|
Laiquangnam giới thiệu thi nhân tráng sĩ
ĐẶNG DUNG
Cảm hoài * Bạn có nghe từ trời xanh vọng lại giọng ngâm của Người tráng sĩ cất lên từ vầng trăng treo sáng vằng vặc trên đầu chúng ta trong bầu trời lộng gió đêm nguyên tiêu này không? ~~oOo~~
LUẬN ANH HÙNG
Phía người Việt
Dẫn nhập
Thời lai đồ điếu thành công dị,
là hai câu than văn?, là hai câu tự an ủi cho sự
thành bại của người tráng sĩ tự chống chế cho đỡ quê độ?. Tôi không tin
nay lại c̣n có ai đó trong chúng ta lại nghĩ như thế. Một Đặng Dung với
nhân cách cao thượng không bao giờ lại viết đẫm tinh thần AQ như thế.
Than văn hay tự an ủi không phải là tính cách của người tráng sĩ. Do một
thuộc tính có tính cách bẩm sinh. Thi nhân Việt xưa, họ rất tài t́nh khi
viết các ḍng thơ nén, rất ngắn gọn và đầy ẩn dụ. Chắc chắn một người
thi nhân Lạc Việt đă chọn cho ḿnh là cuộc chiến đấu lâu dài đến cả ngàn
năm đối với bọn Phương Bắc, họ không bao giờ tự vỗ về an ủi ḿnh như thế.
Ích ǵ. Ngă xuống?,_ đứng lên!, _cầm gươm rồi xông tới. Tuổi cao nay bó
tay làm không được việc, qua thế giới bên kia ngồi mài thanh kiếm báu
cho đến khi thế giới nhân sinh này vĩnh viễn mất đi. Bạn có nghe từ trời
xanh vọng lại giọng ngâm của Người tráng sĩ cất lên từ vầng trăng treo
sáng vằng vặc trên đầu chúng ta trong bầu trời lộng gió đêm nguyên tiêu
này không?. Hành động và thái độ của người Tráng sĩ truyền niềm tin đến
cho Đàn Chim Việt đang ở khắp bốn phương trời vào những đêm rằm rực sáng,
nhất là vào đêm nguyên tiêu rằm tháng giêng đầu năm. Ai thiền th́ cứ
thiền, ai muốn gặp tiền nhân Tráng sĩ th́ hăy nh́n lên trời.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, Ruột đau như cắt, nước mắt đầm đ́a; Chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; Dẫu cho Trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, Ngh́n thây ta bọc trong da ngựa, Cũng nguyện xin làm! ” (Hịch tướng sĩ ,Trần Quốc Tuấn). Từ đó Hưng Đạo Đại Vương và danh tướng chỉ huy đoàn cảm tử quân người nhái Yết Kiêu, anh hùng Phạm Ngũ Lăo luôn là các vị anh hùng ám lấy tuổi thiếu niên của ông. Ngài truyền cho chúng ta đôi điều khôn dại trong việc vận động quần chúng trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm sau này nếu đất nước này phải cam chịu một lần nữa. Lời dạy thứ nhất chính là lời dạy của tiền nhân ta, đức Thánh Trần. Đất nước ta luôn bị họa Phương Bắc xâm lược từ thời lập quốc, nay lại tiếp tục bị xâm lăng càng lúc càng khốc liệt hơn với muôn h́nh thái ngày càng tinh vi hơn. Người lănh đạo của ta và tướng lănh của ta phải có “ nương sức dân mà lập kế lâu bền “, hai là người đại tướng cầm quân phải học ngay bài học này “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, Ruột đau như cắt, nước mắt đầm đ́a; Chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; Dẫu cho Trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, Ngh́n thây ta bọc trong da ngựa, Cũng nguyện xin làm! ” ; ba là “ khi minh chủ đoạt được chính quyền, tướng lănh phải mau mau tránh xa các Minh chủ có hành xử theo kiểu Lưu Bang, hăy chống lại Minh Chủ ấy, bởi nay cốt cách Y đă khác xưa rồi, nếu không th́ vượng khí quốc gia sẽ tàn lụi,cháu con ḿnh măi măi tàn lụi” .
Cả ba lời dạy này, Đặng Dung đều theo rất sát. Do bối cảnh xuất xứ bài
thơ rất ngặt nghèo, tráng sĩ Đặng Dung buộc phải nén ư, chúng ta ngày
nay may mắn được đọc ư Ngài, buộc ḷng phải giải mă cho được, bởi vai
tṛ người sĩ quan đề lô cho lớp 1,5 mai sau. Laiquangnam tôi tin rằng
tiền nhân ta đă gởi gấm vào đấy một bài học khôn dại, một lời dạy kín
đáo. T́m không ra, giải không tới là do tôi quá kém trí năng, các bạn
hăy tiếp tay. Xưa thế hệ Đặng Dung không làm được nhưng mai sau người
Việt ở khắp năm châu sẽ rút ra được bài học từ sự thất bại này của ông
mà tránh đi vết xe cũ. Lại một lần nói điều “ Rất tiếc!”. Cha ông là
Đặng Tất đă thờ lầm một Minh chủ khốn nạn nên đă mạng vong. Cuộc chiến
đang trên đà thắng lợi bỗng nhiên phải ngừng, tan bầy xẻ nghé, dân tộc ta
đă rước thêm lắm điều bất hạnh. Đánh giá một nhân vật mà ḿnh tưởng là
người minh chủ như Lưu Bang của Hàn Tín, hay Trần Giản Định Đế của cha
