Thân Trọng Sơn

 

 

WILLIAM BLAKE (1757–1827)

Nhà Thơ, Họa Sĩ và Nhà Thần Bí Anh

 

 

 


“ Mercy is the golden chain by which society is bound together. “
“ Sự khoan dung là sợi dây xích vàng gắn kết xă hội lại với nhau.”

 

Ông sinh ngày 28 tháng 11 năm 1757 tại London, trong một gia đ́nh trung lưu làm nghề bán vải. Ngay từ nhỏ, Blake đă bộc lộ năng khiếu nghệ thuật và có những trải nghiệm thần bí sâu sắc, điều này ảnh hưởng mạnh mẽ đến cả thơ ca lẫn hội họa của ông.

 

Sự Nghiệp Nghệ Thuật và Văn Chương

 

Blake theo học trường vẽ từ sớm và sau đó trở thành thợ khắc tranh chuyên nghiệp. Tuy nhiên, ông không chỉ là một nghệ sĩ mà c̣n là một nhà thơ có tầm nh́n. Blake tự in và minh họa nhiều tác phẩm của ḿnh bằng kỹ thuật khắc đồng axit (illuminated printing), tạo nên những quyển sách vừa là thơ, vừa là tác phẩm nghệ thuật.

 

Blake không nổi tiếng khi c̣n sống, nhưng ngày nay ông được coi là một nhà thơ lăng mạn tiên phong, với phong cách độc đáo và tư tưởng vượt thời đại. Ông thường xuyên viết về những chủ đề tôn giáo, triết học, thần bí và cách mạng, phản ánh sự phê phán mạnh mẽ đối với xă hội Anh đương thời, đặc biệt là chế độ chuyên quyền và bất công.

 

Thơ của Blake bao gồm thơ trữ t́nh và thơ triết học.

Các Tác Phẩm Tiêu Biểu

 

1. Songs of Innocence and of Experience (1789, 1794) – Bài ca ngây thơ và bài ca trải nghiệm
• Một tập thơ nổi tiếng với các bài thơ đối lập về sự thuần khiết của tuổi thơ và những mất mát khi trưởng thành.
• Gồm những bài thơ nổi tiếng như The Lamb, The Tyger, The Chimney Sweeper.

 

2. The Marriage of Heaven and Hell (1790–1793) – Cuộc hôn nhân của Thiên đường và Địa ngục
• Một tác phẩm triết học, phản biện quan điểm truyền thống về đạo đức, thiên đường và địa ngục.

 

3. Milton: A Poem (1804–1810)
• Một tác phẩm trường ca phức tạp, trong đó linh hồn của nhà thơ John Milton quay lại trái đất để hoàn thành sứ mệnh của ḿnh.

 

4. Jerusalem: The Emanation of the Giant Albion (1820)
• Một trong những tác phẩm thần bí phức tạp nhất của Blake, nói về sự cứu rỗi tinh thần của nước Anh.

Từ sau năm 1790, Blake xuất bản một loạt sách minh hoạ, gồm The Marriage of Heaven and Hell (Đám cưới của Thiên đường và Địa ngục); Proverbs of Hell (Cách ngôn của Địa ngục); The First Book of Urizen (Cuốn sách đầu của Urizen); America, a Prophecy (Nước Mỹ và tiên tri); The Book of Ahania (Sách Ahania); The Song of Los (Bài ca của Los); The Book of Los (Sách của Los); Europe (Châu Âu); Vala, a Dream of Nine Nights (Vala, giấc mộng của chín đêm) Jerusalem (Jerusalem); The Everlasting Gospel (Sách Phúc âm muôn thuở); Milton: a Poems (Milton: Thơ)…

Tư Tưởng và Tầm Ảnh Hưởng

 

Blake là một nhà tư tưởng cách mạng, phản đối sự áp bức của chính quyền và tôn giáo tổ chức. Ông tin rằng trí tưởng tượng là con đường dẫn đến sự thật và tự do, cao hơn cả lư trí và giáo điều. Tác phẩm của ông vừa thể hiện niềm tin Kitô giáo sâu sắc, vừa thách thức những giới hạn đạo đức truyền thống.

 

Dù không được công nhận rộng răi khi c̣n sống, Blake ngày nay được coi là một trong những biểu tượng vĩ đại nhất của thơ ca Anh, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nhà thơ lăng mạn như William Wordsworth, Samuel Taylor Coleridge, và sau này là các nghệ sĩ, nhạc sĩ hiện đại.

 

William Blake qua đời vào ngày 12 tháng 8 năm 1827, trong cảnh nghèo khó nhưng vẫn giữ vững niềm tin vào nghệ thuật và tầm nh́n của ḿnh. Sau khi mất, ông mới được thế giới đánh giá đúng với tài năng của ḿnh, trở thành một trong những nhà thơ-họa sĩ có ảnh hưởng nhất lịch sử. Năm 1957 Hội đồng Ḥa b́nh Thế giới kỷ niệm 200 năm ngày sinh của ông. Năm 2002 đài BBC bầu chọn 100 người Anh vĩ đại nhất mọi thời đại, William Blake được bầu ở vị trí 38.

 

Phong cách thơ của William Blake rất đặc trưng, độc đáo và mang màu sắc vừa huyền ảo vừa sâu sắc về triết học, tôn giáo, và tâm linh. Dưới đây là những điểm nổi bật trong phong cách của ông:

1. Song đôi giữa ngây thơ và kinh nghiệm (Innocence and Experience):

Blake nổi tiếng với hai tập thơ đối lập nhau: Songs of Innocence và Songs of Experience.
• Songs of Innocence thể hiện cái nh́n ngây thơ, trong sáng của trẻ thơ và thiên nhiên.
• Songs of Experience phản ánh cái nh́n trưởng thành, đầy u uất, phê phán xă hội và tôn giáo.
Ví dụ:
• Bài The Lamb (Con chiên) nhẹ nhàng, thánh thiện.
• Bài The Tyger (Con hổ) đối lập – gầm gừ, dữ dội và bí ẩn.

