Phạm Đức Thân

 

 

NGUYÊN TẮC THẨM MỸ

TRONG SÁNG TÁC ÂM NHẠC

 



          Cảm nhận nghệ thuật thường có tính chủ quan. Nhưng thế không có nghĩa là hoàn toàn tùy thuộc vào sở thích, cá tính của khán thính giả. Thực ra nghệ phẩm hay đẹp chính nó thường có một số đặc điểm thẩm mỹ mà nhiều học giả đã phân tích, xếp loại chúng để suy ra chúng đã được sáng tạo dựa trên những nguyên tắc thẩm mỹ nào. Bài này thử điểm qua các nguyên tắc thẩm mỹ trong sáng tác âm nhạc, mục đích giúp thính giả hiểu tại sao bản nhạc đã có những đặc điểm khiến được ưa chuộng. Mặt khác, đây có thể coi như là một lược đồ những tác thuật giúp sáng tác nhạc có giá trị.
 

Theo I. Stravinsky, "Những yếu tố âm thanh chỉ trở thành âm nhạc khi được tổ chức". Tổ chức bao hàm chọn lựa có ý thức, phối trí có cân nhắc, sao cho ý nhạc được mạch lạc, chặt chẽ và liên tục. Chất liệu âm nhạc là một cái gì trôi chảy theo thời gian, hơi có tính trừu tượng, cho nên công việc tổ chức không dễ dàng. Tuy nhiên có những nguyên tắc chính điều hướng việc phối trí chất liệu âm nhạc, cung cáp những yếu tố của cái gọi là một logic của hình thức thẩm mỹ, như A. Schoenberg đã nói, "Trong âm nhạc, không có hình thức nào mà không logic, không có logic nào mà không thống nhất."


I. Nguyên Tắc Thống Nhất Hữu Cơ (hay Thống Nhất Trong Dị Biệt)

Bao gồm các ý chính sau:
- Mỗi phần tử trong tác phẩm là cần thiết cho giá trị của tác phẩm.
- Tác phẩm không bao giờ gồm những phần tử thừa, không cần thiết.
- Tất cả những cái gì cần đều hiện hữu trong tác phẩm.
- Giá trị của tác phẩm như một tổng thể tùy thuộc vào những quan hệ hỗ tương giữa các phần tử: mỗi phần tử cần thiết, đáp ứng, đòi hỏi phần tử khác. Mỗi âm thanh đòi hỏi nốt theo sau để tiếp tục cái chiều hướng đã được thiết lập. Tóm lại, ý nghĩa của tổng thể không phải là cái gì do cộng vào những phần tử của tác phẩm, mà là do sự hợp tác giữa chúng.
 

Tính thống nhất của tác phẩm là phần tương ứng của sự thống nhất trong cảm nghiệm của thính giả. Tác phẩm không chỉ thể hiện trí tưởng tượng của nhạc sĩ, mà của cả thính giả lúc đó đang tập trung tinh thần vào tác phẩm, như đang trong cơn mê và quả cứ giữ nguyên trạng thái mơ mộng đó, vì nhạc sĩ đã sáng tạo cách nào đấy khiến cho mọi thứ ở đó cứ tiếp tục, cứ đào sâu, không có gì ngăn trở, gián đoạn. Nghệ thuật là biểu hiện của con người toàn thể vì nó nhất thời biến mọi người thành một tổng thể.
 

Nguyên tắc thống nhất hữu cơ là chủ yếu của hình thức thẩm mỹ; mọi nguyên tắc khác đều phục vụ cho nó. Nó tạo nên cái đường mạch chính cho tác phẩm.