ḿnh ( Đặng Dung) đều là tai nạn cho đất nước này. Dưới mắt chúng ta cuộc đời họ (Đặng Dung và đồng đội) đều là những tấm gương anh hùng, cho dù thi nhân không tự kể ra. “ Vua tôi họ vui vẻ đón nhận cái chết, không lời ta thán. Họ cùng nhảy xuống biển tuẩn tiết không để cho địch làm nhục. Họ đă chết thay đồng bào Đại Việt chúng ta ngày ấy, chết để khí phách Việt Nam kết tinh vào cuộc khởi nghĩa tiếp theo của Lê Lợi.” Người anh hùng luôn luôn đón nhận chết một cách thật b́nh tỉnh. Trong các người anh hùng đương thời th́ cách chọn cái chết của Đặng Dung là quá đỗi anh hùng. Thật khó mà h́nh dung các hành động cực kỳ anh hùng của Đặng Dung bàng bạc trong từng từ trong thơ, nay soi lại trong lịch sử dân tộc ḿnh chúng ta không khỏi cảm thấy ḿnh đă sai trái do v́ đọc quá lẹ, nên không hiểu hết hành động của Tráng sĩ và của từng đồng đội của tiên sinh. Khi sáng tác bài thơ này từ trong khoang hầm tàu ngục thất tối om, các gương anh hùng vị quốc vong thân, mỗi người thể hiện mỗi cách. Người th́ không chết trận nhưng bị bách hại bởi chính v́ vua của ḿnh như cha ḿnh là Đặng Tất. Người tự sát khi sa vào tay giặc như Nguyễn Hy Chu [1], Ngụy Thức [2]. Người tự sát khi bị săn đuổi như Hoàng Hối Khanh. Người đang là chiến binh dũng cảm bị thương, giặc mang ra hành h́nh bởi nghĩ rằng khi bị thương th́ người không được mấy tỉnh táo khôn ngoan nên đó là lúc hỏi cung khai thác, dụ không được hành h́nh bằng cách lóc từng tấc da thịt họ nhưng họ vẫn không hề khiếp sợ, để có thể bị mua chuộc, khai báo nơi trú ẩn của đồng đội vua tôi, như danh tướng Nguyễn Cảnh Dị. C̣n ông th́ sao? Sao tiên sinh không tự sát ngay khi bị bắt? hay tiên sinh tỏ khí phách ḿnh bằng cách chửi te tát như danh tướng Nguyễn Cảnh Dị? Không. Trí chúa hữu hoài phù địa trục. Người chiến binh phải bảo vệ nhà vua, bởi vua hiện thân của danh dự quốc gia. Chỉ khi họ đă chết th́ ḿnh mới được chết sau. Họ sống ḿnh phải săn sóc chu đáo cho dù lúc này họ cũng là tù binh như ḿnh. Dĩ nhiên một khi chấp nhận áp sát theo vua, họ phải sống trong ṿng tay địch, là họ sẳn sàng chấp nhận bị tra tấn, bị cực h́nh, nhất là khi là tù binh của bọn Tàu Hán thời Minh, qua tay gian ác Trương Phụ. Trong không gian đó, qua nhiều suy ngẫm tiên sinh đă hạ bút viết hai câu xuất thần:
Thời lai đồ điếu thành công dị Và Phan Kế Bính nhà dân tộc học đầu thế kỷ 20, đă am hiểu lịch sử, đă dịch ra thơ quốc âm với ḍng thơ như có quỷ thần nhập vào. Nhờ vậy mà lớp học sinh chúng tôi ngay từ lớp nhỏ khi đọc sử của Sử gia Trần Trọng Kim đă hiểu và rất yêu thích câu thơ dịch này. Thuở đó mới học thất lục làm sao mà thuộc nổi hai câu chữ nguyên tác chữ Hán âm u trên. Thời lai đồ điếu thành công dị, Vận khứ anh hùng ẩm hận đa. (Đặng Dung),
=> Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Khi hạ bút viết hai câu này, th́ anh hùng đương thời dưới mặt Tráng sĩ
Đặng Dung là ai?. Bản thân ông có là người anh hùng hay không? Cụ thể
ra sao? Chúng ta cũng cần biết qua, có như thế th́ ta hiểu Đặng Dung
và Phan Kế Bính miệt thị đối với hai nhân vật lừng danh trong binh sử
Tàu Hán trong bài là đúng người đúng tội. 1-Xuất xứ bài thơ và Về cái chết của “Nhà vua và nội các” . Sử kể rằng “sau khi vua tôi Họ gồm nhà vua Trần quư Khoách, Đặng Dung, Nguyễn Súy … tất cả cùng bị giặc Minh bắt. Tất cả họ bị trói gom lại ngồi trên hầm thuyền trên đường giải về Yên kinh (tức Bắc Kinh ), kinh đô Tàu thời Minh. Trong một khoang thuyền ẩm thấp, tối om luôn ngập nước, hôi hám và ngột ngạt, Kẻ Sĩ Đặng Dung kiên tŕ viết lên vỏ thuyền từng từ một trong bài thơ thất ngôn bát cú của ḿnh như là cách để quên thời gian trong ngục thất. Tráng sĩ đồ đi đồ lại bằng những chiếc đũa ăn cơm. Sau khi chém được đầu Liễu Thăng tại Ải Chi Lăng, và cuối cùng chơi đẹp bằng việc cho hàng binh nhà Minh được toàn mạng ra khỏi đất nước ta, Vua Lê Lợi cho lập đoàn sứ đi cống nạp người vàng Liễu Thăng cho yên chuyện. Nhà Minh dẫn đoàn sứ giả người Việt đi xem lại khoang tàu năm xưa đă giam giữ vua quan nhà Hậu Trần. Mục đích là “hăm doạ và gieo rắc sự sợ hăi” cho đoàn sứ giả Việt. Do v́ kính yêu người đă khuất, đoàn sứ có người ở lại rất lâu trong khoang này, săm soi từng góc như để cùng chia sẻ nỗi khổ đau, nhọc nhằn của tiền nhân ḿnh gần hai mươi năm trước. Họ đă may mắn thấy ḍng chữ lờ mờ mà năm xưa Đặng Dung đă khắc trên ván thuyền. Lặng lẽ chép lại, lặng lẽ học thuộc và lặng lẽ lén mang về nước, nhờ vậy mà chúng ta có bài thơ hay duy nhất này của Kẻ Sĩ Tráng sĩ Đặng Dung. Bài thơ đúc kết tâm tư của người Tráng sĩ về thế nước, luận về các anh hùng liệt sĩ đă hy sinh v́ tổ quốc , và vai tṛ người tướng lănh phải làm ǵ để đất nước này c̣n có thể tồn tại được bên cạnh kẻ thù truyền kiếp ngày càng lớn mạnh. Sử kể rằng, Đặng Dung vốn coi cái chết nhẹ như lông hồng, ông thường ngâm vang cho các chiến hữu cùng nghe bài thơ này. “Nhóm quư Ông” cùng nhau gơ ván thuyền giữ nhịp. Lính canh xem Họ khác ǵ như cá nằm trên thớt, nay cam đành số phận. Họ không c̣n mấy ngày trên thế gian. Bọn lính canh lơ là và trở nên dễ chịu là lúc Quư Ông lập mưu, xin lính canh đựợc chút không khí để thở do bởi có người đang ốm. Bất ngờ, kẻ trước người sau cùng nhào xuống biển từ trầm qua ô cửa vừa mở ra.