2. Biểu tượng mạnh mẽ (Symbolism):

Blake sử dụng biểu tượng sâu sắc để chuyển tải tư tưởng. Một số biểu tượng tiêu biểu:
• Con hổ: sức mạnh, điều huyền bí, sự sáng tạo thần thánh nhưng cũng đầy nguy hiểm.
• Con chiên: sự ngây thơ, ḷng tin tôn giáo, Chúa Kitô.
• Ánh sáng và bóng tối: biểu tượng của ngây thơ và kinh nghiệm, của chân lư và dối trá.

 

3. Tâm linh và thần thoại riêng:

Blake sáng tạo ra cả một hệ thống thần thoại riêng với các nhân vật như Urizen, Los, Enitharmon… tượng trưng cho lư trí, sáng tạo, và năng lượng giới tính. Ông không tin vào tôn giáo truyền thống mà hướng tới một trải nghiệm thần bí mang tính cá nhân.

4. Ngôn ngữ giản dị nhưng sâu sắc:

Ông thường dùng từ ngữ đơn giản, dễ hiểu, câu thơ ngắn gọn, nhạc tính cao – nhưng ẩn sau đó là những tầng ư nghĩa phức tạp về đạo đức, tôn giáo và xă hội.

5. Phê phán xă hội và chính trị:

Blake lên án bất công xă hội, sự bóc lột trẻ em (The Chimney Sweeper), nhà thờ đạo đức giả, và chiến tranh phi nghĩa (London). Ông đứng về phía con người bị áp bức và khát khao tự do.

6. Kết hợp thơ và hội họa:

Blake là một họa sĩ. Ông tự khắc minh họa cho thơ ḿnh bằng những bản in đầy màu sắc. V́ thế thơ ông thường đi liền với h́nh ảnh – làm tăng chiều sâu cảm xúc và tượng trưng.

 



Dưới đây là bài thơ nổi tiếng “The Tyger” của William Blake – một trong những tác phẩm tiêu biểu thể hiện rơ phong cách biểu tượng, tâm linh, và đối lập giữa ngây thơ và kinh nghiệm trong thơ ông.

THE TYGER
(from Songs of Experience, 1794)

Tyger Tyger, burning bright,
In the forests of the night;
What immortal hand or eye,
Could frame thy fearful symmetry?

In what distant deeps or skies
Burnt the fire of thine eyes?
On what wings dare he aspire?
What the hand dare seize the fire?

And what shoulder, & what art,
Could twist the sinews of thy heart?
And when thy heart began to beat,
What dread hand? & what dread feet?

What the hammer? what the chain,
In what furnace was thy brain?
What the anvil? what dread grasp,
Dare its deadly terrors clasp?

When the stars threw down their spears
And watered heaven with their tears:
Did he smile his work to see?
Did he who made the Lamb make thee?

Tyger Tyger burning bright,
In the forests of the night:
What immortal hand or eye,
Dare frame thy fearful symmetry?
 

 

CON HỔ

Hổ ơi, rực cháy bừng bừng,
Giữa rừng sâu tối mịt mùng;
Bàn tay, ánh mắt bất tử nào,
Dám tạo h́nh ngươi – tuyệt đẹp mà khiếp sợ?

Trong vực thẳm hay trời xa,
Cháy bừng đôi mắt ngươi là lửa?
Đôi cánh nào dám bay lên?
Tay nào dám chụp lấy ngọn lửa?

Vai nào, nghệ thuật nào khéo léo,
Uốn được tim ngươi bằng gân sắt?
Khi tim ngươi bắt đầu đập,
Tay ai rùng rợn? Bước ai khủng khiếp?

Cái búa nào? Sợi xích nào?
Ḷ lửa nào đúc óc ngươi dữ vậy?
Đe nào? Bàn tay nào nắm chắc
Dám ôm lấy nỗi kinh hoàng ngươi có?

Khi sao sa tuốt giáo dài,
Và khóc lặng trời xanh bằng nước mắt,
Thợ tạo h́nh có mỉm cười?
Kẻ tạo con chiên, có tạo ngươi?

Hổ ơi, rực cháy bừng bừng,
Giữa rừng sâu tối mịt mùng;
Bàn tay, ánh mắt bất tử nào,
Dám tạo h́nh ngươi – tuyệt đẹp mà khiếp sợ?


• Biểu tượng con hổ đại diện cho sức mạnh nguyên thủy, sự dữ dội và bí ẩn của tạo hóa, trái ngược với h́nh ảnh con chiên hiền lành trong bài thơ The Lamb (thuộc Songs of Innocence).
• Câu hỏi lặp đi lặp lại “Did he who made the Lamb make thee?” thể hiện tư tưởng nghịch lư: làm sao Thượng đế vừa tạo ra sự hiền ḥa lại có thể tạo ra sự đáng sợ?
• Thơ sử dụng h́nh ảnh lửa, búa, đe, ḷ luyện, gợi liên tưởng đến việc rèn sắt – như thể con hổ được “rèn” nên bằng bàn tay một nghệ nhân thần thánh, không phải chỉ đơn giản sinh ra.
• Nhịp thơ đều đặn, gấp gáp, kết hợp từ ngữ mạnh giúp tăng nhịp tim và cảm giác căng thẳng khi đọc.


A POISON TREE

I was angry with my friend:
I told my wrath, my wrath did end.
I was angry with my foe:
I told it not, my wrath did grow.

And I watered it in fears,
Night and morning with my tears;
And I sunned it with smiles,
And with soft deceitful wiles.

And it grew both day and night,
Till it bore an apple bright.
And my foe beheld it shine.
And he knew that it was mine,

And into my garden stole
When the night had veiled the pole;
In the morning glad I see
My foe outstretched beneath the tree.
 


CÂY ĐỘC

Ta giận bạn, nói đôi lời,
Giận kia tan biến, ḷng thời thảnh thơi.
Nhưng khi giận kẻ thù ta,
Chẳng hề thổ lộ, oán xa hóa gần.

Ta vun tưới nó mỗi ngày,
Nước là nước mắt đắng cay âm thầm.
Nắng là nụ cười lặng câm,
Là lời giả dối dịu êm bọc đường.

Ngày qua đêm lại lớn dần,
Hóa thành trái táo đẹp lừng vườn ta.
Kẻ thù thấy nó sáng ra,
Biết ngay nó thuộc về ta tức th́.

