Sài G̣n,
Triều Hoa Đại
TR̉ CHUYỆN CÙNG
NHÀ THƠ & DỊCH GIẢ THIẾU KHANH
NGƯỜI MIỆT MÀI
THUỶ CHUNG CÙNG CHỮ NGHĨA.

Nhà thơ Thiếu Khanh
Nhà thơ và cũng là
dịch giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng mà mọi người đă biết,
chúng tôi rất vui mừng được tiếp xúc, chuyện tṛ cùng ông hôm
nay, đó là: THIẾU KHANH, một người đă sống và “lăn lộn” ở trường
văn, trận bút trên sáu nươi năm (60) có lẻ. Nhớ lại ngày ấy, một
ngày đă xa, đă lùi khuất theo bóng nắng của thời gian, những bài
thơ hay của ông mà chúng tôi đă được đọc ở tạp chí Thời Nay,
những bài viết của nhà văn Song Thao cũng nằm ở đó. Tôi cũng gửi
dăm ba bài thơ t́nh của thời mới lớn cho tạp chí này và lúc đó
nhà thơ Hoài Thương, người phụ trách trang văn học, đă cho cùng
góp mặt.
Thế rồi, bẵng đi một thời gian
xa khuất, chúng tôi đă lạc mất nhau; và giờ đây chúng tôi lại
được gặp nhau qua những ḍng chữ này.
Để bắt đầu, đề nghị dịch giả &
nhà thơ Thiếu Khanh giới thiệu đôi chút về thân thế cũng như sự
nghiệp của anh.
Thiếu Khanh: Thưa anh Triều Hoa Đại. Cám ơn anh và tạp
chí Ngôn Ngữ đă có nhă ư dành cho hai chúng ta cuộc tṛ chuyện
này. Nhưng nói về “thân thế và sự nghiệp” th́ nghe lớn lao quá.
Thực ra tôi chưa làm được điều ǵ đặc biệt hay đáng kể để khoe
với anh. Cho đến nay, có lẽ điều tôi có được nhiều nhất là… số
tuổi. Tôi tuổi Nhâm Ngọ (1942), nhưng hồi nhỏ ở nhà quê loạn lạc
trẻ con đi học trễ nên làm giấy Thế v́ Khai sanh ghi sụt một
tuổi, 1943, để thi vào trường công lập. Quê tôi là Làng B́nh
Thạnh (có tên cổ thường gọi là La Gàn – có lẽ phiên âm của một
từ ǵ đó tiếng Chiêm Thành chăng?) huyện Tuy Phong, tỉnh B́nh
Thuận cũ. Hiện nay tuy có hộ khẩu thường trú ở Quận 1, Sài G̣n,
song gia đ́nh tôi đang có một ngôi nhà nhỏ, tạm trú tại huyện
Hóc Môn, vùng đất lịch sử của 18 Thôn Vườn Trầu xưa.
Không kể Khơi Ḍng, tập thơ in chung ba tác giả: Thiếu
Khanh, Thu Lâm và Nguyen Thi Sinh, tại Canada năm 1968, tôi có
in riêng được hai tập thơ, cách nhau gần 50 năm. Tác phẩm đầu
tiên là Trong Cơn Thao Thức (nxb Da Vàng, Đà Nẳng, 1971),
và tác phẩm thứ hai, T́nh Ca Thiếu Khanh (nxb Nhân Ảnh,
Hoa Kỳ, 2020.)
Tôi cũng có dịch được một số tác phẩm thuộc nhiều thể loại từ
tiếng Việt sang tiếng Anh và ngược lại, trong đó gồm thi phẩm
của một số nhà thơ, và các tác phẩm fiction và non-fiction, cho
một số nhà xuất bản trong nước. (Riêng với Công ty truyền thông
Nhă Nam là nhiều nhứt, với 10 tựa sách).
Ngoài ra, tôi có soạn một cuốn Từ Điển Cụm Từ Việt Anh
(Vietnamese – English Phrase Dictionary) do nxb Trẻ xuất bản và
giữ bản quyền (2005), và hiện nay sắp xong một cuốn Từ điển
khác, Từ Điển Phiên Dịch Việt Anh – Vietnamese-English
Translating Dictionary.
Triều Hoa Đại: Theo tôi biết, trước khi là một dịch giả
anh là một nhà thơ. Có người nói: “Thi sĩ là người quan sát thời
gian, chiêm nghiệm bản ngă, đối thoại với đời và chính ḿnh.”
Theo anh điều đó có đúng không? Anh có ư kiến ǵ để bổ túc?
