QUẺ
DỊCH
CÁCH LẬP VÀ GIẢI ĐOÁN
(7)

BÀI CUỐI
~~oO))((Oo~~
LẬP VÀ GIẢI QUẺ CHO VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN
Lời nói đầu:
Đây là bài cuối của loạt
bài Quẻ Dịch, được xem như bài "ôn tập", nhắc
lại những gì chúng ta đã học được từ tiền nhân.
Nó cũng có thể xem như "bài minh họa" cách lập
và giải đoán Quẻ Dịch mẫu, hy vọng các bạn tìm
được vài điều hữu ích.
Xin thưa trước, chuyện Việt
Vương Câu Tiển là sử thật thời Chiến Quốc, phần
gieo lập Quẻ Dịch và giải đoán chỉ là hư cấu.
- Nguyên Lạc
Lời dẫn nhập:
"Kinh Dịch là thứ sách v́ hạng quân tử mà làm ra, không
phải là của hạng tiểu nhân. Trương Hoành Cừ nói: “Kinh
Dịch chỉ mưu tính cho quân tử, không mưu tính cho tiểu
nhân”.
Kinh Dịch là thứ sách do sự hư không làm ra. Trước khi
chưa có hào vạch, Dịch th́ là một lẽ hồn nhiên, ở người
ta là tấm ḷng im lặng. Đến khi đă có hào vạch, mới thấy
hào ấy là thế nào, hào kia là thế nào. nhưng mà vẫn theo
những cái rỗng, tĩnh ấy làm ra Tượng Số. V́ vậy nó mới
linh thiêng!.
Trong Kinh Dịch, đại khái Dương th́ lành (tốt) mà Âm th́
dữ (xấu). Đôi khi cũng có Dương dữ mà Âm lành! Tuy
nhiên, v́ có việc nên làm, cũng có việc không nên làm.
Nên làm mà không làm, không nên làm mà cứ làm, th́ dù
Dương cũng xấu. Trong Kinh Dịch, hào Dương phần nhiều
lành, hào Âm phần nhiều dữ! Tuy nhiên, cũng cần phải xem
ngôi vị của chúng ra sao!
Trong Kinh Dịch, chỉ có “trinh cát”, chưa có chỗ nào
không “trinh” mà “cát”; chỉ nói “lợi trinh”, chứ chưa
từng nói “lợi bất trinh”. Như quẻ Kiền (Càn) tốt lắm,
nhưng mà ở dưới lại nói “lợi trinh”. Nghĩa là ngay
thẳng, trung chính th́ lợi, không ngay thẳng, trung
chính th́ không lợi.
Coi Dịch nên dựa chắc vào Tượng mà coi. Xét Tượng Số
(Thoán tượng) đích đáng trước, sau đó mới nói Lư (Thoán
truyện, Thoán từ). Nhờ vậy mới khỏi sai lệch. Nếu không,
việc không có thực chứng th́ cái Lư suông dễ sai.
Kinh Dịch nên đọc lúc ḷng ḿnh trống rỗng, không nên
giữ ư kiến riêng. Cần phải giữ cho ḷng ḿnh sáng sủa,
êm ả, yên lặng, th́ tự nhiên đạo lư lưu thông, mới bao
quát được rất nhiều nghĩa lư.
Xem Kinh Dịch phải bốn ngày xem một quẻ: một ngày xem
lời Quẻ (Thoán Tượng, Thoán từ) , hai ngày xem sáu hào (
Hào từ) và một ngày xem tổng quan (gồm tất cả lại) mới
tinh tường!
Kinh Dịch đại khái muốn cho người ta tu tỉnh!. Học Kinh
Dịch không phải đợi khi gặp việc mới xem, mới sợ! Ngay
những lúc an b́nh, cũng nên nghiền ngẫm những đạo lư của
nó , so với địa vị của ḿnh hiện tại , suy ra nên hành
xử thế nào cho thích đáng. Cho nên: “Lúc ở yên th́ xem
Tượng mà ngẫm Lời , lúc hành động th́ xem sự biến đổi mà
ngẫm lời chiêm đoán ”.(Kinh Dịch - Ngô Tất Tố)
Trên đây là những lời người xưa đă dặn ḍ, chúng ta nên
thuộc nằm ḷng khi nghiên cứu về Dịch.
NƯỚC VIỆT CỦA CÂU TIỄN
Năm Tân Mùi 770 Tr.cn, nhà Chu ngày càng suy yếu, vua
nhà Chu lúc bấy giờ là Chu B́nh Vương dời đô sang Lạc
Ấp, nội bộ cung đ́nh thường xảy ra tranh chấp thế lực, .