 

Nó đòi hỏi khả năng của nhạc sĩ biết được cái nốt nhạc kế tiếp là nốt nào, nghĩa là cái nốt duy nhất tất yếu diễn ra đúng vào lúc đó, tại mạch nhạc đó. Suốt đời Beethoven đã vất vả khổ sở đi tìm cái nốt này (nhận thấy qua bản thảo lưu lại nhiều dập xóa, thay đổi). Có hai phương cách chính để đạt được sự thống nhất.

a/ Tương đồng là quan hệ căn bản liên kết và giữ cho tác phẩm thành một tổng thể. Ví dụ như khi lập lại toàn thể hay một phần ý nhạc. Lập lại mang đến cho thính giả niềm vui mừng được gặp lại cái đã quen thuộc, cũng như thỏa mãn nhu cầu được bảo đảm an tâm hơn, chắc chắn hơn. Nhưng cách thức này có những hạn chế. Nếu lập lại mãi thì dễ gây cảm giác đều đều nhàm chán, không còn tạo được chú ý. Do đó nó được bổ túc bằng phương cách hai.
 

b/ Dị biệt, tương phản cũng là quan hệ căn bản liên kết chặt chẽ các phần tử khác nhau để cho tác phẩm thành một tổng thể. Có sự hấp dẫn, chú ý giữa hai sự vật hoặc giống nhau hoặc khác nhau, chứ nhỡ nhỡ, nhàng nhàng, không gì đặc biêt sẽ không tạo được một hỗ tương chặt chẽ. Dị biệt thỏa mãn nhu cầu khát khao cái mới lạ của thính giả. Nhưng nếu không sử dụng khéo léo, nó dễ đưa tới tình trạng lộn xộn, vô tổ chức, phá hoại tính thống nhất.

Tương đồng và dị biệt liên quan chặt chẽ, bổ túc cho nhau, phối hợp tạo nên tính thống nhất của tác phẩm. Tương đồng tạo lập một quan hệ giữa các yếu tố cấu thành. Dị biệt phá vỡ cái quan hệ đó, tạo cho tác phẩm nét sinh động. Chất liệu tương phản mang theo một sự phấn khích, căng thẳng, được hoà giải bằng trở về của chất liệu quen thuộc. Đúng như E. Toch đã nói. "Hình thức là sự cân bằng giữa phấn khích và thư giãn". Góp phần tạo nên tính
thống nhất, dị biệt và tương phản đóng vai trò quan trọng trong việc tạo sinh khí cho âm nhạc; chính chúng trở thành hai nguyên tắc riêng biệt đối với chủ đề âm nhạc. Tuy nhiên để hợp lý hơn, xin bàn trước về nguyên tắc chủ đề âm nhạc hay nhạc đề.


II. Nguyên Tắc Nhạc Đề

Nhạc đề (theme) là tính cách nổi bật, cái ý chính quan trọng hơn cả của tác phẩm mà tất cả được tập trung xây dựng trên đó. Nó biểu thị tác phẩm thu nhỏ, đại diện cho tác phẩm và cung cấp chìa khóa cho việc thưởng thức, cảm nhận tác phẩm. Nó rất quan trọng để phân biệt bản nhạc này với bản nhạc khác.

 

Bản nhạc thường có một (hay hơn) nhạc đề để biểu thị ý nghĩa cốt tủy của tác phẩm. Nhạc đề gồm giai điệu, tiết tấu, và có thể thêm phần hòa âm, tất cả kết hợp nên tính cá biệt của ý nhạc. Nhạc đề thường ngắn gọn, nhưng đủ trọn vẹn để thính giả nắm bắt ngay ý chính, và nên linh hoạt để dễ có thể khai thác tiềm năng phát triển.
 

(Ghi Chú: Đa số thính giả VN chỉ biết ca khúc gồm nhạc và lời, nên thường nghĩ nhạc đề là tựa đề bài hát hoặc câu chữ đầu tiên của bài; cũng như hiểu ý nghĩa bản nhạc là nội dung lời ca. Thật ra nghiên cứu âm nhạc là về âm thanh, về các nốt nhạc; và ca khúc chỉ là mảng rất nhỏ trong kho tàng rộng bao la của âm nhạc không lời. Nói nhạc đề, câu, đoạn... là chỉ về các nốt nhạc; và ý nghĩa của chúng thì trừu tượng, mơ hồ, không thể diễn tả chính xác bằng ngôn ngữ. Trong cảm nhận âm nhạc ta thấy có một ý nghĩa nào đó, nhưng không thể xác định nó là cái gì. Lịch sử âm nhạc từ xưa đến nay (gần đây nhất là môn ký hiệu học âm nhạc - semiotics of music) đã cố gắng phân tích âm nhạc, cũng chỉ đạt được hiếu biết về các phương cách, cấu trúc... đã tạo nên ý nghĩa của âm nhạc, chứ không thể trả lời câu hỏi ý nghĩa âm nhạc của tác phẩm là cái gì. Thành thử bàn về ý nghĩa âm nhạc xin được hiểu theo nghĩa rộng trừu tượng của nốt nhạc; chứ không phải nghĩa hẹp cụ thể hiển nhiên rõ ràng là nội dung ngôn ngữ của ca từ. Khi đánh giá ca khúc về mặt âm nhạc, các nguyên tắc bàn ở đây sẽ được áp dụng vào phần nhạc chứ không phải phần lời. Tất nhiên ca từ hoa mỹ có đóng góp vào giá trị ca khúc, nhưng đó là về mặt văn chương, không phải mặt thuần túy âm nhạc)
 


III. Nguyên Tắc Biến Đổi Nhạc Đề

Phát biểu nhạc đề thôi không đủ. Phải trau chuốt tô điểm biến hóa nó dưới những hình thúc khác nhau trong mỗi lần lập lại, thỏa mãn được nhu cầu muốn cái quen biết cũ, nhưng có chút thay đổi để tránh nhàm chán. Có nhiều phương cách biến đổi nhạc đề mà vẫn giữ được những nét căn bản.

a/ Biến đổi giai điệu.
- Thay đổi cao độ các nốt, nhưng giữ nguyên tiết tấu hoặc đổi rất ít
- Thêm nốt vào giai điệu cũ, nhưng đặc tính căn bản của giai điệu cũ vẫn còn được nhận biết.
- Thêm nốt huê dạng (láy, nhấn, vuốt...) vào nốt căn bản.


b/ Biến đổi tiết tắu.
- Thay đổi trường độ các nốt, chỗ nhấn mạnh trong nhạc đề
- Thay đổi nhạc đề sang một nhịp điệu khác (vd. 3/4 sang 6/8)


c/ Biến đổi hòa âm.

Mỗi lần lập lại chủ đề, thay đổi hòa âm phụ đệm


d/ Biến đổi cung thể.

Đổi cung (transportation) hoặc chuyển cung (modulation) trong nhạc đề.


e/ Biến đổi âm sắc.

Nhạc đề xuất hiện qua các nhạc cụ khác nhau. Hoặc đổi cách diễn tấu của cùng môt nhạc cụ (arpège, trémolo, harmonics)


f/ Biến đổi âm vực.

Cao rồi thấp, hoặc ngược lại.


g/ Sử dụng các kỹ thuật trong đối âm (counterpoint).

Nghịch đảo (inversion), hồi chuyển (retrograde), gia tăng (augmentation), giảm thiểu (diminution).


IV. Nguyên Tắc Tương Phản

Nguyên tắc biến đổi nhạc đề chỉ thay đổi tính chất cơ bản của nhạc đề và thính giả vẫn dễ nhận ra được nhạc đề. Còn nguyên tắc tương phản lại nhắm vào sự khác biệt hoàn toàn giữa các đơn vị nhạc. Tương phản cấu trúc của nhạc đề, câu, đoạn.... thường được biểu thị bằng các chữ khác nhau. Vd. ca khúc thường có cấu trúc AABA hoặc AA'BA, nghĩa là phần đầu A có lập lại (A' là lập lại có chút thay đổi), phần giữa B tương phản, và phần cuối lập lại phần đầu A.