Thiếu Khanh: Thưa anh, dường như lời phát biểu trên
thường được cho là của nhà thơ Nguyễn Duy trong nước, nhân ông
đàm luận với bằng hữu trong những cuộc trà dư tửu hậu, và được
bộc lộ nhiều trong tập thơ “Về” (1989) của tác giả. Không
biết có phải không. Lời phát biểu của ông (nếu đúng vậy) là
những nhận thức cá nhân của một thi sĩ đóng góp thêm vào lănh
vực này: xác định vai tṛ và trách nhiệm của thi sĩ trong cuộc
sống. V́ từ hàng ngàn năm nay, sự hiện hữu của các thi sĩ và vai
tṛ của họ đă được rất nhiều nhà tư tưởng, văn nhân, thi sĩ nổi
tiếng trên khắp thế giới nhận định hoặc định nghĩa rất khác
nhau.
Cách nay gần một thế kỷ, vào khoảng đầu những năm 1930, thời kỳ
Tự Lực Văn Đoàn ở nước ta ra đời, nhà thơ Xuân Diệu đă “định
nghĩa”: “Là thi sĩ nghĩa là ru với gió / Mơ theo trăng và vơ
vẩn cùng mây…” Nhưng ư tưởng này sau đó, vào khoảng đầu thập
niên 1940, đă bị ông Sóng Hồng (tức Trường Chinh, về sau là Tổng
Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam) gạt bỏ trong bài thơ “Là Thi sĩ”
của ông ta, và gán cho thi sĩ một ư nghĩa tích cực hơn:
(… )
Là thi sĩ phải là hồn cao khiết,
Chí kiên cường và sứ mệnh cao siêu;
Ca tự do, tiến bộ với t́nh yêu
- Yêu nhân loại, ḥa b́nh và công lư -
(…)
Từ hàng ngàn năm trước, theo lời Plato, nhà tư tưởng nền tảng
của truyền thống triết học phương Tây, ghi lại trong cuốn
Apology, Socrates, nhà triết học Hy Lạp cổ đại đă phát biểu: “Tôi
đă quan sát các thi sĩ và nhận thấy họ là những người có tài
năng làm kinh ngạc cả bản thân lẫn kẻ khác; họ tỏ ra thông thái
và được người đời coi là thông thái, trong khi thực chất họ
chẳng có ǵ là thông thái cả." (I examined the poets, and I
look on them as people whose talent overawes both themselves and
others; people who present themselves as wise men and are taken
as such, when they are nothing of the sort.)
Và bản thân Plato, người học tṛ của Socrates, dù rất ngưỡng mộ
các thi sĩ, nhưng đă coi họ là những “người sáng tạo nguy
hiểm của sự bắt chước” (dangerous creators of imitation),
những kẻ chỉ chú trọng về mặt cảm xúc hơn là sự thật (focused
more on emotions than on truth). Ông cho rằng thơ ca làm tha
hóa tâm hồn, xuyên tạc các vị thần và cách xa thực tại ba bậc
(that poetry corrupted the soul, distorted the gods, and was
three steps away from reality.) Theo ông, nhà thơ chỉ là những
kẻ si t́nh. “Khi t́nh yêu chạm đến, ai cũng trở thành thi sĩ”
(At the touch of love everyone becomes a poet.) Và Plato thẳng
tay xua đuổi các thi sĩ ra khỏi cái thành bang lư tưởng (ideal
city-state) mà ông sáng tạo trong tác phẩm The Republic.
Gần hai thế kỷ trước, Søren Aabye Kierkegaard (1813–1855), nhà
thần học, triết gia, thi sĩ, người Đan Mạch, được nhiều người
coi là triết gia hiện sinh đầu tiên, th́ hỏi: “Thi sĩ là ǵ?”
và ông tự trả lời: “(Đó là) một người bất hạnh, giấu kín nỗi
đau đớn sâu sắc trong ḷng, nhưng đôi môi lại được tạo h́nh sao
cho khi tiếng thở dài và tiếng khóc thoát ra, vang lên như một
bản nhạc tuyệt vời…” (“What is a poet? An unhappy man who
hides deep anguish in his heart, but whose lips are so formed
that when the sigh and cry pass through them, it sounds like
lovely music....)
Dưới mắt William Shakespeare, thi sĩ, kịch tác gia vĩ đại của
văn học Anh thế kỷ 15, thi sĩ chỉ được xếp ngang hàng với kẻ
điên, khi ông nói: “Kẻ điên, người si t́nh và thi sĩ, tất cả
đều được gói gọn trong trí tưởng tượng…” (The lunatic, the
lover, and the poet, are of imagination all compact.) Chính
Shakespeare cũng là một thi sĩ!
C̣n Gregory (Dale) Bear (1951 –2022), nhà văn viết tiểu thuyết
khoa học giả tưởng người Mỹ, cho rằng: “Có thời, các thi sĩ
là những pháp sư. Các thi sĩ mạnh mẽ, mạnh hơn cả chiến binh hay
vua chúa — mạnh hơn cả những vị thần thiếu may mắn xưa kia.”
(Once, poets were magicians. Poets were strong, stronger than
warriors or kings — stronger than old hapless gods.)