Nửa đêm lén lút lẻn vào,
Bóng đêm phủ kín ánh sao trên trời.
Sáng ra ta ngắm vui cười,
Kẻ thù gục chết dưới nơi gốc cành.
 


LOVE’S SECRET

Never seek to tell thy love,
Love that never told can be;
For the gentle wind does move
Silently, invisibly.

I told my love, I told my love,
I told her all my heart;
Trembling, cold, in ghastly fears,
Ah! she did depart!

Soon as she was gone from me,
A traveler came by,
Silently, invisibly
He took her with a sigh.


BÍ MẬT T̀NH YÊU

Chớ t́m lời nói yêu ai,
T́nh yêu lặng lẽ miệt mài lớn lên.
Như cơn gió thoảng êm đềm,
Âm thầm lướt nhẹ, chẳng nh́n thấy đâu.

Ta đă nói hết ḷng sầu,
Trao nàng trọn cả tim đau ngập tràn.
Run run nàng bước vội vàng,
Lạnh lùng xa khuất, ngỡ ngàng biệt ly!

Nàng đi, ta đứng sầu bi,
Chợt đâu lữ khách bước đi ngang đời.
Lặng thinh, chẳng nói một lời,
Nhẹ nhàng thở khẽ—mà rồi mang theo…


THE ANGEL

I dreamt a dream! What can it mean?
And that I was a maiden Queen
Guarded by an Angel mild:
Witless woe was ne'er beguiled!

And I wept both night and day,
And he wiped my tears away;
And I wept both day and night,
And hid from him my heart's delight.

So he took his wings, and fled;
Then the morn blushed rosy red.
I dried my tears, and armed my fears
With ten-thousand shields and spears.

Soon my Angel came again;
I was armed, he came in vain;
For the time of youth was fled,
And grey hairs were on my head.


THIÊN THẦN

Giấc mơ ta thấy mọi lần,
Hẳn rồi đó chỉ nữ hoàng đó thôi
Thiên thần bảo vệ nàng rồi
Nỗi đau vô nghĩa không lời dối gian

Ta khóc suốt tháng ngày qua,
Người lau nước mắt, vỡ ̣a thương đau.
Ta khóc đêm xuống, ngày thâu,
Nhưng che giấu ánh nhiệm màu con tim.

Người bay đi, cánh lặng im,
B́nh minh ửng đỏ, trời ch́m sắc son.
Lệ khô, sợ hăi chẳng c̣n,
Ta mang vạn mũi giáo gươm dựng tường.

Người về, ta thấy vấn vương,
Nhưng bao giáp sắt chắn đường yêu xưa.
Tuổi xuân trôi mất trong mơ,
Giờ đây tóc bạc lững lờ phủ ta…


A CRADLE SONG

Sweet dreams form a shade,
O'er my lovely infants head.
Sweet dreams of pleasant streams,
By happy silent moony beams

Sweet sleep with soft down.
Weave thy brows an infant crown.
Sweet sleep Angel mild,
Hover o'er my happy child.

Sweet smiles in the night,
Hover over my delight.
Sweet smiles Mothers smiles,
All the livelong night beguiles.

Sweet moans, dovelike sighs,
Chase not slumber from thy eyes,
Sweet moans, sweeter smiles,
All the dovelike moans beguiles.

Sleep sleep happy child,
All creation slept and smil'd.
Sleep sleep, happy sleep.
While o'er thee thy mother weep

Sweet babe in thy face,
Holy image I can trace.
Sweet babe once like thee.
Thy maker lay and wept for me

Wept for me for thee for all,
When he was an infant small.
Thou his image ever see.
Heavenly face that smiles on thee,

Smiles on thee on me on all,
Who became an infant small,
Infant smiles are His own smiles,
Heaven & earth to peace beguiles.


BÀI HÁT RU

Mơ ngọt ngào, bóng dịu êm,
Chở che con trẻ giữa đêm dịu dàng.
Mơ ḍng suối mát mênh mang,
Ánh trăng yên ả dịu dàng trôi xuôi.

Giấc ngù mềm tựa lông tơ
Vương miện trẻ nhỏ trông như lông mày
Thiên thần giấc ngủ dịu thay
Bay lượn trên đứa con này của ta.

Nụ cười ngọt giữa màn đêm,
Nhẹ trôi như giấc mộng êm dịu dàng.
Nụ cười mẹ dịu, nồng nàn,
Xua tan bóng tối, ru tràn yêu thương.

Tiếng rên khe khẽ, thở buông,
Xin đừng xua giấc mơ hương khỏi người.
Tiếng than như tiếng chim cười,
Cũng ḥa trong những nụ cười dịu êm.

Ngủ đi, con nhé, b́nh yên,
Vạn loài từng ngủ, cười hiền như con.
Ngủ đi, say giấc măi c̣n,
Dưới làn nước mắt mẹ tuôn ấm nồng.

Nh́n con, ta thấy thiên thần,
Dấu thiêng thánh thiện ẩn dần trong con.
Ngày xưa bé nhỏ chẳng hơn,
Người sinh thế giới cũng từng như con.

V́ con, v́ mẹ, v́ đời,
Người từng nhỏ bé, khóc rơi lệ tràn.
H́nh Người c̣n măi thế gian,
Nụ cười chúc phúc ngập tràn bên con.

Cười cùng con, mẹ, trần gian,
Người từng bé nhỏ như con, dịu dàng.
Nụ cười trẻ chính cười Người,
Trời cao, đất rộng ngập lời b́nh an.


A LITTLE GIRL LOST

Children of the future age,
Reading this indignant page,
Know that in a former time
Love, sweet love, was thought a crime.

In the age of gold,
Free from winter's cold,
Youth and maiden bright,
To the holy light,
Naked in the sunny beams delight.

Once a youthful pair,
Filled with softest care,
Met in garden bright
Where the holy light
Had just removed the curtains of the night.

Then, in rising day,
On the grass they play;
Parents were afar,
Strangers came not near,
And the maiden soon forgot her fear.

Tired with kisses sweet,
They agree to meet
When the silent sleep
Waves o'er heaven's deep,
And the weary tired wanderers weep.

To her father white
Came the maiden bright;
But his loving look,
Like the holy book
All her tender limbs with terror shook.