Tương phản có thể đạt được qua nhiều phương cách.

a/ Thay đổi nhạc đề.  Nhạc đề mới khác nhạc đề cũ về vài phương diện (giai điệu, tiết tấu, hòa âm....)


b/ Thay đổi cung thể. Tương phản giữa hai nhạc đề khác nhau còn được củng cố bằng khác nhau về cung thể. Nhưng vẫn giữ chút liên hệ xa gần để có tương quan ít nhiều giữa hai cung thể. Cung thay đổi thường là cung liên kết (C - Am), cung cùng tên chỉ đổi thể trưởng thứ (C - Cm), cung bậc IV (C - F), cung bậc V (C - G), có khi hai cung chỉ khác nhau 1/2 cung (C -Cbm).


c/ Thay đổi hành độ (tempo). Nhanh - chậm; allegro - moderato - andante.


d/ Thay đổi âm vực . Cao - thấp.


e/ Thay đổi âm sắc các nhạc cụ, các lối chơi khác nhau của cúng một nhạc cụ, giữa hai nhạc đề khác nhau.
 

f/ Thay đổi hòa âm, cách phối khí. Thoáng , solo, ít nhạc cụ - dày đặc, cả giàn nhạc; hòa điệu (homophony) - phức điệu (polyphony)


g/ Thay đổi nhịp điệu. 3/4 sang 4/4; dùng nhịp ngoại (syncopation), hay tiết tấu tréo (cross rhythm).


h/ Thay đổi cường độ. Mạnh - yếu; p - f - ff - sfz.


i/ Thay đổi sắc thái diễn tấu. Êm dịu - mạnh bạo; dolce - furioso; rubato - stretto.
 

Tóm lại nhạc sĩ có nhiều kỹ thuật để khai thác hai nguyên tắc biến đổi và tương phản nhạc đề tạo được tác dụng.
 


V. Nguyên Tắc Cân Bằng (hay Cân Xứng).

Đó là sự cân bằng những phần tử đối nghịch, tương phản nhau. Cân bằng là một loại thống nhất thẩm mỹ, vì mặc dù có những phần tử đối nghịch, trong cân bằng phần này cần phần kia để cùng nhau tạo nên cái toàn thể. Tương phản đối nghịch luôn luôn hiện diện trong bất cứ cân bằng nào; cho dù là trường hợp đối xứng (các phần tử cân bằng đều giống nhau) thì vẫn có những phương hướng đối nghịch nhau: trái - phải, trên - dưới, truóc - sau.
 

Về mặt thẩm mỹ, tương phản tự nó không bao giờ thỏa mãn, vì những phần tử đối nghịch đòi hỏi bù đắp cho nhau, chúng phải cân bằng. Bởi vậy, cũng như chỉ những quả cân nặng bằng nhau mới cân bằng trên đĩa cân, chỉ những phần tử có cùng giá trị, mặc dù là đối nghịch, khác nhau, mới cân xứng với nhau về mặt thẩm mỹ. Khái niệm giá trị này cho phép mở rộng cân bằng (giữa những phần tử giống nhau) sang khái niệm cân xứng (giữa những phần tử khác nhau).
 

Vì bản năng con người luôn hướng tới cân bằng, đối xứng (hai chân, hai tay, phải trái...) nên mỹ cảm cũng luôn hướng tới cái gì cân đối hài hòa. Thành thử luôn luôn có một cái nền cân bằng, đối xứng trên đó cái bất đối xứng nổi rõ; hoàn toàn khác với trường hợp tuyệt đối thiếu cân xứng, lộn xộn vô trật tự. Nếu quả thật bất đối xứng có làm phiền cho cân xứng thì đồng thời nó làm cho cân xứng được nhấn mạnh hơn. Cái bất thường tạo thích thú hơn cái bình thường một khi được hiểu rõ. Như E. Toch đã nói, "Chính những cái khác thường được nhận thức rõ đã truyền sức sống vào hình thức nghệ thuật."
 