Theo Allen Ginsberg, nhà thơ và nhà văn người Mỹ (1926–1997):
“Các thi sĩ bị người ta nguyền rủa… nhưng lại nh́n (mọi vật)
bằng con mắt của các thiên thần.” (Poets are damned… but see
with the eyes of angels.)
Vân vân…
Nhưng có người quan niệm thi sĩ là người có vai tṛ cực kỳ quan
trọng. Trong một bức thư gởi cho người Thầy là Paul Demeny vào
ngày 15 tháng 5 năm 1871, nhà thơ Pháp Arthur Rimbaud đă viết: "Le
poète est donc vraiment voleur de feu." (Do đó, thi sĩ thực
sự là kẻ trộm lửa.) Đây là sự liên tưởng trực tiếp đến h́nh
tượng thần thoại Prometheus, người đă đánh cắp lửa (tức tri
thức) của các vị thần để trao cho nhân loại.
Trước đây từng có người nhận xét mỗi người Việt Nam là một thi
sĩ, và hiện nay, có người nói Việt Nam là một “cường quốc thơ”
nhưng từ sau khi đất nước thống nhứt, thi sĩ của cả hai phe
thắng cuộc và thua cuộc đều hụt hẫng, ngơ ngác, khiến ta liên
tưởng h́nh bóng hiu hắt của thi sĩ Tô Thùy Yên:
Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai.
Triều Hoa Đại: Chuyện sinh hoạt văn
học trong nước ngày nay thế nào? Tôi muốn nói đến sách, báo có
được nhà nước cho phép phổ biến, in ấn có tự do. Nếu như có được
tự do th́ cũng là điều nên làm bởi v́ con người ta đâu chỉ sống
bằng cơm gạo, áo quần mà c̣n phải cần đến đời sống tâm linh, chữ
nghĩa nếu không cần đến văn chương th́ có khác ǵ cái giá để mắc
áo và cái bụng để đựng cơm anh nghĩ thế nào, và chính quyền theo
anh họ có nghĩ như chúng ta không?
Thiếu Khanh: Thưa anh, ḿnh không thể nói được Chánh
quyền có nghĩ như ḿnh hay không. Nhưng theo thông tin trên mạng
Internet, chánh quyền có khoảng tám trăm tờ báo và các đài phát
thanh, truyền h́nh khắp nước, trong đó không có một tờ báo hay
đài phát thanh hoặc truyền h́nh nào của tư nhân. Nắm trong tay
một số lớn báo chí trên toàn quốc như vậy cho nên chánh quyền
hoàn toàn có tự do báo chí.
Chánh quyền địa phương mỗi tỉnh hoặc thành phố đều có ít nhứt
một nhà xuất bản. Và không có nhà xuất bản tư nhân nào. Tức là
trong nước, chánh quyền tuyệt đối có tự do ngôn luận.
Về phía người dân, họ chỉ có internet và các mạng xă hội. Đó là
những ô cửa tinh thần mở ra thế giới, qua đó họ có được sự tự do
tương đối nh́n ra và nh́n thấy thế giới bên ngoài. Chỉ là tương
đối thôi, v́ cả mạng Internet và các mạng xă hội, dù xuất phát
từ các nước tự do, đều được theo dơi và kiểm soát cách này hay
cách khác.
Triều Hoa Đại: Lúc c̣n sinh thời nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
có đưa ra ư kiến như thế này:” cần có thêm văn học trong
nước, và văn giới hai nơi cần liên hệ gần gũi, trao đổi với
nhau” anh có đồng ư như vậy không. Và, tại sao v́ lư do ǵ
mà văn giới chúng ta phải chờ đợi lâu và rồi c̣n phải chờ đợi
thêm bao lâu nữa, nhà nước kêu gọi “hoà hợp, hoà giải” vậy nghĩa
của “hoà hợp, hoà giải “ theo anh hiểu là ǵ?
Thiếu Khanh: Thưa anh Triều Hoa Đại, một ư kiến như thế
không chỉ một nhà văn Nguyễn Huy Thiệp nêu ra. Hầu như không một
người cầm bút nào có tâm huyết với nền văn học nước nhà mà không
nghĩ tới. Nghĩ tới, hoặc có khát vọng là chuyện của người cầm
bút trong và ngoài nước. Nhưng đă hơn 50 năm rồi mà “người bên
ngoài” vẫn c̣n mơ chuyện “ḥa hợp ḥa giải” th́ liệu có… lỗi
thời không! Xin lỗi anh. Hơn nửa thế kỷ rồi. “Bên thắng cuộc”
không chỉ đă thắng trên mặt trận quân sự, “đánh cho Mỹ cút ngụy
nhào,” mà họ c̣n thắng thêm nữa về mặt văn hóa nghệ thuật: phát
triển các mặt văn hóa nghệ thuật theo đường lối của Đảng mà
không cần phải kêu gọi ḥa hợp ḥa giải ǵ cả. V́ biết thời gian
đứng về phía ḿnh, chánh quyền đă đủng đỉnh chờ…thời gian sẽ kéo
“những người bên kia” về “ḥa hợp” với họ mà bản thân họ không
cần phải ḥa hợp ḥa giải với ai cả. Ai cần ḥa hợp ḥa giải với
họ th́…về.