Một thiên anh hùng ca lẫm liệt, một cái chết của một tập thể kiêu hùng
trong ḍng sử Việt. Đặng Dung xứng đáng là tiền hiền của dân xứ Quảng
Nam, phần đất chính trong phủ Thăng Hoa thời Trần, thế kỷ thứ 14 đầu thế
kỷ thứ 15. Google search " địa danh Quảng Nam “, tức QuảngNôm vào đời
vua Trần Nhân Tôn. [6] Luận anh hùng, mà tác giả Đặng Dung thể hiện qua hai câu
Thời lai đồ điếu thành công dị Anh hùng dưới mắt Đặng Dung họ là ai ?. Dùng đối tượng nào để so sánh?. Không có ǵ làm bật nét tương phản rơ ràng và khôn ngoan bằng cách dùng ngay những người được chính sử Tàu ngợi ca họ là anh hùng như Hàn Tín và Phàn Khoái. Tại sao Đặng Dung lại chọn hai nhân vât này, dễ hiểu bởi bọn họ được giới học tṛ của ta biết tường tận. Tiền nhân ta kinh thật! Anh hùng Việt đương thời dưới mắt Đặng Dung, họ là ai ?, sống chết thế nào?. Toàn là người thật việc thật. Không sao không cúi đầu trước họ. Măi đến 600 năm sau, như một sự hiển linh, nhà dân tộc học đă có phút xuất thần sau khi suy ngẫm câu từ của tiền nhân, Cụ Phan Kế Bính đă dịch như vầy, mới đầu ta tưởng dịch thoát ư thơ. Không đâu, ḍng thơ dịch này là một sự nối kết huyền diệu giữa người nay với tiền nhân .
=> Bần tiện gặp thời lên cũng dễ, Để làm sáng tỏ điều này, để cùng hưởng lấy cái hay nhất trong câu thơ, chúng ta hăy cùng đọc lại lịch sử. Anh hùng có thật mà cuộc đời Đặng Dung đă từng chứng kiến khi c̣n sống. Vua Lê Thánh Tông ban chiếu tặng cha con Ngài hai câu đối:
Quốc sĩ vô song, song quốc sĩ Trước kia QuảngNôm [6] là đất của Chiêm Thành, vào năm 1306 th́ thuộc Đại Việt theo thỏa ước giữa vua Chế Mân (Chiêm Thành) và vua Trần Nhân Tông (Đại Việt) .Chế Mân dâng hai châu Ô tức Thuận Châu (nam Quảng Trị, Huế) và châu Rí tức Hóa Châu (một phần Huế, bắc sông Thu Bồn) làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân, con gái vua Trần Nhân Tông. Năm 1402, nhà Hồ thay thế nhà Trần. Nhà Hồ chia Hóa Châu thành 4 châu nhỏ hơn là Thăng Châu, Hóa Châu, Tư Châu và Nghĩa Châu và đặt An Phủ Sứ cai trị. Hai viên quan cai trị Thuận Quảng vào thời ấy là Đặng Tất ở Hóa Châu (Huế) và, Nguyễn Cảnh Chân làm An phủ sứ lộ Thăng Hoa, đất Quảng Nam quê tôi ngày nay có diện tích lớn trong địa danh QuảngNôm xa xưa đó. Năm 1391, Hồ Quư Ly phong Đặng Tất làm Đại tri châu Hoá châu dưới quyền của Hoàng Hối Khanh, làm Tuyên uư sứ trấn thủ cả vùng Thăng Hoa. Hối Khanh chọn Đặng Tất, Phạm Thế Căng (sau là Việt gian) và Nguyễn Lỗ (sau là Việt gian) giúp việc cho ḿnh. Nhà Minh đem quân sang xâm chiếm nước Đại Ngu, Cha con Hồ Quư Ly thua chạy vào nam, bị quân Minh đuổi gấp. Hồ Quư Ly bèn viết thư cho Hoàng Hối Khanh, sai lấy dân Việt mới đến khẩn hoang ở đây, Thăng Hoa và dân bản địa cũ làm quân "cần vương" /( cứu vua Hồ). Được bao nhiêu quân th́ giao hết cho Nguyễn Lộ. Tháng 6 năm 1407 cha con Hồ Quư Ly bị quân Minh bắt. Quân Minh tiến vào "b́nh định" Hoá châu. Phạm Thế Căng (Việt gian) nhanh chóng đón đầu quân Minh ở Nghệ An xin hàng. Chiêm Thành nhân đó mang quân cố đánh chiếm lại đất Thăng Hoa. Dân di cư mới đến vùng đất mới trở thành rắn mất đầu. Trăm bề đau khổ. Hoàng Hối Khanh phân các cánh quân rút về Hoá châu. Đặng Tất bằng đường thuỷ đi trước, Nguyễn Lỗ đường bộ đi sau. Trấn phủ sứ Thuận Hoá là Nguyễn Phong được Nguyễn Lỗ nói sao đó, ngăn không cho Đặng Tất vào thành. Tất nổi giận bèn đánh thành. Giết được Phong. Nguyễn Lỗ lộ chân tướng Việt gian chạy sang Chiêm đầu hàng và được người Champa trọng dụng. Lính “Cần Vương” người “Thuận Quảng “ năm xưa nay tất cả đều theo về Đặng Tất. Tính nuốt xong dân Đại Việt th́ sẽ nuốt Chiêm Thành, Minh triều gai mắt nhân vật mưu sĩ mới của vua Chiêm là Nguyễn Lỗ, họ bèn dụ y sang Yên Kinh làm quan và sống vinh hiển tại đó cùng gia đ́nh. Tin lời, Nguyễn Lỗ sang Tàu, vua Minh bèn đem giết đi. Tại quê nhà, cả gia đ́nh việt gian Nguyễn Lộ bị Hoàng Hối Khanh thịt sạch . Nói về Hoàng Hối Khanh và Đặng Tất. Trương Phụ biết Hoàng Hối Khanh là hiền tài của nhà Hồ bèn sai Đỗ Tử Trung đi chiêu dụ họ. Hối Khanh không ra cộng tác với giặc Minh xâm lược, ông bỏ trốn. Tướng quân Đặng Tất bị lâm vào thế kẹp thịt, nằm giữa hai kẻ địch. Phía Nam th́ quân Chiêm như bầy hổ đói ,nặng ḷng căm thù, họ đánh ra đ̣i lại đất, dân mới di cư đến lập nghiệp, lớp bị giết, lớp bị hăm hiếp, dân t́nh đói khổ trăm bề. Phía Bắc th́ quân Minh đang cực kỳ tàn bạo với dân Đại Việt, đốt sạch phá sạch lăng miếu quốc gia theo lệnh của Minh Thành Tổ. Đặng Tất bèn chọn quyết định khó khăn nhất trong đời làm tướng của ḿnh, đầu hàng quân Minh cốt để cứu dân. Thị phi? , mặc!. Phải chận ngay cánh quân Chiêm như bầy hổ đói kia trước. Sau đó, sẽ tính đến quân nhà Minh bởi binh sĩ Tàu Hán chuyên nghiệp, tiềm lực hơn, phải có cách tập hợp binh lực khác thường. Nay là lúc thế nước như lửa cháy, ta chưa đủ sức trực diện với bọn họ. Đặng Tất xin hàng, quân Minh xem như đă tạm yên phía Nam, nhẹ tay với dân Đại Việt trong vùng đất cai trị của ông. Dân Thuận Quảng tạm thời được yên, họ hết sức biết ơn ông. Trương Phụ cho ông giữ chức Đại tri châu Hoá châu như cũ. Tạm yên mắt phía Bắc, Đặng Tất dồn sức chống đỡ Chiêm Thành phía Nam. Với tài thao lược của ḿnh, quân Chiêm không đánh nổi phải lui quân. Đặng Tất ngày đêm lo việc phục quốc. Phải đi t́m Hoàng Hối Khanh bàn mưu chống quân Minh. Nghe tin Hoàng Hối Khanh đang ở Cù Lao Chàm ( tức vùng biển Cửa Đợi, Hội An bây giờ), mừng quá, nhưng đến nơi th́ được dân ở đây cho biết: “Tháng 7 năm 1407, Hối Khanh về đến cửa Hội, gặp gió to đánh vỡ thuyền, binh sĩ không c̣n, bị tay sai của giặc Minh vây tứ bề, Hối Khanh tự sát. Trương Phụ bèn cho người đem thủ cấp của Hối Khanh ra bêu ở chợ Đông Đô để thị chúng” [4] . Thói giết người, rồi cắt đầu người mang về báo công với vua Hán, hay treo tại nơi thị tứ để răn đe, là phong cách hành xử xưa nay của bọn Tàu Hán xâm lược có từ hàng ngàn năm trước đối với dân tộc ta. Người Tàu Hán tin rằng, một khi người bị mất đầu, th́ do thân và đầu không liền nhau họ sẽ không bao giờ được đi đầu thai trở lại thành người để báo thù họ. Quả thật, bọn Tàu Hán từ vua đến quan luôn sợ ḷng căm thù dai dẳng của người Việt, nên luôn cắt đầu tướng Việt bại trận. Đặng Tất đau buồn. Thương tiếc. Thề báo thù cho chủ tướng và ông đă thực hiện và đă chém đầu trả thù không biết bao nhiêu danh tướng Tàu đi theo Mộc Thạnh tại trận Bô Cô sau đó không lâu . Hoàng Hối Khanh là anh hùng dưới mắt Tráng sĩ Đặng Dung. Phẩm chất thứ nhất :
Phận làm tướng cần khí tiết, chọn tự sát không để sa vào tay địch khi sa
cơ.
Trương Phụ cùng tướng người Việt là Mạc Thuư vào cướp nước Đại Việt năm
1408), Mạc Thuư đă lấy một người phụ nữ Việt. Bà con ai?, Họ ǵ ? Sinh
ra ông nội của Mạc Đăng Dung. Mạc Thuư là tổ bốn (4) đời của Mạc Đăng
Dung (Dung sinh ngày 23 tháng 11, 1483 ) mang quân vào đánh Diễn châu.
Quân Hậu Trần ít không chống nổi, rút vào Hoá châu. Khi Trương Phụ đuổi
đến cửa sông Gianh, Phạm Thế Căng ra đón, được Phụ cho làm Tri phủ Tân
B́nh. http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%B7ng_T%E1%BA%A5t (nguồn
này đáng tin cậy nhất về thân thế Mạc Đăng Dung). Vậy nhá, rơ ràng Mạc
Đăng Dung vốn là anh Việt gian nhà ṇi. Cái đuôi gốc Tàu quá rơ. Người
Việt đă dại dột nuôi ong tay áo nhiều lần khi xử dụng người Tàu trong
“nội các” của ḿnh. Biết bao giờ người lănh đạo quốc gia chúng ta học
được cái ngu này?, Thấm và đau quá cho dân tộc Việt!. Mạc Đăng Dung phá
nát đất nước này là vậy. Mạc Đăng Dung nhờ ông có ông cố nội gốc Minh
Tàu Hán 100%, nên trong nhà có đồng ra đồng vào. Xuất phát điểm của Mạc
Đăng Dung tốt hơn với các bạn trẻ người Việt cùng trang lứa, nên y đă có
điều kiện học hành tốt hơn và đậu tiến sĩ thời Hậu Lê không có ǵ phải
ngợi khen y; vả lại tiếng Tàu vốn là tiếng nói của ông cố nội y. Y thử
sinh ra trong một gia đ́nh người Việt, cơm không đủ ăn, sách không có mà
học, nhà dột cột xiêu th́ biết đá biết vàng. Gốc Tàu Hán trong Mạc Đăng
Dung quá rơ, sau Y cướp ngôi lên làm vua và dâng đất Cao Bằng cho Tàu
Hán. Danh dự ǵ mà nhận là hậu duệ của y. Vài anh hùng từ ḍng họ nhà y
có do v́ số người này quá mau mắn khi họ được pha trộn qua quá nhiều đời.