Do tính trôi chảy của chất liệu âm nhạc trong thời gian, nhạc phẩm thường được chú ý đến tiết tấu hơn tính cân xứng, nhất là thoạt nhìn tiết tấu hình như đối nghịch với cân xứng. Tuy nhiên phân tích tiết tấu cho thấy nó được xây dựng trên hai nguyên tắc thẩm mỹ căn bản là lập lại và cân bằng. Mỗi tiết tấu là một chuyển động sóng với những điểm lên xuống cân xứng. Cân xứng vẫn hiện diện trong tiết tấu, và khó nhận ra vì nó chỉ là một phần tử trong cấu trúc phức tạp của tiết tấu. Cân xứng trong âm nhạc được nhận thấy qua các dạng:


- Câu nhạc cân phương 4 trường canh.
- Những chương nhạc, đoạn nhạc, câu, chi câu... bằng nhau, cân bằng, đối xứng.
- Dấu lặng nghỉ hoặc nốt ngân dài nằm ở cuối phần nhạc để cân bằng câu trong những trường canh bổ túc. Vd. Chi câu trước nhiều nốt nhạc, chi câu sau ít nốt nhưng có dấu lặng hoặc nốt ngân dài, tuy không cân bằng về hình thức nhưng có cân xứng về giá trị.
- Câu nhạc có tiền đề (thesis, antecedence) cân xứng với đáp đề (antithesis, consequence), đến lượt cả hai cộng lại cân xứng với hợp đề (synthesis). Kiểu cấu trúc này rất phổ biến trong xây dựng giai điệu.
 

Nhằm phá vỡ cái tĩnh tại của loại cân xứng này, cũng như để tạo dị biệt, hoặc để nhấn mạnh đến một cân xứng lớn hơn, hoặc để theo sát trạng huống diễn đạt tình cảm (Vd. Du dương, uyển chuyển, mà không phải ngắt ngang một cách máy móc) có thể dùng một kiểu cân xứng động hay bất đối xứng.


- Câu nhạc lệch khổ, không cân phương, dài 3,5,6...trường canh; có khi dài lê thê không phân câu rõ ràng.
- Tiết tấu tự do, không đối xứng, tạo nhiều kích động. Trường canh có thể gồm nhịp lạ. Vd. 5 (2+3, 3+2), 7 (2+2+3, 4+3, 2+3+2) hoặc 11, 13.
- Đoạn lập lại không y nguyên mà được rút ngắn lại, biến đổi, hoặc viết lại hoàn toàn. Vd. Bằng cách tăng cường, nhấn mạnh hơn về phong cách diễn tả (bi thiết hơn, mầu sắc rõ nét hơn, cường độ mạnh hơn), hoặc có thể rút ngắn đoạn lập lại từ 8 xuống 6, 5...trường canh mà vẫn giữ được cân xứng về tâm lý.


VI. Nguyên Tắc Phát Triển (hayTiến Hoá)

Đó là tính thống nhất của một tiến trình mà những phần trước xác định những phần sau, và tất cả tạo nên một ý nghĩa toàn thể. Cũng như trong bố cục của tiểu thuyết các sự kiện phải liên hệ với nhau một cách nhân quả, để sau cùng ý nghĩa tổng hợp được xác lập. Vì thuởng thức âm nhạc phải tiến hành qua một quá trình thời gian mới chụp bắt được ý nghĩa toàn bản nhạc, giai điệu phải được kiến tạo sao cho thính giả cảm nhận được nó có một đời sống, một đoạn đầu, một đoạn giữa cùng với chiếu phát triển (và chỗ cao trào nếu có) để sau cùng đi tới một đoạn cuối kết thúc.


Tiến hóa rất gần với tiết tấu, nhưng không phải là tiết tấu. Tiết tấu không kết hợp với tiến hóa thì không cho thấy rõ sự phát triển, tăng trưởng, cái hướng tiến tới một mục đích. Tiết tấu là lập lại và cân bằng của tâm thu và tâm trương, từ giai điệu này sang giai điệu khác mà không có hướng tiến triển nào. Quả thật đôi khi ta cũng nói đến chuyển động tăng trưởng như một tiết tấu, như khi nói đến tiết tấu cuộc sống; nhưng trong những trường hợp này tiết tấu tồn tại kết hợp với tiến triển, vì dĩ nhiên có một tiết tấu trong cuộc sống: sinh - tử, thức - ngủ, làm việc - nghỉ ngơi... Tuy nhiên mặc dù tiến hóa luôn luôn hiện diện trong tiết tấu thẩm mỹ, tiến hóa tự nó không cần thiết phải có tiết tấu. Yếu tính của tiến hóa, như H. Bergson đã chỉ ra, là tăng truởng, tích tụ ý nghĩa, nó không cần phải có tiết tấu.