Cỡ…phó tổng thống như Nguyễn Cao Kỳ đă xun xoe về với họ, th́ họ
c̣n cần phải ḥa hợp ḥa giải ǵ nữa, và với ai nữa? Những năm
gần đây, giới biểu diễn giải trí hải ngoại đă lần lượt “hàng
Tào.” Từ cỡ đại thụ như Phạm Duy đến những ca sĩ kịch sĩ tầm tầm
hay nổi tiếng khác. Đừng nói đó là những kẻ “xướng ca…” Đợt tị
nạn F0 đă quá già, không c̣n được mấy người. Đợt F1 lớn lên đă
ḥa nhập vào văn hóa của cuộc sống mới, không c̣n hứng thú với
“gu” thưởng ngoạn văn hóa của lớp cha mẹ. Càng ngày, thời gian
kéo dài ra, giới nghệ sĩ càng không c̣n khán giả. Nghệ sĩ cũng
cần ăn để sống như mọi người. Thực tế cuộc sống xô đẩy họ về
nước kiếm ăn. Những anh chị nào không về hay chưa về chắc phải
cảm thấy thời gian của ḿnh sắp hết. Họ về để tự ḿnh “ḥa hợp
và ḥa giải” với chánh quyền. Nhưng quyền…được ḥa giải hay
không th́ không nằm trong tay họ. Giới cầm bút hải ngoại chưa
thấy ḿnh sắp hết độc giả v́ tác phẩm văn học không cần sân khấu
chăng? Dù các anh chưa thấy hay không muốn thấy sự “phản bội”
của thời gian, nhưng chánh quyền trong nước đă thấy từ lâu. Thế
th́ sao họ phải “ḥa hợp ḥa giải” với các anh chị cầm bút ở
nước ngoài?
Triều Hoa Đại: Thưa anh Thiếu Khanh đến đây tôi muốn hỏi
anh về chuyện hội nhà văn ở trong nước. Anh có tham gia hội này
không? Tôi nghe nói muốn được kết nạp vào hội th́ khó như lên
trời, có phải vậy không? Có người cho biết tỷ lệ được vào hội
nhà văn Việt Nam nếu đem so sánh với một trường đại học danh
tiếng như Cornell th́ cũng chẳng khác ǵ. Bằng chứng là trong
năm qua có chín trăm (900) đơn xin vào hội nhưng số nhà văn được
kết nạp chỉ có sáu mươi ba (63) được nhận, nhưng trong số những
“nhà văn” được hội kết nạp có những hội viên độc giả chẳng biết
họ là ai, tài giỏi đến mức độ nào. Vậy theo anh cứ như cái đà
này th́ văn chương Việt Nam bao lâu nữa sẽ đi cùng và ngang bằng
với văn chương thế giới? Và rồi văn chương Việt Nam sẽ đi đến
đâu và về đâu?
Thiếu Khanh: Thưa anh Triều Hoa Đại, thực ra suốt 50 năm
qua tôi chưa hề quan tâm đến chuyện này, nên không biết ǵ về
các hoạt động của Hội nhà văn Việt Nam, dù 15 năm trước, có lần,
hai lần, tôi được Hội Nhà Văn ở Hà Nội mời tham dự hai sự kiện
quan trọng của họ, tuy tôi không phải là hội viên Hội Nhà văn
Việt Nam, cũng không là hội viên của Hội Văn học Nghệ thuật
Thành phố nơi gia đ́nh tôi sinh sống. Lần đầu, năm 2010, với tư
cách dịch giả tham dự một hội nghị quốc tế về quảng bá Văn học
Việt Nam. Lần thứ hai, năm 2012, tham dự một Festival Thơ quốc
tế. Cả hai lần đều tại Hà Nội. Sau hai lần đó, tôi không được
mời nữa. Mà tôi cũng không có mong muốn trở thành một hội viên
Hội nhà văn. Mọi hội đoàn đều là các tổ chức do nhà nước “nắm”
để kiểm soát. Sao phải chui đầu vào làm ǵ?
Tôi thấy trên mạng xă hội Facebook người ta nói có không ít kẻ
t́m mọi cách chạy chọt thế nào đó để có được cái thẻ hội viên
Hội nhà văn. Lại nghe nói có người đặt cái thẻ hội viên lên kiệu
để rước về làng. Rồi, thậm chí họ c̣n làm tiệc lớn để khao cái
thẻ đó. Những cách “hội viên hóa”…phi văn học như thế không biết
để làm ǵ.
C̣n có người khác, tôi nghe nói, “nếu ai gợi ư ông ta xin vào
Hội nhà văn ắt bị ông ta…mắng cho rát mặt.” Th́ thôi, chín người
mười ư vậy.