V́ vậy mà các nước chư hầu không chịu triều cống cho vua
nhà Chu như thường lệ: 3 năm một lần triều cống lễ vật
nhỏ, và 5 năm triều cống lễ vật lớn. Một số nước chư hầu
c̣n cả gan lấn chiếm lănh địa của nhà Chu.
Trong khi đó về phần các nước chư hầu th́ ra sức củng cố
thế lực, tiến hành chiến tranh thôn tính lẫn nhau rất ác
liệt, và trong đó có 5 nước lớn là Tề, Tấn, Tần, Tống,
Sở thôn tính nhiều nước nhỏ xung quanh và trở thành
những nước mạnh nhất thời bấy giờ, mà sử thường gọi là
thời kỳ “Ngũ bá” trong suốt cả một thời gian dài. Về sau
c̣n thêm nước Ngô và nước Việt ở phía Nam sông Dương Tử,
tạo nên thất hùng (7 nước hùng cường) một thời.
Cuối thời Xuân Thu, vua nước Ngô là Hạp Lư dùng một vong
thần của nước Sở là Ngũ Tử Tư, Ngũ Tử Tư làm tướng quốc
của nước Ngô, v́ có thù riêng với vua của nước Sở đă
giết cha và anh trai của ḿnh, cho nên Ngũ Tử Tư ra sức
giúp vua Ngô là Hạp Lư, đem quân đánh nước Sở, giành
được đại thắng, oai danh lừng lẫy. Sau khi đánh thắng
nước Sở, Hạp Lư lại tiếp tục đem quân đi đánh nước Việt
của Câu Tiễn (Câu Tiễn làm vua từ năm 502 Tr.cn – 462
Tr.cn) Câu Tiễn thân chinh đem quân ra chống đỡ, quân
Ngô thua to, vua Hạp Lư chết.
Cháu đích tôn của Hạp Lư là Phù Sai lên nối ngôi, Phù
Sai luôn luôn ghi nhớ mối thù với nước Việt, nên sai Ngữ
Tử Tư và Bá Hỷ ngày đêm ráo riết luyện tập quân sỹ, chờ
sau 3 năm hết tang của Hạp Lư, liền đem đại binh đến
đánh nước Việt. Quân nước Việt bị thua to, Câu Tiễn xin
giảng ḥa với nước Ngô. Phù Sai đồng ư, nhưng bắt Câu
Tiễn phải sang nước Ngô làm con tin. Vợ chồng Câu Tiễn
và Phạm Lăi sang nước Ngô làm con tin, c̣n nước Ngô th́
giao lại cho Văn Chủng trông coi.
Tṛn đúng 10 năm sau, Phù Sai cảm động sự "trung
nghĩa"của Câu Tiễn, như đă nếm phân trị bệnh cho ḿnh,
nên đă cho Câu Tiễn trở về làm vua nước Việt.
Nhớ hận thua trân và bị nhục, Câu Tiễn về nước ngày đêm
huấn luyện binh sỹ chờ ngày phục hận. Trong khi đó Phù
Sai suốt ngày chỉ lo ăn chơi hưởng lạc xa xỉ như cho xây
dựng Cô Tô Đài.
Câu Tiễn c̣n t́m kiếm rất nhiều mỹ nữ ở trong nước để
dâng cho Phù Sai hưởng lạc. Trongsố các mỹ nữ đó, có Tây
Thi (người đầu tiên trong tứ đại mỹ nhân của Trung Quốc)
và Trịnh Đán. Sau 3 năm huấn luyện, hai mỹ nhân đó đủ
sức làm lung lay nước Ngô.
Từ khi có được người đẹp Tây Thi, Phù Sai suốt ngày mê
mẩn người đẹp, ch́m đắm trong tửu sắc, không c̣n chú ư
đến việc triều chính nữa. Câu Tiễn thấy nước Ngô ngày
càng lụn bại, nên quyết định mang quân sang tiêu diệt
nước Ngô. Hai bên giao chiến, quân Phù Sai thua to. Sau
Phù Sai đâm cổ tự tử, nước Ngô bị nước Việt chiếm đóng.
Nước Việt của Câu Tiễn càng ngày hùng mạnh tung hoành
khắp giải Giang – Hoài, các nước chư hầu đều thừa nhận
nước Việt của Câu Tiễn là bá chủ.