Từ máu họ ngoại người Việt, người mẹ Việt Nam của họ đă rót vào họ gịng
máu Việt, hát ru họ qua ḍng ca dao, đẫm t́nh thương và nhân cách Việt
nên họ đă trở thành người Việt, nhưng đó là những nhân vật vô cùng quư
hiếm trong lịch sử. Không biết ai trong số các hậu duệ của y sẽ đổi sang
họ Tàu [莫],đọc theo âm Bắc Kinh là Mo. như lăo Wu Khiêu đă làm mới đây,
2014?. Chờ xem!. BaTàu đời đời là vậy. Dễ ǵ thay đổi ḍng máu Đại Hán
trong người bọn họ?. Lại nói về việc Trương Phụ và Mạc Thuư mang quân
vào đánh Diễn châu. Quân Hậu Trần ít không chống nổi, rút vào Hoá châu.
Khi Trương Phụ đuổi đến cửa sông Gianh, Phạm Thế Căng ra đón, được Phụ
cho làm Tri phủ Tân B́nh. Coi như đă dẹp xong Giao Chỉ, Phụ rút về Đông
Quan (Hà Nội) rồi mang đại quân về nước. Tháng 5 năm 1408, Đặng Tất, sau
khi giết tướng nhà Minh, cướp thành, từ Hoá châu dẫn quân theo ra đánh
chiếm lại Nghệ An, về cùng Trần Giản Định Đế. Tân B́nh vẫn do Phạm Thế
Căng chiếm giữ. Thế Căng cậy quyền hống hách, tự xưng là Duệ Vũ đại
vương. Tháng 7 năm 1408, Đặng Tất mang quân vào đánh Tân B́nh, phá tan
quân Thế Căng ở cửa Nhật Lệ, bắt giết Căng và cháu là Đống Cao. Quân Hậu
Trần làm chủ từ Nghệ An tới Thuận Hoá.
Minh Thành Tổ sai Mộc Thạnh, Lưu Tuấn mang 4 vạn quân sang tiếp viện.
Thạnh họp với Lữ Nghị ở Đông Quan, tập trung ở bến Bô Cô (Nam Định).
Ngày 9 tháng 1 năm 1409, dưới sự chỉ huy của Giản Định đế và Đặng Tất,
quân Hậu Trần đánh bại quân Minh một trận oanh liệt. Họ đă giết chết
thượng thư bộ binh Lưu Tuấn ( bộ trưởng bộ quốc pḥng của Minh triều) ,
Đô đốc Lữ Nghị, tham chính ty bố Giao Chỉ là Lưu Dục, đô chỉ huy sứ Liễu
Tông và đă đánh tan 10 vạn quân Minh. Mộc Thạnh dẫn tàn quân chạy vào
thành Cổ Lộng. Giản Định đế muốn thừa cơ đánh ngay vào lấy Đông Quan,
nhưng Đặng Tất lại chủ trương đánh xong số quân địch c̣n sót lại rồi mới
tiến. Ư Đặng Tất lẫn Nguyễn Cảnh Chân là tướng tài họ quen điều binh nên
nghĩ cần phải có một hậu phương vững trước nếu ham đánh Đông Quan có khi
bị Trương Phụ đánh chờ sẳn sẽ tấn công vào chỗ pḥng thủ mỏng của ḿnh.
Nhà vua không nghe, nghe lời hoạn quan, lập kế bắt giết cả hai tướng như
ta đă biết ở
phần I.
Hạnh phúc thay cho những ai có tiền nhân đă vị quốc vong thân. Nguyễn Cảnh Dị ( ? – 1414) con của danh tướng Nguyễn cảnh Chân là một tướng văn vơ song toàn, người Nghệ An. Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị đă có một vài trận thắng lớn trước hai kẻ thù là Trương Phụ và Mộc Thạnh. Trong đó có trận đánh lớn vào tháng 9 năm Quư Tị (1413) ở khu vực Thái Gia. Theo Minh Sử của Trương Đĩnh Ngọc (người Trung Quốc) th́ trận đánh này xảy ra tại Ái Tử, nay thuộc huyện Triệu Phong, Quảng Trị (dẫn lại từ vi-Wikipedia , theo Nguyễn Khắc Thuần, sách đă dẫn, tr. 235).Tuy thắng trận hôm nay nhưng lại là điều khơi mào cho sự bại trận chung cuộc của họ mai sau. V́ sao?Một là Nhà Minh đă tăng bổ sung cho Trương Phụ 50.000 quân. Mặt khác, sau khi thắng nhà Hồ, bọn Trương Phụ đang làm chủ đất nước ḿnh, y đă ḅn rút tài nguyên, bóc lột người Việt tại chỗ làm phu phen, làm dân công nấu cơm, tải thương cho lính láp bọn họ trong các trận đánh nhau chống lại Nghĩa quân . Bọn họ đă gom được khối tài sản khổng lồ do Nhà Hồ vơ vét trong đợt đổi tiền trước đó. Đổi tiền là vụ cướp cạn tài sản trắng trợn của nhân dân được giấu dưới chiêu bài rất tinh vi. Cha con Hồ cho in tiền giấy, thứ tiền âm phủ, thay cho tiền bằng bạc nén vốn đă dùng từ ngàn năm trước. Nhà Hồ khốn