Nền văn học Việt Nam có ngang bằng với văn học thế giới hay
không, hay sẽ đi đến đâu, về đâu, đều không liên quan ǵ đến
chuyện người viết có vào Hội nhà văn hay không.
Triều Hoa Đại: Cũng vẫn chuyện dài về hội nhà văn. Nhiều
người đưa ra quan niệm:” Đừng quan tâm đến chuyện được kết nạp
vào hội nhà văn mà hăy nên xem thơ văn của ḿnh có được độc giả
đón nhận, đánh giá chất lượng của tác phẩm, chứ không phải cái
danh là hội NHÀ VĂN. Ư kiến của anh?
Thiếu Khanh: Thưa anh, đúng thế. Đâu phải người cầm bút
phải vào Hội nhà văn mới sáng tác được, hoặc tác phẩm mới được
bảo đảm giá trị! Anh muốn viết, chỉ cần trải giấy ra, cầm bút
lên là viết được thôi. Dù bây giờ có thể không dùng giấy bút nữa
mà dùng máy tính th́ máy tính cũng không đ̣i hỏi phải có hội
đoàn.
Cái làm nên nhà văn là tác phẩm, chớ đâu phải cái thẻ hội viên
Hội nhà văn! Tôi có biết một số nhà văn cứ lặng lẽ sáng tác và
tự xuất bản theo cách của ḿnh mà không cần phải là hội viên ǵ
cả. Nhà văn Nguyễn Viện, chẳng hạn, nghe nói năm năm qua anh
viết và tự in đều đều mỗi năm một tiểu thuyết. Dường như chưa có
một hội viên Hội nhà văn nào có được bút lực như vậy.
Thời Liên xô các nhà văn có samizdat (tiếng Nga, h́nh thức tự
xuất bản). Ngày nay, nếu không in được trong nước, vẫn có thiếu
ǵ cách để xuất bản tác phẩm của ḿnh ở nước ngoài. Không phải
ngay từ thời đó, Bác sĩ Zhivago của Boris Pasternak được in
ngoài nước Nga – ngoài Liên xô – và được trao giải Nobel Văn
chương đó sao?
Một nhân tố quan trọng giúp khẳng định sự có mặt của một nhà văn
là số độc giả của họ. Văn hay đương nhiên là có người đọc, nhưng
dù sao giữa nhà văn và người đọc cũng cần có một chiếc cầu nối
chớ không thể theo lẽ nhà văn cứ “hữu xạ” th́ “tự nhiên hương.”
Chiếc cầu nối đó là giới phê b́nh văn học. Nhưng trên diễn đàn
văn học Việt Nam trong nhiều thập niên qua dường như chưa hề có
một nền phê b́nh văn học đúng nghĩa. Có lẽ chỉ có những người
giám sát, mà từ cũ gọi là “ngự sử văn đàn” canh giữ sao cho mọi
tác phẩm văn học luôn nằm dưới một lằn ranh đỏ nào đó. Thỉnh
thoảng có tác giả nào cố gắng vươn tới (cái gọi là) “gần sự
thật” một chút, lập tức bị nhiều người xúm vào “đánh hội đồng”
cho tơi tả. Bảo Ninh với tiểu thuyết Nỗi Buồn Chiến Tranh là một
ví dụ, dù trong đó tác giả có vẻ “lấy ḷng phe ta,” vẽ ra cảnh
“lính ngụy ăn thịt người.”
Dường như sự vắng mặt các nhà phê b́nh văn học là một trong số
các nguyên nhân khiến nhiều người Việt Nam không thích đọc sách.
Họ không được kích thích để đọc. Thấy tin trên báo nói trung
b́nh mỗi người Việt một năm đọc 4 cuốn sách mà 2,8 cuốn trong đó
là sách giáo khoa. Lại có một thống kê nào đó nói một người Việt
Nam mỗi năm đọc 0,5 cuốn sách văn học. Điều này có lẽ phản ảnh
trong số lượng bản in của tác phẩm. Thường th́ một tác phẩm được
in ra vài trăm bản, một số dành tặng thân hữu. Có lẽ họa hoằn
lắm mới có một tác phẩm có được tirage 1000 bản. In ít nên giá
thành cuốn sách tăng cao quá, càng không khuyến khích người đọc.
Không khí văn học cứ b́nh b́nh. Và người ta đang trông chờ một
giải Nobel văn chương.
Nhưng trên đây chỉ phản ảnh sự hiểu biết rất hạn chế và có thể
nông cạn của một người “ngoại đạo” – một dịch giả, không phải
trong giới sáng tác văn học.
Triều Hoa Đại: Những lúc gần đây trong họ ngoài làng xôn
xao về chuyện AI viết văn, làm thơ. Như vậy trong tương lai gần
các nhà văn, nhà thơ của chúng ta hoá ra bỗng dưng trở thành
thất nghiệp, anh có cho rằng đấy là một vấn nạn?