'Ona, pale and weak,
To thy father speak!
Oh the trembling fear!
Oh the dismal care
That shakes the blossoms of my hoary hair!'


CÔ BÉ LẠC LƠNG

Hỡi ai thế hệ mai sau,
Đọc trang giận dữ thẳm sâu ḷng người.
Hăy hay rằng thuở xa xôi,
T́nh yêu ngọt lịm cũng thời tội danh.

Khi vàng rực ánh trời xanh,
Mùa đông chẳng đến, trời lành gió êm.
Trai thanh, gái sắc dịu hiền,
Dưới tia nắng thánh triền miên vui đùa.

Một đôi trẻ tựa như thơ,
Bước chân khe khẽ vào vườn sáng trong.
B́nh minh vừa hé rèm hồng,
Ánh thiêng rực rỡ mênh mông cơi trần.

Ngày lên cỏ biếc trải dần,
Tung tăng nô giỡn giữa sân huy hoàng.
Mẹ cha xa cách chẳng màng,
Người dưng chẳng đến, ai càng bận tâm?

Nụ hôn ngọt lịm môi tằm,
Họ hẹn gặp lúc đêm trầm phủ giăng.
Trời cao say giấc mộng vàng,
Kẻ lang thang mỏi, lệ tràn nhớ thương.

Về bên cha, ánh mắt buồn,
Nhưng cha đâu biết yêu thương chốn nào.
Nh́n con, lời sách thiêng trao,
Làm thân bé nhỏ run cào xót xa.

“Ona, con hỡi nhạt nḥa,
Nói cùng cha đi, lệ nḥa sao con?
Ôi niềm sợ hăi héo hon,
Làm hoa tuổi ngọc héo ṃn tóc cha!”


LONDON

I wandered through each chartered street,
Near where the chartered Thames does flow,
A mark in every face I meet,
Marks of weakness, marks of woe.

In every cry of every man,
In every infant's cry of fear,
In every voice, in every ban,
The mind-forged manacles I hear:

How the chimney-sweeper's cry
Every blackening church appals,
And the hapless soldier's sigh
Runs in blood down palace-walls.

But most, through midnight streets I hear
How the youthful harlot's curse
Blasts the new-born infant's tear,
And blights with plagues the marriage-hearse.


LONDON

Ta lang thang giữa phố quen,
Bên ḍng Thames chảy từng miền xác xơ.
Gặp ai, ánh mắt thẫn thờ,
Chỉ toàn dấu vết sầu lo, hao gầy.

Trong từng tiếng khóc lắt lay,
Trẻ thơ thổn thức, ai hay nỗi ḷng.
Trong từng giọng nói, lệnh cấm,
Xiềng xích vô h́nh khóa chặt tâm can.

Tiếng than quét khói lầm than,
Nhà thờ ám khói, nặng mang kinh hoàng.
Binh nh́ bất hạnh thở than,
Lệ rơi máu nhuộm cung vàng xa hoa.

Đêm khuya phố lạnh tiêu điều,
Nghe lời cay nghiệt từ nơi kiếp hồng.
Tiếng nguyền xé khóc hài nhi,
Hôn nhân lây bệnh, phủ điêu tang sầu.
 



A DREAM

Once a dream did weave a shade
O'er my angel-guarded bed,
That an emmet lost its way
Where on grass methought I lay.

Troubled, wildered, and forlorn,
Dark, benighted, travel-worn,
Over many a tangle spray,
All heart-broke, I heard her say:

'Oh my children! do they cry,
Do they hear their father sigh?
Now they look abroad to see,
Now return and weep for me.'

Pitying, I dropped a tear:
But I saw a glow-worm near,
Who replied, 'What wailing wight
Calls the watchman of the night?

'I am set to light the ground,
While the beetle goes his round:
Follow now the beetle's hum;
Little wanderer, hie thee home! '


GIẤC MƠ

Một đêm giấc mộng nhẹ vương,
Che giường ta ngủ thiên đường bao quanh.
Ta mơ thấy giữa cỏ xanh,
Một con kiến nhỏ lạc nhanh lối về.

Bơ vơ, mệt mỏi lê thê,
Tối tăm, lạc bước tái tê tháng ngày.
Giữa bao cành rối giăng đầy,
Nghe ḷng tan nát, buồn thay lời nàng:

“Con ta giờ có khóc than?
Có nghe tiếng thở vơ vàng cha không?
Chúng đi t́m mẹ ngoài đồng,
Trở về than khóc, mắt ḍng lệ rơi.”

Thương nàng, ta nhỏ giọt đời,
Bỗng đâu một ánh sáng ngời kế bên.
Đom đóm sáng giữa màn đêm,
Nhẹ nhàng cất tiếng êm đềm hỏi ta:

“Ai than khóc giữa đêm nḥa,
Gọi người canh gác trời xa tối này?”
Ta đây soi lối đường dài,
Dẫn lối bọ cánh cứng bay tuần hành.

Hăy theo tiếng vỗ cánh nhanh,
Kẻ lạc đường nhỏ, t́m nhanh lối về!”


ETERNITY

He who binds to himself a joy
Does the winged life destroy;
But he who kisses the joy as it flies
Lives in eternity's sun rise.


VĨNH HẰNG

Ai ôm niềm vui chẳng rời,
Chính tay hủy cánh cuộc đời tự do.
Ai hôn vui lúc bay xa,
Sống trong ánh sáng chan ḥa vĩnh sinh.
 



THE GARDEN OF LOVE

I went to the Garden of Love,
And saw what I never had seen;
A Chapel was built in the midst,
Where I used to play on the green.

And the gates of this Chapel were shut
And 'Thou shalt not,' writ over the door;
So I turned to the Garden of Love
That so many sweet flowers bore.

And I saw it was filled with graves,
And tombstones where flowers should be;
And priests in black gowns were walking their rounds,
And binding with briars my joys and desires.


KHU VƯỜN T̀NH YÊU

Ta t́m đến chốn vườn yêu,
Ngờ đâu cảnh cũ đổi chiều khác xưa.
Giữa vườn, một nguyện đường thừa,
Nơi từng nô giỡn giữa trưa xanh rờn.