Có hai loại tiến hóa. Tiến hóa kịch tính: một phần có tính cách quan trọng nổi bật, đó là điểm cao trào hay cái đích. Tiến hóa bình thường: không có phần nổi bật. Đành rằng tiến hóa phải nhắm đến một cái đích kết thúc và phần này quan trọng đặc biệt, nhưng không phải lúc nào phần cuối cũng quan trọng hơn những phần khác. Nhiều nhạc sĩ viết nhạc không có điểm cao trào hay cái đích kết thúc nổi bật. Nhạc họ trôi nổi bềnh bồng, không tạo tác dụng mạnh nơi thính giả. Dĩ nhiên qua những kiểu cấu tạo đặc biệt của giai kết, thính giả cũng nhận ra cái tiến hóa bình thường này của âm nhạc. Bản nhạc trải qua những biến chuyển (kịch tính hay bình thường) nhưng kết thúc ở chủ âm như lúc mở đầu, và có thể bảo đây là một kiểu tiến hóa vòng tròn.
 

Tiến hóa có tính năng động, đối nghịch với cân bằng có tính tĩnh tại. Thật vậy, mọi chuyển động phải dựa trên sự đảo lộn của cân bằng đã được thiết lập. Tuy nhiên mặt khác, hiếm khi nào cân bằng lại không có chuyển động vì có khuynh hướng tiến từ phần này sang phần kia để có cân bằng. Hơn nữa, thường có một cân bằng bên trong tiến triển, giữa phần trước và phần sau của nhạc đề. Nhưng kết hợp tiến triển và cân bằng không làm hại đến tính chất riêng của mỗi thứ.


Biến đổi nhạc đề thoạt nhìn có vẻ nghịch với tiến hóa, nhưng thật ra không có trường hợp biến đổi nào mà không có yếu tố tiến hóa hiện diện. Một loạt những biến đổi chẳng đem lại hiệu quả gì, nếu như mỗi biến đổi không thêm một cái gì đó vào ý nghĩa được tích tụ và hoàn chỉnh khi các biến đổi chấm dứt. Một ý nghĩa được hình thành khi tiến triển và biến đổi chủ đề tiến lại gần nhau và hội tụ.


Tuy nhiên có sự khác nhau về cách thức tạo nên ý nghĩa. Biến đổi nhạc đề là lập lại ý nghĩa trung tâm trong những hình thể mới. Tiến hóa, qua thực hiện ý tưởng chủ yếu bao trùm duy nhất trải dài trên đoạn hoặc toàn tác phẩm, thường được biểu thị một lần mà thôi. Một đàng khởi sự bằng một ý đã có sẵn, khai thác nó bằng lập lại có biến đổi; một đàng chỉ có một ý rất mơ hồ, chưa xác định để bắt đầu và kiến tạo nó từng bước một. Một đàng phân tích; một đàng tổng hợp.


Khi kiến tạo nhạc đề có thể sử dụng cả cân bằng và biến đổi. Ví dụ khi xây dựng một giai điệu có thể đi từ một nốt đã có đến nốt khác thuận, như thế là lập lại cái tiết tấu tâm lý căn bản của hai nốt, là cơ sở cho hòa âm của chúng. Hoặc có thể đi sang một nốt nghịch, tạo biến đổi. Tuy nhiên, tự chính chúng, cả biến đổi nhạc đề lẫn cân bằng đối nghịch, đều không tạo được tiến hóa. Bởi vậy biến đổi nhạc đề, cân bằng và tiến hóa giữ nguyên là những hình thức căn bản và không thể giản lược của tính thống nhất thẩm mỹ. Chúng trộn lẫn với nhau trong tác phẩm, nhưng vẫn giữ tính cách khác biệt.


Nguyên tắc tiến triển làm liên tưởng đến chuyển động của giai điệu. Chuyển động này tạo cho âm nhạc một hình thể nhờ ở đường nét chuyển động. Lối nói ẩn dụ này tạo nên hình ảnh thị giác dễ lãnh hội. Theo đó có thể nhận thấy vài đường nét chính sau của giai điệu.