Thiếu Khanh: Thưa anh, gần đây tôi cũng nghe chuyện có
tác phẩm của một tác giả được giải thưởng, và độc giả phát hiện
tác phẩm được viết bằng AI. Tôi rất ngạc nhiên. Bởi tôi rất bận
với công việc của ḿnh, không có nhu cầu và trải nghiệm với AI,
nên rất mù mờ về chuyện này. Không ngờ khoa học đă (?) có thể
thay thế hẳn hoạt động của trí óc con người. Tuy vậy, tôi không
băn khoăn việc “nhà văn nhà thơ chúng ta bỗng dưng (có thể) trở
thành thất nghiệp,” mà có nỗi lo khác. Nếu khoa học tiến nhanh
và xa như thế, chẳng mấy chốc nữa trí khôn nhân tạo sẽ vượt qua
trí óc con người. Không chỉ việc nhân loại có thể bị máy móc
thống trị mà, cái đáng sợ hơn, trong tương lai rất gần, con
người sẽ có thể sử dụng các sản phẩm AI ghê gớm để thống trị và
kiểm soát đồng loại gắt gao hơn.
Triều Hoa Đại: Chắc anh thường xuyên theo dơi “bước chân”
của anh, chị em viết văn và làm thơ ở trong nước và hải ngoại.
Anh đọc những ai ở trong nước và những tác giả nào ở bên ngoài
tổ quốc? V́ lẽ ǵ mà anh lại đọc họ? Và nhận xét của anh?
Thiếu Khanh: Thưa anh Triều Hoa Đại, tôi thật xấu hổ thú
nhận rằng do một hoàn cảnh riêng, từ nhiều năm nay tôi chỉ chúi
đầu vào công việc kiếm sống, nên ngoài những nguồn tư liệu tham
khảo cụ thể cần cho công việc, tôi không đọc được ǵ nhiều về
tác phẩm sáng tác văn học, cả trong và ngoài nước; hoặc tôi chỉ
đọc được rất lơm bơm. V́ vậy, tôi xin phép không dám nói ǵ về
chuyện này. Tôi nhận được rất nhiều sách biếu của bằng hữu – hầu
hết từ trong nước, v́ thuận tiện hơn. Tôi rất cảm kích nhă t́nh
của các bạn, nhưng đă phải nhiều lần tạ lỗi v́ rất phụ ḷng yêu
mến của người tặng sách.
Về tác phẩm của các nhà văn sống ở nước ngoài, tôi chỉ thấy được
tên sách của họ trên mạng Internet.
Triều Hoa Đại: Được biết anh đang thực hiện một cuốn từ
điển Việt Anh và cuốn từ điển ấy đă có một độ dày kinh khủng: ba
ngàn bẩy trăm trang (3700) thế th́ cuốn từ điển ấy khi nào sẽ
hoàn thành, cũng tiện hỏi anh là anh khởi công biên soạn cuốn từ
điển tự khi nào tổng cộng số tháng năm để có cuốn tự điển này?
Thiếu Khanh: Thưa anh, chuyện này là do nhu cầu thực tế
của công việc thúc đẩy. Là một dịch giả, thỉnh thoảng tôi đụng
đầu với một số khó khăn: không có sẵn những từ tương đương và
chính xác trong tiếng Anh cho một từ hay một cụm từ (phrase) mô
tả một khái niệm nào đó trong tiếng Việt. Một phần là do sự khác
biệt văn hóa. Phần khác, có thể những từ đó vốn có trong tiếng
Anh mà ḿnh chưa biết. Trước đây có một cô phóng viên đă trực
tiếp hỏi tôi, cụ thể những từ tiếng Việt mà tôi bị “bí” khi dịch
sang tiếng Anh đó là ǵ, nhưng nhất thời lúc đó tôi không nhớ.
Đó là, ví dụ, những từ “giang hồ,” “bạn giang hồ,” “khách thương
hồ,” vân vân.
Có lần có một dịch giả nổi tiếng trong nước đă dễ dăi dịch từ
“bạn giang hồ” là “friends of rivers and lakes” khiến mạng xă
hội Facebook xôn xao.
Lại có người dịch trái thanh long là “dragon fruit,” cây chuối
cô đơn là “lonely banana,” vân vân, mà không biết rằng các cây
trái đó vốn đă có từ tiếng Anh để gọi. Sự “đặt tên mới” như thế
không những là không cần thiết mà c̣n làm rối trí và gây nhận
thức sai lạc cho người đọc. Do đó, tôi muốn làm một cuốn từ điển
cho chính ḿnh tham khảo khi cần, và giúp những người muốn dịch
sang tiếng Anh một cách chính xác theo cách nói/viết của người
bản ngữ, chớ không phải mang phong cách tiếng Việt, hay thứ
tiếng Anh theo cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt.