nạn đă vét tài sản sạch của nhân dân trong đợt đổi tiền này. Hai là, sau mỗi trận thắng, Đặng Dung lại hao quân mất tướng. Lực lượng hao hụt đến phân nửa mà không sao có nguồn lực bổ sung. Đặng Dung muốn huy động sức dân cũng không c̣n mấy người yêu nước giàu có giấu lén tiền cung cấp. Là người tướng tư lệnh, Đại tư mă, đă h́nh dung sự “thất bại của ḿnh”. Quư Tị (1413), bấy giờ quân nhà Trần ít lắm. Trương Phụ vào đến Nghệ An, quan Thái Phó (chức quan văn tương đương với thủ tướng bây giờ) của nhà Hậu Trần là Phan Quư Hữu ra hàng. Con Quư Hữu là Liêu được Trương Phụ cho làm tri phủ Nghệ An. Phan Liêu tâng công. Y Khai báo về t́nh h́nh nội bộ bởi cha y là người điều hành việc hành chánh cho vương triều. Y khai nhà vua Quư Khoách hiện có bao nhiêu tướng tá, người nào giỏi, người nào dở, quân số nhiều ít, núi sông địa h́nh chổ nào hiểm, chỗ nào không nhất nhất khai cả cho Trương Phụ biết. Nghe xong, Trương Phụ bèn quyết ư vào Hóa Châu, và hội chư tướng lại để bàn kế tiến binh. Đặng Dung lấy làm lo lắng kể từ khi cha con Phan Quư Hữu ra hàng giặc. Ông bàn với tướng Nguyễn Cảnh Dị về việc tổ chức cuộc tấn công cảm tử lên thuyền Trương Phụ, dù thế nào cũng c̣n hơn là để t́nh h́nh khốn cùng này kéo dài như cá nằm trong đ́a khi bị tát nước. Khi xưa cha ông là Đặng Tất đă một thời cai trị đă “nương sức dân” khiến cho dân Quảng Nam yêu mến ḍng họ này. Nguyễn Cảnh Dị kinh ngạc khi nghe rằng “tự thân ông sẽ thống lĩnh những cảm tử quân người nhái dân Quảng Nam này “, mặc dù ủng hộ ư kiến nhưng Nguyễn Cảnh Dị dành đi thay ông. Cảm động lắm, Đặng Dung ôm lấy Nguyễn Cảnh Dị, ông nói xưa cha ta thường dạy “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, Ruột đau như cắt, nước mắt đầm đ́a; Chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; Dẫu cho Trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, Ngh́n thây ta bọc trong da ngựa, Cũng nguyện xin làm! ” (HTS), Đặng Dung lặp lại. Nguyễn Cảnh Dị làm thinh, biết tiên sinh đă quyết làm theo lời dạy của người xưa. Nên có dành cũng là vô ích. Nguyễn Cảnh Dị hỏi liệu Tướng Quân mệnh hệ ǵ th́ tôi phải làm sao?. Đặng Dung cười bảo hăy tin nơi ta. Nguyễn Cảnh Dị suy nghĩ một hồi rồi nói rằng, xưa hai ông cha họ đă từng làm quan tại đất QuảngNôm nên họ biết thuộc tính và tài năng của dân làng chài Cửa Đợi, cù lao Chàm. Ông khuyên Đặng Dung nên chọn những người này trong đám cảm tử quân cùng đi. Nghe Nguyễn Cảnh Dị nhắc dân làng chài Cửa Đợi, Đặng Dung bồi hồi nhớ lại. Ông nhớ như in năm xưa theo cha đến vùng đất này đi t́m lại chủ tướng của cha ḿnh năm xưa là Hoàng Hối Khanh để bàn việc phục quốc kháng Minh. Đặng Dung không sao quên được tại hải đảo này có địa h́nh giống như Vương Kiến mô tả trong bài Vọng Phu Thạch. Lúc dân làng chài đón cha con ông, bất giác ông ngâm lên bài Vọng Phu Thạch. Cảm khái cảnh người chiến binh ra đi mà không hẹn ngày về. Người vợ ngày ngày ra đứng đầu núi bên sóng biển thét gầm ngóng đợi. Cảm mến v́ đại nghĩa ngày xưa của cha ông và tướng Nguyễn Cảnh Chân, người dân ở đây xin theo kháng chiến khá đông. Lần đó, Cha ông chỉ chọn người nhẹ gánh gia đ́nh, c̣n trẻ, c̣n những người khác tuy nặng ḷng yêu nước, nhưng họ c̣n mẹ già, con thơ nên đành khuyên họ hăy dành ḷng yêu tổ quốc đó vào một công việc khác nhẹ nhàng hơn. Nay điểm lại, quả thật các cận tướng của cha ông đa phần là dân Thuận Quảng theo cha ông tham gia trong trận tấn công Bô Cô và nay theo hầu dưới trướng ông.
