QUẺ
DỊCH
CÁCH LẬP VÀ GIẢI ĐOÁN
(5)

PHẦN
III
PHẦN PHỤ CHÚ
~~oO))((Oo~~
A. PHƯƠNG PHÁP LẬP QUẺ DỊCH BẰNG THẺ TRE
1. Vật dụng và nghi thức
a. Các loại thẻ :
-- Dùng 50 cọng cỏ thi (hoặc 50 thẻ tre) dài 25 - 30 cm
như đã nói trên, hợp thành một bó, dùng để bói.
-- Dùng 6 thẻ tre dẹp nữa, mỗi thẻ dài 3 - 4 inch (8 -
10 cm) x ngang 1/2 inch (1,5 cm) tượng trưng 6 hào ( để
lập quẻ): trên 1 mặt vẽ nét đứt ( - - ) tượng trưng âm,
màu đen; mặt đối vẽ nét liền ( __ ), tượng trưng dương,
màu đỏ.
-- Dùng 2 đồng tiền để gieo sấp ngữa
b. Những vật dùng để đựng các loại thẻ và cách bài
trí :
-- Ống tre hoặc cái tráp, hộp
Dùng cái ống tre hoặc cái tráp (gọi độc), đường kính
khoảng 8cm, có nắp đậy, để đựng 50 thẻ.Trước khi bỏ thẻ
tre vào ống hoặc tráp thì bọc bên ngoài bằng một tấm lụa
điều (tỏ ý tôn trọng), rồi bỏ vào trong một túi lụa màu
đen, rồi mới bỏ vào trong ống tre (tráp) và đậy lại.
-- Bình gốm (hoặc đồng) :
Dùng cái bình bằng gốm để đựng 6 thẻ tre (tượng trưng 6
hào).
c. Cách bài trí :
Người ta để ống tre (tráp, hộp) sau án thư. Trước cái
tráp để 2 đồng tiền (dùng đoán sấp ngữa), trước 2 đồng
tiền là bình gốm (hoặc đồng) đựng 6 thẻ, trước bình gốm
là lư hương.
d. Các nghi thức :
Thanh tẩy, nghi thức này được tiến hành vào buổi sáng,
trước khi điểm tâm; là để bụng trống, tắm rửa sạch sẽ.
Thanh tẩy xong, thì thắp hương, thắp đèn (nến). Bày trên
hương án 6 thẻ tre tượng trưng ( 6 hào) thành quẻ Địa
Thiên Thái.
Thắp hương xong, quỳ gối trên tấm nệm, đọc lời khấn:
Thiên địa vô ngôn, tôi tin rằng Trời Đất cảm nhận được
tâm thành mà soi sáng cho tôi được rõ nẻo cát hung
(tốt, xấu).
Khấn xong, thả hai đồng tiền tròn xuống đất:
-- Nếu một sấp, một ngữa thì có thể tiến hành dự đoán.
-- Nếu cả hai đều ngữa hoặc đều sấp là chưa được, phải
ngồi định tĩnh lần nữa, sau đó lại thả tiếp hai đồng
tiền. Nếu vẫn sấp cả hoặc ngữa cả, thì kết thúc nghi
thức, không dự đoán. Phải chờ đến lúc khác.
Tất cả nghi thức trên, vừa bày tỏ sự thành tâm, vừa thể
hiện sự tập trung tinh thần vào việc dự đoán.
2. Phương pháp tiến hành lập quẻ
a. Lập nội quái :
1- rút 1 cọng thẻ tre trong bó (50
chiếc) bỏ trở lại vào bình gốm ; biểu thị từ Vô cực
chuyển thành Thái cực; thẻ tre tượng trưng Thái cực.
Trong quá trình dự đoán, người ta không đụng đến thẻ tre
tượng trưng Thái cực.
2- chia số thẻ còn lại (49 thẻ) thành
hai nhóm ngẫu nhiên.
Nhóm tay trái để sang bên trái bình gốm. Nhóm tay phải
để bên phải bình gốm. Hai nhóm thẻ biểu thị Lưỡng nghi
(Thái cực sinh Lưỡng nghi).
3- lấy 1 thẻ tre ở nhóm thẻ tre bên
phải, kẹp vào giữa ngón tay út và áp út (đeo nhẫn) của
tay trái.
4- rút nhóm thẻ bên phải mỗi lần 2
thẻ, tượng trưng âm – dương. Tiếp tục 4 như lần thế,
tượng trưng Tứ tượng. Tổng cộng số thẻ đã rút là 8 thẻ,
tượng trưng Bát quái.
5- tiếp tục rút thẻ như trên. Cho đến
khi nhóm thẻ bên phải chỉ còn từ 0 - 7 thẻ (tức là không
đủ tụ để rút).
Thí dụ : còn 2 thẻ.
6- lấy 1 thẻ kẹp ở ngón tay út và áp
út tay trái, bỏ vào nhóm thẻ bên phải còn lại (2 thẻ);
ta được tổng cộng là 3 thẻ.
7- đối chiếu số thẻ với số của Bát
quái, ta tìm ra quẻ, hình quẻ, để lập thành nội quái
Thí dụ : Đối chiếu, thấy số 3 là quẻ Ly.
8- đổi nội quái (Càn) quẻ Địa Thiên
Thái (đã xếp trên) thành quẻ Ly vừa chiêm được. Quẻ Địa
Thiên Thái thành quẻ Địa Hỏa Minh.
|