Cửa nhà nguyện đóng im ĺm,
Ḍng “Không được phép” khắc in trên tường.
Ta quay lại vườn yêu thương,
Nơi muôn hoa nở sắc hương ngọt ngào.

Nhưng nay chỉ thấy nấm mồ,
Đá bia thay chỗ hoa xưa rợp đồng.
Áo đen, giáo sĩ lạnh lùng,
Gai xương trói chặt mộng ḷng, vui ta.


A SONG

Sweet dreams, form a shade
O'er my lovely infant's head!
Sweet dreams of pleasant streams
By happy, silent, moony beams!

Sweet Sleep, with soft down
Weave thy brows an infant crown
Sweet Sleep, angel mild,
Hover o'er my happy child!

Sweet smiles, in the night
Hover over my delight!
Sweet smiles, mother's smile,
All the livelong night beguile.

Sweet moans, dovelike sighs,
Chase not slumber from thine eyes!
Sweet moan, sweeter smile,
All the dovelike moans beguile.

Sleep, sleep, happy child!
All creation slept and smiled.
Sleep, sleep, happy sleep,
While o'er thee doth mother weep.

Sweet babe, in thy face
Holy image I can trace;
Sweet babe, once like thee
Thy Maker lay, and wept for me:

Wept for me, for thee, for all,
When He was an infant small.
Thou His image ever see,
Heavenly face that smiles on thee!

Smiles on thee, on me, on all,
Who became an infant small;
Infant smiles are his own smiles;
Heaven and earth to peace beguiles.


BÀI HÁT

Mộng lành nhẹ phủ đêm sâu,
Ru con say giấc nhiệm màu an yên.
Mơ ḍng suối mát dịu hiền,
Ánh trăng lặng lẽ bên triền nước trôi.

Giấc ngủ êm tựa lụa ngời,
Đan vương miện nhỏ trên nơi trán hồng.
Thiên thần giấc ngủ dịu trong,
Nhẹ bay che chở cho ḷng trẻ thơ.

Nụ cười ngọt giữa giấc mơ,
Nhẹ nhàng lơ lửng, bao bờ mi ngoan.
Nụ cười của mẹ dịu dàng,
Xua đêm tĩnh mịch, ngập tràn yêu thương.

Tiếng than khe khẽ mơ màng,
Xin đừng xua giấc êm dàng khỏi con.
Tiếng rên như cánh chim non,
Ḥa trong nụ cười vẫn c̣n vương đây.

Ngủ đi con, giấc tṛn đầy,
Vạn loài từng ngủ, từng say mộng lành.
Ngủ đi, con măi an lành,
Trong khi mẹ khóc ngọt lành bên con.

Nh́n con, ta thấy linh hồn,
Dấu thiêng thánh thiện sớm c̣n in sâu.
Con ơi, Chúa cũng thuở nào,
Từng là trẻ nhỏ, lệ trào khóc than.

Khóc v́ mẹ, khóc v́ con,
Khóc cho nhân thế mỏi ṃn khổ đau.
H́nh Người măi măi tươi màu,
Trên khuôn mặt bé nhiệm mầu thánh ân.

Người cười với mẹ, với con,
Với bao nhân thế mỏi ṃn trần gian.
Nụ cười trẻ chính cười Ngài,
Trời cao, đất rộng ngập tràn b́nh yên.
 



THE SICK ROSE

O Rose, thou art sick!
The invisible worm
That flies in the night,
In the howling storm,

Has found out thy bed
Of crimson joy:
And his dark secret love
Does thy life destroy.
 


BÔNG HỒNG BỆNH

Ôi hồng thắm, em đang đau đớn!
Con sâu vô h́nh,
Bay trong đêm tối,
Giữa cơn giông gào thét dữ dằn,

Nó đă t́m ra giường em
Ngập tràn hoan lạc đỏ thắm—
Với t́nh yêu thầm kín đen ng̣m,
Nó âm thầm hủy diệt đời em.
 



THE LAMB

Little Lamb, who made thee?
Dost thou know who made thee?
Gave thee life, and bid thee feed,
By the stream and o'er the mead;
Gave thee clothing of delight,
Softest clothing, woolly, bright;
Gave thee such a tender voice,
Making all the vales rejoice?
Little Lamb, who made thee?
Dost thou know who made thee?

Little Lamb, I'll tell thee,
Little Lamb, I'll tell thee.
He is called by thy name,
For He calls Himself a Lamb.
He is meek, and He is mild;
He became a little child.
I a child, and thou a lamb,
We are called by His name.
Little Lamb, God bless thee!
Little Lamb, God bless thee!

 


CHÚ CỪU NON

Cừu nhỏ ơi, ai tạo nên em?
Em có biết ai tạo nên em—
Cho em sống, cho em đồng xanh,
Dắt em đến suối mát ngọt lành;
Cho em tấm áo mềm tơ,
Len em trắng sáng như mơ dịu dàng;
Ban cho em giọng th́ thầm,
Làm vang dậy cả suối rừng hân hoan?
Cừu nhỏ ơi, ai tạo nên em?
Em có biết ai tạo nên em?

Cừu nhỏ ơi, anh nói em nghe,
Cừu nhỏ ơi, anh nói em nghe:
Ngài mang chính tên em,
V́ Ngài gọi chính ḿnh là Chiên.
Ngài hiền dịu, Ngài nhu ḿ,
Ngài từng là một bé nhi.
Anh là trẻ, em là chiên,
Cùng mang tên của Thánh Thiêng.
Cừu nhỏ ơi, Chúa chúc lành em!
Cừu nhỏ ơi, Chúa chúc lành em!
 



LOVE AND HARMONY

Love and harmony combine,
And round our souls entwine
While thy branches mix with mine,
And our roots together join.

Joys upon our branches sit,
Chirping loud and singing sweet;
Like gentle streams beneath our feet
Innocence and virtue meet.

Thou the golden fruit dost bear,
I am clad in flowers fair;
Thy sweet boughs perfume the air,
And the turtle buildeth there.

There she sits and feeds her young,
Sweet I hear her mournful song;
And thy lovely leaves among,
There is love, I hear his tongue.

There his charming nest doth lay,
There he sleeps the night away;
There he sports along the day,
And doth among our branches play.