Sau khi công thành doanh toại, Câu Tiễn bắt đầu kiêu
ngạo, và có ư diệt trừ các công thần. Phạm Lăi là người
biết nh́n xa trông rộng, biết được tâm địa hiểm độc của
Câu Tiễn, v́ vậy Phạm Lăi có khuyên Văn Chủng nên cùng
ḿnh bỏ nước Việt, nhưng Văn Chủng đă không nghe theo
lời của Phạm Lăi. Phạm Lăi đă cáo quan và về sau đă trở
thành một thương nhân nổi tiếng trong thời Chiến Quốc.
Rất nhiều tướng giỏi, công thần của nước Việt bị Câu
Tiễn sát hại, hoặc họ t́m cách trốn đi, cho nên nước
Việt ngày càng suy yếu, và Câu Tiễn cũng không c̣n giữ
dược địa vị bá chủ chư hầu.
Ngoại sử: Thấy Câu Tiễn đối xử tàn bạo với dân chúng, để
khuyên ngăn, Văn Chủng giới thiệu Câu Tiễn một nhà bói
Dịch nổi tiếng đến lập quẻ cho nước Việt, t́m cớ giải
thích điều hay lẽ thiệt. Nhưng Câu Tiễn không nghe theo
lời can gián. Cuối cùng Văn Chủng đă được Câu Tiễn ban
cho thanh gươm để tự tử.
Năm 462 Tr.cn, Câu Tiễn chết, ngay sau đó nước Việt liền
bị nước Sở tiêu diệt, và trở thành quận Giang Đông của
nước Sở.
(Việt Câu Tiễn không là tổ tiên của Việt chúng ta. - Hà
văn Thùy)
LẬP QUẺ DỊCH
Đây là kết quả lập và giải quẻ của nhà bói Dịch (tiến
hành lập quẻ bằng 50 que cỏ thi) cho nước Việt của Câu
Tiễn.
Kết quả:
- Hào sơ (1) tổng số 3 lần là: 8
- Hào nhị (2) tổng số 3 lần là: 8
- Hào tam (3) tổng số 3 lần là: 8
- Hào tứ (4) tổng số 3 lần là: 7
- Hào ngủ (5) tổng số 3 lần là: 7
- Hào thượng (6) tổng số 3 lần là 7
Theo các bạn vẽ được các vạch như thế nào? Và quẻ
(trùng) đó là quẻ ǵ?
Căn cứ vào Bảng Bói ở bài 3, ta biết được: 8 là thiếu
âm (tĩnh) và 7 là thiếu dương (tĩnh), và sấp
lần lượt từ dưới lên trên, từ 1 lên 6, ta được quẻ 12:
THIÊN ĐỊA BĨ

(H́nh 1 quẻ THIÊN ĐỊA BĨ )
GIẢI QUẺ
Nhà bói Dịch giải đoán:
-- Đây là một quẻ xấu!
Tượng: Càn Dương (trời) ở trên, Khôn Âm (đất) ở
dưới. Trời nhẹ bay lên, đất nặng đi xuống: Trời đất
cách tuyệt, không giao với nhau, cho nên là bĩ. (Về
lư: Xét Quẻ phải xét từ Nội Quái lên Ngoại Quái: Đất đè
trời! Nghịch lư - Nguyên Lạc)
Thoán từ: - Bĩ chi phỉ nhân. Bất lợi quân tử
trinh, đại văng tiểu lai.
Dịch nghĩa. - Bĩ đấy (?) chẳng phải người. Chẳng lợi cho
sự chính bền của đấng quân tử, lớn đi nhỏ lại.
GIẢI NGHĨA:
Truyện của Tŕnh Di. - Trời đất giao nhau mà muôn vật
sinh ở bên trong, rồi sau mới đủ ba Tài. Trời đất không
giao nhau, th́ không sinh ra muôn vật, ấy là không có
đạo người, cho nên nói là “phỉ nhân” ( không phải đạo
người). Trên dưới phải giao thông, cứng mềm phải hoà
hợp: đó là đạo đấng quân tử. Cuộc bĩ th́ trái hẳn thế,
cho nên không lợi cho người quân tử. Trinh tức là chính
đạo của đấng quân tử, bị bĩ tắc mà không thực hành được,
lớn đi nhỏ lại, tức là Dương đi mà Âm lại. Đó là tượng
“đạo kẻ tiểu nhân lớn lên, đạo người quân tử tiêu đi”,
cho nên là bĩ.