-Trận đánh quyết tử, tác giả là người anh hùng [5] Chuyện khó tin trong binh sử thế giới, trường hợp hy hữu này duy chỉ có trong quân sử Đại Việt. Khi vị tướng tư lệnh lại là cầm đầu toán người nhái cảm tử rất gọn nhẹ đánh thẳng vào sào huyệt kẻ tử thù. Việc tổ chức đă xong đợi ngày G sẽ đến. Cơ hội đến, vào tháng 9 được biết quân Trương Phụ vào đến Thuận Hóa, và kéo binh tập kết vào ngă ba sông này để tổ chức cuộc săn đuổi vua quan Hậu Trần đang đóng quân ở trên bờ. Quan thái phó Nguyễn Súy và quan đại tư mă Đặng Dung nửa đêm chia quân đến đánh Trương Phụ. Quan thái phó Nguyễn Súy dùng thuyền nhẹ đánh nghi binh, giặc Minh trào về phía Nguyễn Suư, và thừa lúc đó Quan tư mă Đặng Dung lao ḿnh xuống nước trước, hơn mươi chiến sĩ cảm tử quân lao theo sau. Họ bơi nhanh về phía thuyền lớn nhất, sáng nhất trên sông. Từ dấu hiệu của Đặng Dung, bọn họ leo lên được thuyền của Trương Phụ, dùng đoản đao thịt lẹ các tên lính trên sàn. Họ nhào vào tên mập mạp nhất, phương phi nhất và đă bắt sống tên này, lôi y xuống nước. Y la lên. Do v́ không biết thường ngày tên Trương Phụ mặc quần áo ǵ, do chưa thấy mặt kẻ thù lần nào, nên họ đă bắt lầm. Thừa cơ Trương Phụ lập tức nhảy xuống sông lấy cái thuyền con mà chạy thoát. Bấy giờ quân nhà Trần ít lắm nên khi Trương Phụ nhận ra họ chỉ là toán cảm tử nên đă huy động binh sĩ phản công. Đặng Dung và binh sĩ địch không nổi phải bỏ chạy. Từ khi thua trận ấy rồi, Trần Quư Khoách thế yếu quá không thể chống với quân giặc được nữa, phải vào ẩn núp ở trong rừng núi. Phần v́ không có quân lương tiếp viện, phần v́ quân lính hao hụt mà không có nguồn bổ sung. Qua lời khai của Việt gian tên là Phan Liêu, con quan thái phó (thái phó là chức gần gần với chức phó thủ tướng nội các bây giờ) hàng đầu người Nghệ, nay được Trương Phụ cho làm tri phủ Nghệ An, khai báo tường tận t́nh h́nh của vua quan nhà Hậu Trần lúc ấy, nên quân Minh càng hết ḷng truy kích mà không sợ phục binh. Trong một trận đánh cuối cùng chống càn, Thái bảo Nguyễn Cảnh Dị nhận vai tṛ cản hậu để Đại Tư Mă Đặng Dung, Thái phó Nguyễn Suư tập trung hộ giá nhà vua Trần Quư Khoách, thoát thân trước. Thái bảo Nguyễn Cảnh Dị chẳng may bị trúng tên của quân Minh, nên bị bắt. Giận v́ bắt hụt vua tôi nhà Hậu Trần để lập công với Minh đế, do sự kháng cự ngoan cường của Nguyễn Cảnh Dị, vừa sợ do nhớ lại lần thoát chết một cách đầy may mắn vào mấy tháng trước từ cuộc tập kích , nên y dùng mọi thủ đoạn lẫn tra tấn buộc Nguyễn Cảnh Dị cung khai, rằng bọn họ đă trốn vào đâu.
Cái chết thảm khốc của vị tướng tham mưu, quan thái bảo Nguyễn Cảnh Dị. Thái bảo Nguyễn Cảnh Dị bị giặc bắt v́ bị trúng tên. Trương Phụ truyền mang ông đến. Trương Phụ dụ hàng và vỗ về để Nguyễn Cảnh Dị khai ra chổ ẩn núp cùng lực lượng c̣n lại quân binh Hậu Trần. Nguyễn Cảnh Dị đă mắng ngay vào mặt Trương Phụ. Bọn Tàu Hán muôn đời nham hiểm. Xưa nay tiền nhân họ đă có những biện pháp xử tội kẻ thù cực kỳ man rợ và đau đớn. Có lẽ trong lịch sử nhân loại về lănh vực tra tấn và hành hạ kẻ thù, họ thuộc vào hàng bậc thầy. Trương Phụ mang người chiến binh đang bị thương kia ra trước mặt truyền lệnh cho thuộc hạ ngồi lột từng phân da để kéo dài sự đau đớn cho nạn nhân, trong khi y vừa uống rượu vừa xem việc hành h́nh. Trước cách xử lăng tŕ này, Nguyễn Cảnh Dị c̣n chút hơi thừa nào là tiếp tục mắng nhiếc Trương Phụ và nhà vua Minh Thành Tổ của y không thôi. Có chút rượu vào, xừng xừng y lệnh đă cho mổ bụng, moi gan danh tướng Đại Việt Nguyễn Cảnh Dị để y được ăn thử. Theo y lư Tàu, ăn ǵ bổ nấy, Nguyễn Cảnh Dị là người cực kỳ can đảm nên y cho gan mật của Nguyễn Cảnh Dị hẳn phải rất dị thường, được ăn gan uống máu người can đảm khiến cho ḿnh được can đảm như họ. (Theo Đại Việt sử kí toàn thư và các nguồn khác,) . Sau đó không bao nhiêu ngày vua Trùng Quang Đế, Đồng b́nh chương sự Đặng Dung, Thái phó Nguyễn Suư đều bị bắt. Đặng Dung không tự sát vào lúc này v́ bổn phận của ông là hộ vệ nhà vua. Ông không thể chết trước vua để vua ḿnh bị nhục khi ở một ḿnh. Và cơ hội đến họ đă cùng chết một cách oanh liệt như ta đă biết.
Bạn đă đọc và đă hiểu khí phách của tiền nhân ta.
Xin đọc đoạn tiếp,
Luận Anh Hùng Tàu thời Đại Hán. Chú thích và tham khảo. * Xin đọc loạt bài Cảm Hoài của Đặng Dung. Đọc bài này PII, d1, Thế Sự Du Du, CẢM HOÀI trước để hiểu phong cách mă thượng của danh nhân Đại Việt xưa trên www.art2all.net hay trên trang *http://chimviet.free.fr/vanco/laiquangnam/lqnt054.htm.
Hay là các trang mạng khác đă lấy về đăng lại. Của trời trăng gió kho vô
tận. Xin làm ơn phản hồi ư kiến nếu có, hay cho laiquangnam biết trang
web của ḿnh có đăng lại bài của www.art2all.net hay của Chim Việt Cành
Nam. Sai th́ laiquangnam chỉnh sửa viết lại, có sao đâu. laiquangnam cám
ơn vô cùng.