- Từ thấp lên cao, lên cao dần đến cao nhất là kết thúc.
- Từ cao xuống thấp.
- Thông dụng nhất là đường hình cầu vồng, tăng dần căng thẳng phấn khích, tới một điểm cực đại thì hạ xuống bằng một giải tỏa, thư giãn cho đến kết thúc.
- Trường hợp ít phấn khích thì chuyển động ngược lại, hình cái võng, hạ dần xuống thấp và trở lên lại để kết thúc.
- Âm nhạc bình bình đều đều thì đường nét nằm ngang, dĩ nhiên có những sóng nhỏ, ít hấp dẫn người nghe.


Đó là vài nét chính của tiến triển giai điệu của bản nhạc cũng như của các đơn vị thành phần như câu, đoạn... Kết hợp chúng sẽ đạt được tác dụng hữu hiệu. Và sau cùng giai điệu thường nghỉ ở cuối câu bằng nốt trường độ dài, hoặc dấu lặng, với những kiểu giai kết khác nhau tùy theo kết thúc được xác định nhiều hay ít..


Nguyên tắc tiến hóa không dễ thực hiện. R. Strauss đã phải thú nhận, "Tôi làm việc rất lâu trên những giai điệu. Điều quan trọng không phải là khởi đầu của giai điệu nhưng là phần tiếp tục, phần phát triển thành một hình thức giai điệu hoàn chỉnh".


VII. Nguyên Tắc Phân Cấp

Đây là nguyên tắc tổ chức các thành phần của phương thức thống nhất hữu cơ như biến đổi, tương phản, cân xứng và tiến hóa trong các dơn vị âm nhạc như câu, đoạn, bản nhạc. Không phải đôi khi mà luôn luôn trong tác phẩm phức tạp có thể có một hay nhiều phần chiếm một vị trí quan trọng hơn. Những phần này luôn luôn thể hiện nhạc đề một cách mạnh mẽ và có một ý nghĩa lớn hơn các phần khác. Trong bức chân dung, hình người quan trọng hơn cái nền, và khuôn mặt thì nhiều ý nghĩa hơn tất cả. Trong âm nhạc cũng có đoạn lấn lướt các phần khác, hoặc là chỗ cực đại, cao trào. Tiến hóa kịch tính là môt minh họa. Trong cân xứng một phần tử có thể áp đảo hơn tuy chỉ nhẹ thôi. Tuy nhiên, mức độ quan trọng chỉ là tương đối, và một thành phần chính nó không có vai trò quan trọng đặc biệt trong tổng thể, nhưng vẫn có thể lấn át phần khác một cách tương đối. Nhiều khi không có phần tử nào nổi bật hẳn mà các phần tử đều quan trọng, nhưng mức độ quan trọng thì có hơi khác nhau (như trong trường hợp tiến hóa bình thường). Tóm lại đây là vấn đề liều lượng, tỉ lệ hợp lý giữa các phần tử âm nhạc. Trong âm nhạc những chỗ thường tạo chú ý là đầu, giữa và nhất là cuối câu nhạc, đoạn nhạc, bài nhạc.

Trên đây là điểm qua những nguyên tắc thẩm mỹ thường được sử dụng để cấu tạo nên âm nhạc hay đẹp. Chúng chỉ là những nhận xét, khuyến cáo, không phải nguyên tắc cố định, bất di dịch, bảo đảm sử dụng chúng sẽ tạo được nhạc phẩm giá trị, vì tài năng sáng tạo của nhạc sĩ mới là yếu tố chính để có nhạc phẩm hay đẹp. Có khi không theo nguyên tắc mà nhạc sĩ vẫn có thể làm ra nhạc bất hủ. Như C. Saint-Saens đã nói "Trong âm nhạc, tất cả đều được phép miễn là hay đẹp" (Tout est permis en musique, pourvu que ce soit joli).
 


Phạm đức Thân

Đọc thêm: Sáng Tác Âm Nhạc (art2all.net)

 

 

 

art2all.net