LỜI KINH:
Thoán từ viết: Bĩ chi phỉ nhân, bất lợi quân tử
trinh, đại văng tiểu lai, tắc thị thiên địa bất giao nhi
vạn vật bất thông dă; thượng hạ bất giao nhi thiên hạ vô
bang dă, nội Âm nhi ngoại Dương, nội nhu nhi ngoại
cương, nội tiểu nhân nhi ngoại quân tử, tiểu nhân đạo
trưởng! Quân tử đạo tiêu dă.
Dịch nghĩa: - Lời Thoán từ nói rằng: Bĩ đấy?
Chẳng phải đạo người, chẳng lợi cho sự chính bền của
đấng quân tử, lớn đi nhỏ lại, th́ là trời đất không giao
nhau mà muôn vật không thông vậy; trên dưới không giao
nhau mà thiên hạ không có nước vậy; trong Âm mà ngoài
Dương, trong mềm mà ngoài cứng, trong kẻ tiểu nhân mà
ngoài đấng quân tử, ấy là đạo kẻ tiểu nhân lớn lên, đạo
đấng quân tử tiêu đi vậy.
Truyện của Tŕnh Di: - Khí của trời đất không
giao nhau, th́ muôn vật không có lẽ sinh thành; nghĩa
của kẻ trên người dưới không giao nhau th́ thiên hạ
không có đạo an bang. Người trên thi hành chính sự để
trị dân, dân nương theo mệnh lệnh, trên dưới giao nhau
là để làm việc chính trị. Nay trên dưới không giao nhau,
ấy là thiên hạ không có đạo an bang. Âm mềm ở trong,
Dương cương ở ngoài, đấng quân tử đi ở phía ngoài, kẻ
tiểu nhân lại ở phía trong, đó là lúc đạo kẻ tiểu nhân
lớn lên, đạo đấng quân tử tiêu đi.
Quẻ Bĩ ngược với quẻ Thái (sẽ xét ở dưới), quẻ Bĩ
dương trên âm dưới, dương bay đi, âm xuống dưới, âm
dương rời xa nhau là âm dương cách tuyệt. Giống như
người sống c̣n ở dương gian, c̣n người chết về nơi âm
phủ. Quẻ này đạo quân tử tiêu vong c̣n đạo tiểu nhân
mạnh lên, đó là âm đang dần thắng.
Thường th́ quẻ tĩnh ta thường xét Tượng Quẻ , Thoán Tử,
ít xét tới Hào Từ; nhưng nếu có xét, th́ ta thấy cặp 2-5
tương ứng cũng không tốt. Hào 2 là âm nhu, yếu mềm của
người dưới không dám khuyên ngăn người trên nghiêm khắc,
cứng rắn của Hảo 5 dương (xem lại sự tương ứng của các
Hảo ở bài 2)
CHUYỂN ĐỔI QUẺ
I. Lập quẻ cho đất nước mà
gặp quẻ xấu, rất buồn. Nhưng người xưa thường nói: "Hết
cơn bĩ cực tới hồi thới lai". Thới lai đó chính là Quẻ
11: Địa Thiên THÁI
Thử xét Quẻ THÁI này xem sao!
11. ĐỊA THIÊN THÁI *

(H́nh 2 quẻ ĐỊA THIÊN THÁI)
Tượng: Nó là quẻ Khôn (Âm) ở trên. Càn (Dương) ở
dưới (ngược với quẻ Bĩ). Đất nặng từ trên đi xuống, trời
nhẹ từ dưới bay lên: Khí của trời đất Âm Dương giao
nhau mà dung hoà, th́ muôn vật sinh thành, cho nên
mới là thông thái. Thái tức là thông thái. (Về lư:
Xét Quẻ phải xét từ Nội Quái lên Ngoại Quái: Trời phủ ôm
đất: Thuận lư - Nguyên Lạc)
Thoán từ: - Thái, tiểu văng, đại lai, cát hanh.
Dịch nghĩa: - Quẻ Thái, nhỏ đi, lớn lại, lành tốt
hanh thông.