Sau khi nhà xuất bản TRẺ in (và giữ bản quyền) cuốn Từ Điển Cụm
Từ Việt Anh của tôi (năm 2005), tôi bắt đầu vừa làm việc dịch
thuật hàng ngày, vừa đặt kế hoạch cho một cuốn Từ Điển Phiên
Dịch Việt Anh. Từ đó đến nay 21 năm, và cuốn sách với 3700 trang
bản thảo trên máy tính đă xong phần soạn thảo. Tôi đang trong
giai đoạn đọc lại bản thảo và cố gắng rút ngắn bớt số trang.
Sở dĩ tôi mất nhiều thời gian như thế là v́ tôi làm việc một
ḿnh, vừa dịch thuê kiếm sống, về sau vừa chăm sóc nhà tôi điều
trị bịnh một thời gian dài nhiều năm. Nhiều lúc tôi phải mang
laptop vào bịnh viện để làm việc vào ban đêm vừa tiện chăm sóc
nhà tôi. Hiện nay nhà tôi đang trong quá tŕnh b́nh phục, tuy
người c̣n yếu, và vừa trải qua một đột quỵ nhẹ.
Có người lo lắng cho tôi v́ thấy Google Dịch đă khá tốt, e rằng
cuốn Từ Điển của tôi sẽ bị …lỡ tàu mất. Nhưng tôi vẫn lạc quan,
v́ bản thân tôi trực tiếp tiếp xúc với việc dịch thuật, nhận
thấy cho đến nay Google Translate chỉ “xử lư” được những câu văn
b́nh thường, dịch nghĩa của từ, ví dụ Google Translate dịch: “Ăn
trái nhớ kẻ trồng cây” = when eating fruit, remember the one who
planted the tree. Cách dịch từ ngữ đó không phù hợp với cách
nghĩ và biểu đạt của người Anh-Mỹ, nên “đối tượng” sẽ thấy ngô
nghê và không lănh hội được ư nghĩa thực sự từ ngôn ngữ nguồn.
Khi nhu cầu dịch là chuyển được ư của lời tiếng Việt mang tinh
thần văn hóa Việt sang tiếng Anh trong tinh thần văn hóa Anh như
một người bản ngữ, đó sẽ là chỗ “sở dụng” của Từ Điển Phiên Dịch
Việt Anh.
Triều Hoa Đại: Anh, chị em văn giới nhiều người bảo với
tôi Thiếu Khanh là một người rất đa tài và uyên bác; chẳng thế
mà chuyện ǵ anh cũng chuyên trị được tất tần tật như: làm thơ,
tiểu thuyết, dịch thuật, viết sách về y khoa, viết về lịch sử và
chính trị ..v..v… , Họ gọi anh là ĐẠI GIA bởi v́ anh là người có
rất nhiều”NHÀ”, nào là nhà thơ, nhà dịch thuật, nhà văn …v…v…
Thế th́ trong những “cái nhà” ấy anh tâm đắc nhà nào và anh muốn
được gọi anh là nhà ǵ?
Thiếu Khanh: Thưa anh, tôi tưởng những từ “nhà thơ” hay
“dịch giả” dành cho tôi đă là quá nhiều rồi. Tôi không có học
hành hay được đào tạo để làm nhà thơ hay để trở thành dịch giả.
Làm thơ là chuyện t́nh cờ tập tành từ hồi c̣n trẻ, không qua
trường lớp nào. C̣n dịch thuật chỉ là do đói th́ đầu gối phải
ḅ. Tôi làm công việc dịch thuật này cũng như trước đó, sau năm
1975, tôi đă từng làm nông dân 12 năm trên rừng núi Phương Lâm
tỉnh Đồng Nai, rồi bán hàng rong hay dạỵ học trên cao nguyên Lâm
Đồng 12 năm nữa, để nuôi sống bản thân và gia đ́nh. Chẳng qua
“gặp thời thế thế thời phải thế.”