T̀NH YÊU VÀ H̉A HỢP

T́nh yêu và ḥa hợp kết nối,
Ṿng tay ôm trọn linh hồn ta.
Khi nhánh cây em ḥa với nhánh tôi,
Rễ cây chúng ta cùng gắn bó.

Niềm vui đậu trên nhánh cây,
Hót vang và ngân nga ngọt ngào;
Như suối hiền dưới chân ta,
Trong sáng và đức hạnh gặp gỡ.

Em mang trái ngọt vàng tươi,
Tôi khoác hoa đẹp rực rỡ;
Nhánh cây em thơm ngát bầu trời,
Và chim cu xây tổ trên đó.

Chim ngồi, nuôi con nhỏ,
Nghe tiếng hát buồn mà ngọt ngào;
Và giữa những lá yêu thương,
Có t́nh yêu, tôi nghe được lời ngọt ngào.

Chỗ ấy tổ chim nằm yên,
Chim ngủ qua đêm say đắm;
Chỗ ấy chim vui đùa suốt ngày,
Và chơi đùa giữa những nhánh cây chúng ta.
 



THE BLOSSOM

Merry, merry sparrow!
Under leaves so green
A happy blossom
Sees you, swift as arrow,
Seek your cradle narrow,
Near my bosom.
Pretty, pretty robin!
Under leaves so green
A happy blossom
Hears you sobbing, sobbing,
Pretty, pretty robin,
Near my bosom.


TRỔ HOA

Chim sẻ vui vẻ, vui vẻ!
Dưới những chiếc lá xanh tươi
Một bông hoa hạnh phúc
Nh́n thấy em, nhanh như mũi tên,
T́m chiếc nôi nhỏ hẹp của em,
Gần ngực anh.

Chim họa mi xinh đẹp, xinh đẹp!
Dưới những chiếc lá xanh tươi
Một bông hoa hạnh phúc
Nghe em nức nở, nức nở,
Chim họa mi xinh đẹp, xinh đẹp,
Gần ngực anh.
 



NEVER SEEK TO TELL THY LOVE

Never seek to tell thy love
Love that never told can be;
For the gentle wind does move
Silently, invisibly.

I told my love, I told my love,
I told her all my heart,
Trembling, cold, in ghastly fears--
Ah, she doth depart.

Soon as she was gone from me
A traveller came by
Silently, invisibly--
O, was no deny.


ĐỪNG BAO GIỜ CỐ GẮNG NÓI LỜI YÊU

Đừng bao giờ cố gắng nói lời yêu
Yêu thương chưa nói ra là điều đẹp nhất,
V́ gió nhẹ nhàng thổi qua
Lặng lẽ, vô h́nh, chẳng ai thấy.

Tôi đă nói với nàng, tôi đă nói ḷng ḿnh,
Tôi đă nói hết những ǵ trong trái tim,
Run rẩy, lạnh lẽo, trong nỗi sợ hăi ghê gớm –
Ôi, nàng đă ra đi.

Ngay khi nàng rời xa tôi,
Một lữ khách đến bên tôi,
Lặng lẽ, vô h́nh –
Ôi, làm sao có thể từ chối.
 


THE HUMAN ABSTRACT

Pity would be no more
If we did not make somebody Poor;
And Mercy no more could be
If all were as happy as we.

And mutual fear brings peace,
Till the selfish loves increase:
Then Cruelty knits a snare,
And spreads his baits with care.

He sits down with holy fears,
And waters the grounds with tears;
Then Humility takes its root
Underneath his foot.

Soon spreads the dismal shade
Of Mystery over his head;
And the Catterpiller and Fly
Feed on the Mystery.

And it bears the fruit of Deceit,
Ruddy and sweet to eat;
And the Raven his nest has made
In its thickest shade.

The Gods of the earth and sea
Sought thro' Nature to find this Tree;
But their search was all in vain:
There grows one in the Human Brain.


CÂY TRỪU TƯỢNG CỦA CON NGƯỜI

Nếu không làm ai nghèo,
Ḷng thương xót sẽ chẳng c̣n;
Và ḷng từ bi cũng vậy,
Nếu ai cũng hạnh phúc như ta.

Nỗi sợ chung mang lại ḥa b́nh,
Cho đến khi t́nh yêu ích kỷ lớn dần;
Rồi Tội ác giăng bẫy,
Và chăm chút mồi câu.

Hắn ngồi xuống với nỗi sợ thánh thiện,
Và tưới đất bằng những giọt lệ;
Rồi khiêm tốn bén rễ
Dưới chân hắn.

Nhưng chẳng lâu, bóng tối u ám
Của Bí Ẩn phủ lên đầu hắn;
Và sâu bướm, con ruồi
Sẽ ăn trên bí ẩn đó.

Và nó sinh ra quả dối trá,
Đỏ rực và ngọt ngào để ăn;
Và con quạ xây tổ
Trong bóng tối dày đặc ấy.

Các vị thần của đất và biển
T́m kiếm trong tự nhiên để t́m ra Cây này;
Nhưng t́m kiếm của họ đều vô ích:
Nó mọc lên trong bộ năo con người.
 



LAUGHING SONG

When the green woods laugh with the voice of joy,
And the dimpling stream runs laughing by;
When the air does laugh with our merry wit,
And the green hill laughs with the noise of it;

when the meadows laugh with lively green,
And the grasshopper laughs in the merry scene,
When Mary and Susan and Emily
With their sweet round mouths sing 'Ha, ha he!'

When the painted birds laugh in the shade,
Where our table with cherries and nuts is spread:
Come live, and be merry, and join with me,
To sing the sweet chorus of 'Ha, ha, he!'


BÀI HÁT CƯỜI

Khi rừng xanh cười vang với tiếng vui,
Và ḍng suối uốn lượn cười qua;
Khi không khí cũng cười với sự vui vẻ dí dỏm của chúng ta,
Và đồi xanh cười vang rộn ră;

Khi đồng cỏ cười tươi màu xanh,
Và châu chấu cười trong khung cảnh vui,
Khi Mary, Susan và Emily
Với miệng tṛn xinh hát “Ha, ha he!”

Khi những chú chim vẽ cười trong bóng mát,
Nơi bàn ăn đầy quả anh đào và hạt dẻ:
Hăy đến sống vui, hăy sống tươi,
Cùng tôi hát vang điệu “Ha, ha, he!”
 