GIẢI NGHĨA:
Truyện của Tŕnh Di: - Nhỏ là Âm, lớn là Dương, “đi” là
đi ra ngoài, “lại” là ở bên trong, khí Âm hạ xuống, khí
Dương bốc lên, tức là giao nhau. Âm Dương lợi xướng th́
muôn vật được sống thỏa , ấy là trời đất thông thái. Nói
về việc người, th́ lớn là đấng quân thượng, nhỏ là kẻ
thần hạ. Vua thành thật dùng kẻ dưới, bề tôi hết ḷng
thành thật để thờ vua, chí của kẻ trên người dưới thông
nhau, ấy là cuộc thái của triều đ́nh. Dương là quân tử,
Âm là tiểu nhân, quân tử lại ở bên trong, tiểu nhân đi ở
bên ngoài; quân tử được ngôi, tiểu nhân ở dưới, ấy là
cuộc thái của thiên hạ. Đó là đạo của cuộc thái, tốt mà
lại hanh thông.
II. Từ quẻ BĨ (xấu) muốn
biến thành quẻ THÁI (tốt) th́ cả Nội Quái và Ngoại Quái
của quẻ BĨ phải cùng nhau biến:
- Khôn (Nội Quái) biến thành Càn
- Càn (Ngoại Quái) biến thành Khôn
Trên và dưới bắt buộc phải biến nếu muốn thành Quẻ
tốt.
Nói rộng ra, đấng quân thượng (người cầm quyền: trên) và
kẻ thần hạ (người dân: dưới) phải biến để được cuộc thái
của thiên hạ , đất nước được thái b́nh, an lành thịnh
vượng. Chữ BIẾN bây giờ thường được gọi với ngôn ngữ
hiện tại là Cải Cách, Cách Mạng . Biển có thể tự thân,
tự ḿnh (bên trong) hoặc do bên ngoài tác động. Thường
tự bên trong th́ tốt hơn, it xảy ra việc tiêu cực.
Có hai trường hợp trung gian có thể xảy ra:
- Nội Quái biến nhưng Ngoại Quái không biến
- Nội Quái không biến nhưng Ngoại Quái biến
Hăy lần lượt xét:
1. Nội Quái biến nhưng Ngoại Quái không biến:
Nội Quái Khôn âm khi biến sẽ thành Càn dương, lúc đó Quẻ
Bĩ biến ra thành quẻ 1: Thuần Càn.
1. THUẦN CÀN *

(H́nh 3 quẻ THUẦN CÀN)
Tượng của quẻ Càn là trời
Thoán từ: càn nguyên, hanh, lợi, trinh
Dịch nghĩa: quẻ Càn đầu cả, hanh thông, lợi tốt,
chính bền.
GIẢI NGHĨA: Văn Vương cho rằng, bói được quẻ này th́
tốt. Hanh thông có lợi và tất giữ cho được tới cùng,
nhưng cần phải chính bền vững. Quẻ Càn có tượng của
người quân tử có năm đức tính lớn. Đó là:
Nhân-Lễ-Nghĩa-Trí-Tín.
Quẻ Càn là quẻ tốt, tuy không bằng quẻ Thái
Như ta đă biết ở bài 2: Cặp hào ứng 2‐5 quan trọng nhất,
hai hào đều đắc trung cả, mà hào 5 lại ở vào địa vị cao
nhất. Nếu hào 5 là âm (nhu), hào 2 là dương (cương) th́
tốt (Thí dụ quê Thái) Nếu hai hào ứng mà thể giống nhau
(cùng dương hoặc cùng âm cả) th́ có khi kỵ nhau chứ
không giúp nhau. Trong trường hợp quẻ Thuần Càn nảy, cả
hai đều dương (cương), nên sự va chạm tiêu cực sẽ xảy
ra. Kẻ thần hạ: Nội Quái (người dân: dưới) biến mà đấng
quân thượng: Ngoại Quái (người cầm quyền: trên) không
chịu biến th́ đương nhiên sự va chạm phải xảy ra thôi.
Nội Quái, là gốc, sẽ thắng ngọn Ngoại Quái, để tiến tới
trùng quẻ Thái đúng theo tinh thần của Dịch, không lâu
th́ mau thôi. Tuy nhiên những va chạm tiêu cực sẽ xảy ra
rất đáng tiếc.
2. Nội Quái không biến nhưng Ngoại Quái biến
Ngoại Quái Càn dương khi biến sẽ thành Khôn âm, lúc đó
Quẻ Bĩ biến thành quẻ 2: Thuần Khôn.
2.THUẦN KHÔN *

(H́nh 4 quẻ THUẦN KHÔN)
Tượng của quẻ Khôn là đất. Có trời có đất rồi vạn
vật mới sinh, trời là vô h́nh, đất là hữu h́nh.