Tháng 11 năm 1413, Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị bị Trương Phụ bắt sống
khi đang t́m đường tạm lánh sang Xiêm La để tính kế lâu dài. V́ liên tục
lớn tiếng chửi mắng nên Nguyễn Cảnh Dị đă bị Trương Phụ hạ lệnh giết
ngay. C̣n Đặng Dung cùng Trần Quư Khoáng, Nguyễn Súy và một số tướng
lănh khác bị áp giải về Yên Kinh (Trung Quốc). Dọc đường, Trần Quư
Khoáng nhảy xuống biển tự tử, Đặng Dung cũng lập tức nhảy xuống chết
theo. [5] Theo Minh Thực lục : Quan Tổng binh Anh quốc công Trương Phụ mang quân đến trang Tra Hoàng, huyện Chính Hoà, châu Chính B́nh (Quảng B́nh); tướng giặc là Hồ Đồng hàng. Nghe tin bọn Đặng Cảnh Dị, Đặng Dung, Long Hổ Tướng quân nguỵ Lê Thiềm hơn 700 tên chạy đến sách Côn Bồ, Tiêm Man; bọn Phụ tiến binh ngay đến sông La Mông. Phải theo đường núi vin cành lá mà leo lên nên đành bỏ ngựa, tướng sĩ tiếp tục đi theo. Đến sách Côn Bồ, bọn Cảnh Dị đă bỏ trốn; lại truy kích đến sách Tra Bồ Nại, bọn giặc và dân địa phương đều trốn, không biết ở chốn nào, nên làm cuộc lục soát lớn. Vào canh tư, đi trên 20 dặm, nghe tiếng trống điểm canh, Phụ sai Đô Chỉ huy Phương Chính mang quân lẳng lặng đi, đến lúc trời sáng đến phía bắc sông, tại sách Tra Bồ Cán. Giặc lập trại tại bờ phía nam, quan quân vượt sông vây đánh. Giặc chống không nổi, tên bắn liên tiếp trúng, Cảnh Dị bị thương tại sườn, bắt được. Đặng Dung trốn, Phương Chính mang quân truy lùng, bị bắt cùng với em là Đặng Nhuệ. Bắt hết bọn giặc Lê Thiềm, tịch thu ấn nguỵ của Cảnh Dị. Cảnh Dị bị thương nặng, bị róc thịt lấy thủ cấp, áp giải cùng anh em Đặng Dung đến kinh đô; tất cả đều bị xử chém để làm răn. (Minh Thực Lục quyển 13, tr. 1727-1728; Thái Tông quyển 147, tr. 2a-3b) // http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%B7ng_Dung
Có bao nhiêu phần trăm đứng sự thật trong Minh Thực lục bên trên ?
Tại Việt Nam có một lối viết sử đáng chê trách từ các người được chúng
ta gọi họ là sử gia. Thói xấu này và ấu trĩ của bọn sử gia này là ǵ ?
Người Việt hiện nay phải cần lên án họ thật nặng nề, nếu không th́ ít
nhất cũng đem ngay sách của họ quẳng vào sọt rác, trừ sách của Sử gia
Trần Trọng Kim. Đó là các vị gọi là sử gia này khi xử dụng các nguồn
sách từ bên Tàu đă không nhận định được chỗ đúng sai các ḍng sử liệu đă
dẫn. Đâu là câu tuyên truyền, đâu là câu vuốt mặt tự sướng của các triều
đại Tàu đối với dân tộc Lạc Việt. Sử gia cái ǵ mà cứ ào ào, cắm cúi ghi
ghi chép chép vào cho đầy trang sách. Họ là ai ? có thể là giới viết sử
đa phần xuất thân từ các đại học tại miền nam Việt Nam mà trong đó Tạ
chí Đại Trường nổi đ́nh đám nhất. Y xuất thân từ ĐHVK SG . Sử Tàu từ
khi nhà Hán đến xâm lăng Lạc Việt, ngay từ thế kỷ thứ 5 hầu như ngầm
định rằng, phải luôn luôn bêu rếu kẻ bại trận, luôn luôn có câu văn,
“bắt dẫn về Yên kinh, bêu đầu thị chúng, cắt đầu mang thủ cấp về Yên Kinh”. Ta hăy xem sử nhà Tống họ viết với văn phong tự sướng về quân ḿnh (quân
Tàu Hán) khi họ bị thảm bại trước danh tướng Lư Thường Kiệt, có độ lệch
rất lớn giữa Tống sử và trang hồi kư của người trong cuộc ra sao. Từ đó
suy ra, liệu các trang sử khác của họ có đáng tin không ?. Thời điểm có
thể đúng, nhưng chi tiết về kẻ bại trận, viết về dân tộc Việt, anh hùng
Việt, hầu như họ viết không có chút nào gọi là đúng cả, bởi chính
người trong cuộc c̣n chưa thấy huống ǵ măi đến bốn năm trăm năm sau. Có
lẽ nói không ngoa, nhiều người viết sử Việt bây giờ là bọn người “ khờ
bẩm sinh“ đôi khi cũng đúng. Đôi khi sự tường thuật của người trong cuộc
có khi đúng sự thật hơn nếu như ta biết tường tận vai tṛ của họ, bởi
nhiều người trong số ấy họ viết ra những điều nghe thấy cốt rút ra kinh
nghiệm cho con cháu họ khi tham chiến tại Đại Việt.
[4] Theo VNSL của Sử gia Trần Trọng Kim. Về trận tấn công cảm tử. Đang khi đôi bên quân nam và quân bắc đang cầm cự nhau th́ Đặng Dung bí mật dùng bộ binh và tượng binh mai phục, đúng nửa đêm th́ bất ngờ đánh úp vào doanh trại của (Trương) Phụ. (Đặng) Dung đă nhảy lên thuyền của (Trương) Phụ và định bắt sống (Trương) Phụ nhưng lại không biết mặt để có thể nhận ra hắn, v́ thế, (Trương) Phụ liền nhảy sang thuyền nhỏ chạy thoát. Quân Minh bị tan vỡ đến quá nửa, thuyền bè, khí giới bị đốt phá gần hết, thế mà (Nguyễn) Súy không biết hợp lực để cùng đánh. (Trương) Phụ biết quân của (Đặng) Dung ít nên lập tức quay lại đánh. (Đặng) Dung đành phải chịu thất bại, quân sĩ chạy tan tác hết. Đại Việt sử kư toàn thư (Bản kỉ toàn thư, quyển 9, tờ 22-b).
Khâm Định
Việt Sử Thông Giám Cương Mục chép tương tự và kèm theo lời b́nh là: Trời
buông tha Trương Phụ (Chính biên, quyển 12, tờ 39). [7] Đoạn sử trên, laiquangnam lấy nguồn từ vi-wikipedia và các nguồn khác, nay laiquangnam chỉ sửa lại vài câu chữ cho gọn. Xin thành thật cám ơn các tác giả và chủ các trang websites
[8] Xin đọc bài Ḥn Vọng Phu Quảng Nam để h́nh dung nơi đến của cha con
Đặng Tất-Đặng Dung
|