YOU DON’T BELIEVE

You don't believe - I won't attempt to make ye:
You are asleep - I won't attempt to wake ye.
Sleep on! sleep on! while in your pleasant dreams
Of Reason you may drink of Life's clear streams.
Reason and Newton, they are quite two things;
For so the swallow and the sparrow sings.

Reason says `Miracle': Newton says `Doubt.'
Aye! that's the way to make all Nature out.
`Doubt, doubt, and don't believe without experiment':
That is the very thing that Jesus meant,
When He said `Only believe! believe and try!
Try, try, and never mind the reason why! '


BẠN KHÔNG TIN

Bạn không tin – tôi sẽ không cố gắng thuyết phục bạn;
Bạn đang ngủ – tôi sẽ không cố đánh thức bạn.
Hăy ngủ đi! Ngủ đi! Trong những giấc mơ tươi đẹp,
Của Lư trí, bạn sẽ uống ḍng suối trong lành của Cuộc sống.
Lư trí và Newton, chúng là hai điều khác biệt;
Cũng giống như chim én và chim sẻ vậy.

Lư trí nói Phép màu': Newton nói Hoài nghi’.
Phải! Đó là cách để hiểu được toàn bộ tự nhiên.
Hoài nghi, hoài nghi, và đừng tin mà không thử nghiệm': Đó chính là điều mà Chúa Jesus đă muốn nói, Khi Ngài bảo Chỉ cần tin thôi! Tin và thử!
Thử đi, thử đi, đừng bận tâm lư do tại sao!’
 



DAY

The Sun arises in the East,
Cloth'd in robes of blood and gold;
Swords and spears and wrath increast
All around his bosom roll'd
Crown'd with warlike fires and raging desires.


NGÀY

Mặt trời mọc từ phương Đông,
Khoác áo huyết và vàng rực rỡ;
Kiếm và thương, thịnh nộ dâng trào,
Xung quanh ngực nó cuộn xoáy,
Vương miện là lửa chiến và khát khao bùng nổ.
 


THE SCHOOLBOY

I love to rise in a summer morn
When the birds sing on every tree;
The distant huntsman winds his horn,
And the skylark sings with me.
O! what sweet company!

But to go to school on a summer morn,
O! it drives all joy away;
Under a cruel eye outworn,
The little ones spend the day
In sighing and dismay.

Ah! then at times I drooping sit,
And spend many an anxious hour,
Nor in my book can I take delight,
Nor sit in learning's bower,
Worn thro' with the dreary shower.

How can the bird that is born for joy
Sit in a cage and sing?
How can a child, when fears annoy,
But droop his tender wing,
And forget his youthful spring?

O! father and mother, if buds are nipped
And blossoms blown away,
And if the tender plants are stripped
Of their joy in the springing day,
By sorrow and care's dismay,

How shall the summer arise in joy,
Or the summer's fruits appear?
Or how shall we gather what griefs destroy,
Or bless the mellowing year,
When the blasts of winter appear?


CẬU HỌC SINH

Tôi thích thức dậy vào sáng hè,
Khi chim hót trên mỗi cành cây;
Thợ săn xa xôi thổi kèn vang,
Và chim trời cùng hát với tôi.
Ôi! Thật là bạn đồng hành ngọt ngào!

Nhưng đi học vào một sáng hè,
Ôi! Nó xua tan mọi niềm vui;
Dưới ánh mắt nghiêm khắc đă ṃn,
Những đứa trẻ trải qua cả ngày
Trong tiếng thở dài và nỗi buồn.

Ah! Lúc đó tôi ngồi mệt mỏi,
Trôi qua bao giờ phút lo âu,
Không thể t́m thấy niềm vui trong sách,
Cũng không ngồi trong giảng đường học,
Mệt mỏi qua cơn mưa u ám.

Làm sao con chim sinh ra để vui
Lại ngồi trong lồng mà hát?
Làm sao đứa trẻ, khi sợ hăi quấy rầy,
Có thể không cúi đầu xuống,
Và quên đi mùa xuân tươi đẹp của ḿnh?

Ôi! Cha mẹ ơi, nếu nụ hoa bị ngắt,
Và những bông hoa bị thổi bay,
Nếu những cây non bị tước đi niềm vui
Của ngày xuân đang đến,
Bởi nỗi buồn và sự lo âu,

Làm sao mùa hè có thể đến với niềm vui,
Hay trái mùa hè sẽ xuất hiện?
Làm sao chúng ta có thể thu hoạch những ǵ nỗi buồn tàn phá,
Hay chúc phúc cho năm tháng ngọt ngào,
Khi những cơn gió đông lạnh lẽo thổi đến?
 



I HEARD AN ANGEL SINGING

I heard an Angel singing
When the day was springing,
'Mercy, Pity, Peace
Is the world's release.'

Thus he sung all day
Over the new mown hay,
Till the sun went down
And haycocks looked brown.

I heard a Devil curse
Over the heath and the furze,
'Mercy could be no more,
If there was nobody poor,

And pity no more could be,
If all were as happy as we.'
At his curse the sun went down,
And the heavens gave a frown.

Down pour'd the heavy rain
Over the new reap'd grain ...
And Miseries' increase
Is Mercy, Pity, Peace.


TÔI NGHE MỘT THIÊN THẦN HÁT

Tôi nghe một Thiên Thần hát
Khi ngày mới vừa rạng,
“Ḷng từ bi, ḷng thương xót,
Là sự giải thoát của thế gian.”

Vậy là Ngài hát suốt cả ngày,
Trên cánh đồng cỏ mới cắt,
Cho đến khi mặt trời lặn
Và đống rơm nhuốm màu nâu.

Tôi nghe một Con Quỷ nguyền rủa
Trên đồng cây thạch nam và cây nhọ nồi,
“Ḷng từ bi chẳng thể tồn tại,
Nếu không có ai nghèo khổ,

Và ḷng thương xót cũng vậy,
Nếu tất cả đều vui vẻ như chúng ta.”
Lời nguyền của hắn khiến mặt trời lặn,
Và trời đất nhăn mặt.