Về Y Khoa, tôi chỉ dịch vài cuốn sách thôi, chớ không viết sách
trong lănh vực này. (Có biết ǵ đâu mà viết!) Đó là khoảng thời
gian tôi mới đưa gia đ́nh từ trên cao nguyên Lâm Đồng trở về
thành phố vào năm 2000, chính thức bắt đầu công việc dịch thuật
như một nghề kiếm sống. Anh Vũ Minh Tân, một người “làm sách” có
tiếng ở Sài G̣n, có biết tôi trước đó, giới thiệu tôi với bác sĩ
Lê Hồng Hà, một giảng viên Đại Học Y Dược ở thành phố. Chị Hồng
Hà cần t́m một dịch giả giúp chị dịch cuốn sách Essentials of
Mechanical Ventilation (Những Vấn Đề Thiết Yếu Trong Thông Khí
Cơ Học) của các tác giả tiến sĩ Y Khoa chuyên gia về hô hấp:
Dean R. Hess, và Robert M. Kacmarek, (Đại học Harvard, Hoa Kỳ)
để làm giáo tŕnh giảng dạy tại Đại học Y khoa. Đó là một cuốn
sách về thiết bị hô hấp (máy thở) và quy tŕnh thở máy. Sau khi
xem qua cuốn sách dày khoảng 450 trang, tôi nhận lời với điều
kiện chị Hà giúp tôi về các danh từ chuyên môn. Đương nhiên
không nói chị Hà cũng giành lấy phần đó. Và chị làm thật tốt,
khiến các bác sĩ trong ngành đọc cuốn sách dịch không thấy lấn
cấn ǵ. Trong lời giới thiệu cuốn sách dịch, PGS, Tiến sĩ Đặng
Vạn Phước, Phó Giám Đốc Bịnh Viện Chợ Rẫy, kiêm Khoa Trưởng Khoa
Y Đại học Y Dược Tp. HCM viết: “Chúng tôi rất hoan nghênh cố
gắng của Bác sĩ Lê Hồng Hà và GV Nguyễn Huỳnh Điệp, đă lựa chọn
và biên dịch rất công phu cuốn sách này.”
Thời đó, tôi nghĩ chuyện dịch thuật này là cái “cần câu cơm”
nhất thời, không liên quan ǵ đến văn nghệ văn gừng, nên kư tên
thật thay v́ bút hiệu TK. Vị Phó giáo sư tưởng tôi cũng là một
giảng viên Y Khoa như chị Hồng Hà!
Khoảng 20 năm sau, anh Vũ Minh
Tân tiết lộ trên Facebook: trước tôi, anh ấy đă nhờ vài dịch giả
chuyên nghiệp khác, nhưng ai cũng “ngại chuyện y khoa” nên không
ai nhận lời. Tôi giật ḿnh: hóa ra ḿnh điếc không sợ súng!
Ngoài các tác phẩm dịch theo
hợp đồng của các nhà xuất bản, trong số những thứ tôi dịch thuê
cho những người “thuê miệng” (không hợp đồng) có một cuốn sách y
khoa nữa mà một người “bạn mới quen” ở thành phố, thuộc “type”
trí thức, chỉ trả cho tôi một triệu rưỡi đồng (= 20% tiền công
thỏa thuận), nhưng cuốn sách th́…cha anh ta, một bác sĩ lăo
thành, “biên tập” và đứng tên ḿnh là dịch giả. Thôi kệ. Nhưng
từ đó tôi không gặp anh ta nữa, và quên tên anh ta luôn.
Triều Hoa Đại: dự tính cho những ngày kề cận ngoài cuốn
tự điển VIỆT ANH sắp sửa tŕnh làng anh c̣n có những tác phẩm
nào khác để giới thiệu cùng độc giả và bạn văn?
Thiếu Khanh: Thưa anh, vào những năm tuổi ngoài 70 trước
đây, trong bài thơ Tṛ Chuyện Từ Xa Với Thi Sĩ Luân Hoán, tôi có
viết:
Người xưa bảy chục là hiếm lắm
Nhiều vị quân vương chỉ hưởng dương
Chúng ḿnh đang sống phần khuyến măi
Dù chẳng là vua cũng chẳng buồn…
Tôi cùng tuổi Ngựa với anh, anh biết rồi đó. Chúng ta chỉ c̣n
cách mốc giới trăm năm có mười lăm năm nữa thôi. Sau khi xong
cuốn Từ Điển này, tôi dành th́ giờ c̣n lại để đọc cho hết số
sách bằng hữu đă có hảo ư tặng ḿnh, và chăm sóc nhà tôi, tuổi
cũng đă ngoài 80, thật tốt. Hẹn với nhau rằng cô ấy sẽ đi trước,
tôi đi sau, để tránh cho cô ấy khỏi đau khổ với cảm giác bị bỏ
lại bơ vơ. Dù các con rất yêu mẹ, nhưng vợ chồng mất nhau ở tuổi
đó người c̣n lại dù sống với các con cũng không khỏi cảm thấy lẻ
loi và lạc lơng, anh nhỉ.
Triều Hoa Đại: Thưa anh Thiếu Khanh rất vui được cùng anh
tṛ chuyện, cám ơn anh nhiều v́ đă dành cho tôi một khoảng thời
gian khá dài để hai ta cùng hàn huyên chuyện ngắn, chuyện dài.
Cám ơn anh Thiếu Khanh. Kính cầu chúc vạn sự cát tường.
Thiếu Khanh: Một lần nữa, tôi cũng cám ơn anh Triều Hoa
Đại và Nhóm Ngôn Ngữ cho chúng ḿnh có dịp tâm sự với nhau.
Kính chúc anh và gia đ́nh, mọi người thường tâm lạc thân an và
mọi điều thuận lợi.
Thiếu Khanh.
Triều Hoa Đại
thực hiện.
(Tạp chí Ngôn Ngữ số 44, ra ngày 01/07/2026)