Địa Thiên Thái |
===> |

Địa Hỏa Minh Di |
b. Lập ngoại quái :
Lấy 49 thẻ gộp lại thành một bó, chia bó này ra làm hai
tụ một cách ngẫu nhiên, một tụ để bên phải, một tụ để
bên trái bình gốm. Nhưng lần này lấy nhóm thẻ ở bên trái
bình gốm.
Mọi thao tác tương tự như đã làm với nhóm thẻ bên phải:
Nhón 1 thẻ kẹp vào ngón tay út và áp út. Tiến hành rút 4
lần mỗi lần 2 thẻ. Số thẻ còn lại từ 0 – 7 thẻ. Cộng với
1 thẻ kẹp ở ngón tay. Tìm được tổng số. Đối chiếu với số
Bát quái. Ta có ngoại quái.
Ví dụ : Còn lại 6 + 1 = 7
Đối chiếu với số Bát quái 7 là Cấn. Thay Cấn vào 3 hào
(được lập bởi 6 thẻ dẹp còn lại (ngoại quái Khôn quẻ Địa
Hỏa Minh) ta có quẻ : Sơn Hỏa Bí

c. Tìm hào động :
Lấy 49 thẻ gộp lại thành một bó, chia bó này ra làm hai
tụ một cách ngẫu nhiên, một tụ để bên phải, một tụ để
bên trái bình gốm.
Lấy 1 thẻ tụ thẻ bên phải, kẹp bên ngón tay áp út và
ngón tay út của bàn tay trái.
Rút thẻ trên tụ phải, mỗi lần 2 thẻ (âm – dương), chia
thành mỗi nhóm 6 thẻ
(tượng trưng 6 hào). Khi trên tụ phải số thẻ còn lại nhỏ
hơn 5, lấy số thẻ đó cộng với thẻ đang kẹp ở tay trái,
tổng số chính là hào động.
Số 1 là hào 1 động, số 2 là hào 2 động, số 3 là hào 3
động, số 4 là hào 4 động, số 5 là hào 5 động, số 6 là
hào 6 động.
Thí dụ : Sau khi rút còn 4 thẻ + 1 thẻ bên tay trái = 5
là hào 5 động.
Nếu hào động là động dương thì đổi dương thành âm, nếu
hào âm động thì đổi âm thành dương.
Thí dụ :
Từ quẻ Sơn Hỏa Bí trên (quẻ chủ), hào 5 (âm) là hào
động, đổi âm thành dương:
Sơn Hỏa Bí
thành quẻ biến Phong Hỏa Gia Nhân

Ta có hai quẻ trùng quái, quẻ đầu là quẻ chủ (xem sự
việc), quẻ sau là quẻ biến (kết quả của sự việc)
Quẻ thể và quẻ dụng :
Hào động có tác dụng giúp cho người ta tìm ra quẻ biến,
để biết sự biến hóa từ tốt sang xấu hoặc từ tốt sang xấu
của sự việc cần đoán. Lại nữa, nó còn quan trọng là phân
biệt được quẻ thể và quẻ dụng trong quẻ biến. Thể là bản
thân người luận đoán, dụng là công việc cần đoán.
Theo ví dụ vừa nêu trên, hào 5 là hào động, vậy quẻ Cấn
ở trên (thượng quái) là quẻ thể; quẻ Ly ở dưới (hạ quái)
là quẻ dụng của quẻ biến Phong Hỏa Gia Nhân.
Người ta phối ngũ hành vào quẻ để biết sinh hay khắc của
quẻ dụng đối với quẻ thể.
Có những trường hợp xảy ra:
1- quẻ thể khắc quẻ dụng là tốt (cát).
2- quẻ dụng khắc quẻ thể là xấu (hung).
3- thể và dụng ngang nhau (tức yếu tố ngũ hành giống
nhau, thì thuận lợi.
4- thể sinh dụng thì bị hao tổn.
5- dụng sinh thể thì có tin vui.
6- quẻ dụng trước tốt, sau khi biến thành xấu, là việc
trước tốt sau xấu.
7- quẻ dụng trước xấu, sau khi biến thành tốt, là việc
trước xấu sau tốt.
8- quẻ bị khắc chỗ này nhưng có chỗ khác sinh, biểu thị
có sự cứu giúp.
9- quẻ có chỗ bị khắc nhưng không có chỗ khác sinh (vô
sinh), thì không có trợ giúp.
Lời Kết
Xin các bạn nhớ lại: Sau khi lập được Nội quái và
Ngoại quái, chồng chúng lên ta được Quẻ trùng.
Căn cứ vào "Danh sách 64 quẻ trong Kinh Dịch" ta biết
được số và tên quẻ. Tìm trong sách Kinh Dịch (hoặc
dùng Google Search) đi đến quẻ này. Căn cứ vào lời lẽ
của quẻ trong Kinh (Thoán từ, Hào từ và Thập truyện) ta
có thể xác định được cát hung họa phúc, đồng thời tìm ra
biện pháp đối ứng. Nhớ là phải giải đoán từ dưới lên
trên, từ Nội Quái lên Ngoại quái.
.Nguyên Lạc
(còn tiếp bài 6 - Bấm Độn)
.......................
Tham Khảo: Nguyễn Hiến Lê, Ngô Tất Tố, Wu Wei, Richard
Wilhelm, Kiều Xuân Dũng, Đông A Sáng, Internet,
Facebook...
*** Nếu vì trục trặc in ấn, các hình Quẻ trông không rõ,
xin các bạn tham khảo lại hình tại: "Danh sách 64 quẻ
trong Kinh Dịch" ở
bài 2.
Trở lại bài 4
Đọc tiếp bài 6
art2all.net