Thoán từ: - Khôn nguyên hanh, lợi tẫn mă chi
trinh. Quân tử hữu du văng. Tiên mê, hậu đắc, chủ lợi.
Tây Nam đắc bằng, Đông Bắc táng bằng, an trinh, cát.
Dịch nghĩa: - Quẻ Khôn: đầu cả, hanh thông, lợi
về nết trinh của ngựa cái. Quân tử có sự đi. Trước mê,
sau được. Chủ về lợi. Phía tây nam được bạn, phía Đông
Bắc mất bạn. Yên phận giữ nết trinh th́ tốt.
GIẢI NGHĨA:
Truyện của Tŕnh Di. - Khôn là quẻ đối nhau với Càn, bốn
đức tính giống nhau, mà về thể “trinh” th́ khác nhau.
Càn lấy chính bền c̣n Khôn th́ mềm thuận là trinh. Ngựa
cái là giống có đức mềm thuận mà sức đi khỏe, cho nên
dùng tượng của nó, gọi là “nết trinh của ngựa cái”. Việc
làm của đấng quân tử mềm thuận mà lợi và trinh, đó là
hợp với đức tính của Khôn. Âm phải theo Dương, phải đợi
xướng rồi mới họa theo. Âm đi trước Dương tức là mê lẫn,
phải ở sau Dương mới đúng lẽ thường. Chủ về lợi, nghĩa
là lợi cho muốn vật đều chủ ở Khôn. V́ cuộc sinh thành
đều là công của đất cả. Đạo bầy tôi cũng vậy, vua sai
tôi làm, vất vả làm là cái chức trách của kẻ làm tôi.
Công của Khôn cũng lớn như Càn, chỉ có Khôn phải sau
Càn, phụ thuộc vào Càn. Người quân tử thế thiên hành
đạo, khi vào địa vị của quẻ Khôn thi phải tuỳ thuộc vào
người trên mà làm việc, không nên khởi xướng để tránh
lầm lẫn, như thế ắt thành công.Tây Nam là phương Âm,
Đông Bắc là phương Dương. Âm phải theo Dương, ĺa bỏ bầy
loại của nó mới có thể làm nên công cuộc hoá dục, mà
được cái tốt trong việc yên phận giữ nết trinh. Nghĩa là
đúng với lẽ thường th́ yên, yên với lẽ thường th́ trinh,
cho nên mới tốt.
Quẻ Thuần Khôn này cũng là quẻ tốt như quẻ Thuần Càn.
Cặp hào ứng 2‐5 v́ cùng âm (nhu), cũng có va chạm, nhưng
v́ là nhu nên sự tiêu cực không mạnh lắm. Đấng quân
thượng: Ngoại Quái (người cầm quyền: trên) dương cương
trong quẻ Bĩ tự biến thành âm nhu (trong quẻ Khôn), biết
thay đổi và lắng nghe kẻ dưới; dù kẻ dưới có âm nhu th́
rồi cả hai cùng thuận ḥa, dịch chuyển theo tinh thần
của Dịch.
Xét kỹ, chúng ta thấy rơ ràng là hai trường hợp trung
gian này cũng tốt hơn rất nhiều so với t́nh trạng của
quẻ Bĩ.
Nhưng chúng ta chắc ai cũng mong muốn được quẻ THÁI -
an lành thịnh vượng. Muốn thế, cả hai Nội Quái và Ngoại
Quái - người trên và kẻ dưới phải cùng nhau biến, thay
đổi (Cải Cách, Cách Mạng nếu ta gọi theo từ hiện đại).
Mong lắm thay!
LỜI KẾT
Qua 7 bài Quẻ Dịch, Nguyên Lạc tôi đă chia sẻ với các
bạn những ǵ ḿnh đă học từ các thầy, các bậc cao minh
về Dịch, mong các bạn t́m thấy được ít nhiều điều hữu
ích. Nếu không, coi như " Mua vui cũng được một vài
trống canh"
Chào thân ái với lời chúc tốt đẹp nhất cho đất nước và
các bạn.
Nguyên Lạc
...................
Tham Khảo: Nguyễn Hiến Lê, Ngô Tất Tố, Richard Wilhelm,
Kiều Xuân Dũng, Đông A Sáng, Wu Wei, Internet,
Facebook...
* Nếu vì trục trặc in ấn, các h́nh Quẻ trông không rơ,
xin các bạn tham khảo lại h́nh tại: "Danh sách 64 quẻ
trong Kinh Dịch" ở bài 2 hoặc bài 3.
art2all.net