ta nên suy gẫm, trân trọng và
vinh danh.
KẾT
Việt Nam đă sống dưới "tầm phủ sóng", dưới và trong cái
"bóng mờ" của Trung Quốc quá lâu rồi. Họ hưởng trọn
những tia nắng ấm, làn gió mát ...; c̣n chúng ta, v́ ở
dưới, v́ núp bóng nên chỉ "ăn theo", "ăn tàn", chỉ
"hưởng sái"(*). Cái "sái" này cũng không thơm tho ǵ như
ai cũng đă biết. Nếu không có chọn lựa, chẳng thà hưởng
"sái" của Phuơng Tây chắc c̣n khá hơn nhiều! Tại sao
không thoát ra ?
Hàn quốc (Korea), Nhật (Japan) đă làm được, tại sao Việt
Nam ta không?! Họ đă THOÁT và bây giờ là ÔNG CHỦ của
công nhân Trung Quốc. Đất nước họ thế nào chắc ai cũng
rơ !
C̣n Việt Nam th́ sao?
Đừng nghe những ǵ "nước lạ" nói
Mà hăy nh́n kỹ những ǵ "nước lạ" làm!
Các ngài "nước lạ" thâm lắm, đă viết ra "Tam Thập Lục
Kế" đó. Nào là "rút cũi đáy nồi", "gắp lửa bỏ tay người"
v.v... Khiếp lắm. Quân Vương (tiếng Ư: Il Principe,
tiếng Anh: The Prince) cũng chịu lép vế. Họ chỉ nghĩ tới
quyền lợi Đại Hán của họ thôi, đúng tin mà dẫn sói vào
nhà. Hăy cẩn trọng!
Xin các bạn hăy THOÁT TRUNG và trở lại với Việt Nam yêu
dấu của ḿnh! Tại sao vẫn chịu mang cái V̉NG KIM CÔ măi
thế? Phải tháo ra ! Phải vượt lên, chứng tỏ ƯU ĐIỂM
riêng của VIỆT NAM ! Hăy THOÁT TRUNG !
Xin nói rơ, chúng ta nên phân biệt giữa THOÁT TRUNG với
BÀI TRUNG. Thoát Trung nghĩa là chúng ta phải dùng trí
óc phân tích cho kỹ, đừng theo "chủ nghĩa bầy đàn",
không phải cái ǵ của Trung Quốc là hít hà khen ngợi ,
cũng làm răm rắp theo. Phải chọn lọc, giữ lấy cái hay
(nó là tài sản chung của nhân loại) và loại bỏ cái dở,
cái ǵ không hợp với Việt Nam.
Nguyên Lạc
...........................
Tham khảo: Sử Kư Tư Mă Thiên (bản dịch của Nguyễn Hiến
Lê), Đại Việt sử kư toàn thư, Laiquangnam, TS Phạm Trọng
Chánh, Nguyễn Đức Ngọc Phương, Thi Viện, Wikipedia...
Ghi chú:
(*) Sái: dùng theo nghĩa "Sái thuốc phiện": phần chất
đen c̣n lại khi người ta đă hút hết thuốc (hút hết cái
tốt, cái ngon)
(1) LUẬN ANH HÙNG
http://www.art2all.net/tho/laiquangnam/lqn_luananhhung1.htm
(2) Cảm Hoài (Nỗi niềm hoài băo) - Đặng Dung:
http://chimviet.free.fr/vanhoc/laiquangnam/lqn_DangDung_CamHoai_P1_056.htm
(3) Khi cha (Nguyễn Phi Khanh) bị giải sang Trung Quốc,
Nguyễn Trăi đă theo cha lên cửa ải và tỏ ư muốn đi theo
hầu hạ, nhưng Nguyễn Phi Khánh không đồng ư và khuyên
ông nên về lo cứu nước báo thù nhà. Sau NGUYỄN TRĂI đă
giúp LẼ LỢI đánh tan quân Ḿnh, giành độc lập cho đất
nước. (Wikipedia)
(4) Do chính sách đồng hóa gắt gao và bóc lột hà khắc
của nhà Đông Hán đối với người Việt tại Giao Chỉ đương
thời, các Lạc tướng người Việt liên kết với nhau để
chống lại nhà Hán. Trưng Trắc kết hôn với con trai Lạc
tướng ở Chu Diên là Thi Sách, hai nhà cùng có chí hướng
chống Hán. Khoảng năm 39-40, nhằm trấn áp người Việt
chống lại, Thái thú Tô Định giết Thi Sách.
Trưng Trắc và các Lạc tướng càng căm thù, cùng Trưng Nhị
mang quân bản bộ về giữ Hát Giang nay là xă Hát Môn
huyện Phúc Thọ, Hà Nội. Sau một thời gian chuẩn bị,
tháng 2 năm 40, Trưng Trắc cùng Trưng Nhị chính thức
phát động khởi nghĩa chống lại nhà Đông Hán. Cuộc khởi
nghĩa được sự hưởng ứng của nhiều đội quân và nhân dân
các nơi thuộc Âu Lạc và Nam Việt cũ. Quân Hai Bà đánh
hăm trị sở Luy Lâu. Tô Định phải chui trụ đồng trốn chạy
về Trung Quốc. Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp
Phố đều hưởng ứng. Hai bà lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam.
Trưng Trắc tự lập làm vua, xưng là Trưng Nữ Vương (hay
Trưng Vương). (Wikipedia)
(5) Hịch Tướng Sĩ - Lư Thường Kiệt
http://chimviet.free.fr/vanhoc/laiquangnam/lqnt071_namquocsonha.htm
art2all.net