Mưa đổ xuống nặng nề
Trên lúa vừa gặt xong…
Và nỗi khổ đau gia tăng
Chính là ḷng từ bi, ḷng thương xót, và ḥa b́nh.
 



EARTH’S ANSWER

Earth raised up her head
From the darkness dread and drear,
Her light fled,
Stony, dread,
And her locks covered with grey despair.

'Prisoned on watery shore,
Starry jealousy does keep my den
Cold and hoar;
Weeping o're,
I hear the father of the ancient men.

'Selfish father of men!
Cruel, jealous, selfish fear!
Can delight,
Chained in night,
The virgins of youth and morning bear?

'Does spring hide its joy,
When buds and blossoms grow?
Does the sower
Sow by night,
Or the plowman in darkness plough?

'Break this heavy chain,
That does freeze my bones around!
Selfish, vain,
Eternal bane,
That free love with bondage bound.'


LỜI ĐÁP CỦA ĐẤT MẸ

Đất Mẹ ngẩng đầu lên,
Từ bóng tối lạnh lẽo, đáng sợ,
Ánh sáng vụt tan,
Cứng như đá, đầy khiếp đảm,
Mái tóc phủ kín nỗi tuyệt vọng bạc màu.

“Bị giam nơi bờ nước,
Ghen tuông của những v́ sao giữ chân ta
Băng giá, lạnh căm;
Khóc than măi,
Ta nghe tiếng cha của những người xưa.”

“Hỡi kẻ cha ích kỷ của loài người!
Tàn nhẫn, ghen tuông, sợ hăi và tham lam!
Liệu niềm vui,
Bị xiềng xích trong đêm tối,
Có thể sinh ra những trinh nữ của tuổi xuân và b́nh minh?”

“Xuân có giấu đi niềm vui,
Khi chồi non và hoa nở rộ?
Người gieo hạt,
Có gieo trong đêm,
Hay người cày ruộng trong màn đêm tăm tối?”

“Hăy phá tan xiềng xích nặng nề này,
Thứ đang đông cứng tận xương ta!
Ích kỷ, phù phiếm,
Tai ương vĩnh cửu,
Khiến t́nh yêu tự do thành t́nh yêu nô lệ!”
 



TO THE EVENING STAR

Thou fair-haired angel of the evening,
Now, whilst the sun rests on the mountains, light
Thy bright torch of love; thy radiant crown
Put on, and smile upon our evening bed!
Smile on our loves, and while thou drawest the
Blue curtains of the sky, scatter thy silver dew
On every flower that shuts its sweet eyes
In timely sleep. Let thy west wing sleep on
The lake; speak silence with thy glimmering eyes,
And wash the dusk with silver. Soon, full soon,
Dost thou withdraw; then the wolf rages wide,
And the lion glares through the dun forest.
The fleeces of our flocks are covered with
Thy sacred dew; protect with them with thine influence.


GỞI V̀ SAO CHIỀU

Hỡi thiên thần tóc vàng của buổi hoàng hôn,
Khi mặt trời yên nghỉ trên đỉnh núi xa,
Hăy thắp lên ngọn đuốc t́nh yêu rực rỡ,
Đội vương miện sáng ngời và mỉm cười
Trên chiếc giường đêm êm ái của chúng ta!

Hăy mỉm cười trên t́nh yêu đôi lứa,
Và khi người khép màn trời xanh thẳm,
Hăy rắc sương bạc dịu dàng
Lên từng đóa hoa đang khép mắt
Trong giấc ngủ đúng giờ.

Hăy để cánh gió Tây ngủ yên trên hồ,
Hăy nói lời im lặng bằng ánh mắt lấp lánh,
Và gội rửa màn đêm bằng sắc bạc lung linh.
Nhưng chẳng bao lâu, ôi, chẳng bao lâu,
Người rời đi, để loài sói gào thét,
Và sư tử ŕnh mồi trong rừng tối mịt mù.

Những tấm lông cừu của đàn ta
Cũng được phủ bởi sương thiêng của người,
Xin hăy che chở, bảo vệ chúng
Bằng sức mạnh dịu dàng của người!
 



THE ECHOING GREEN

The sun does arise,
And make happy the skies;
The merry bells ring
To welcome the spring;
The skylark and thrush,
The birds of the bush,
Sing louder around
To the bell's cheerful sound,
While our sports shall be seen
On the Echoing Green.

Old John with white hair,
Does laugh away care,
Sitting under the oak,
Among the old folk.
They laugh at our play,
And soon they all say:
'Such, such were the joys
When we all, girls and boys,
In our youth time were seen
On the Echoing Green.'

Till the little ones, weary,
No more can be merry;
The sun does descend,
And our sports have an end.
Round the laps of their mothers
Many sisters and brother,
Like birds in their nest,
Are ready for rest,
And sport no more seen
On the darkening Green.


THẢM CỎ VANG VỌNG

Mặt trời rạng rỡ lên cao,
Làm bầu trời thắm sắc màu hân hoan;
Chuông vui ngân vọng rộn ràng,
Chào đón xuân đến ngập tràn nơi nơi.
Sơn ca, họa mi ḥa lời,
Chim trong bụi rậm hót trời vang xa,
Cùng tiếng chuông rộn lời ca,
Trên thảm cỏ rộng chan ḥa tiếng vui.

Lăo John tóc trắng bạc rồi,
Cười tan phiền muộn khi ngồi gốc cây
Bên những cụ già thân quen,
Nh́n đàn trẻ nhỏ đua chen nô đùa.
Họ cười, họ nhắc ngày xưa,
“Ngày ấy, con gái, con trai
Tuổi xuân vui vẻ miệt mài,
Nô đùa rộn ră nơi này thân thương.”

Cho đến khi bé nhỏ mỏi ṃn,
Không c̣n nô đùa cười vang rộn ràng.
Mặt trời khuất bóng nhẹ nhàng,
Tṛ vui cũng tắt theo làn chiều buông.
Ṿng tay mẹ ấm yêu thương,
Anh em quấn quưt như vương tổ mềm,
Như chim rúc tổ êm đềm,
Trên thảm cỏ tối, màn đêm phủ đầy.
 



ON ANOTHER’S SORROW

Can I see another's woe,
And not be in sorrow too?
Can I see another's grief,
And not seek for kind relief?

Can I see a falling tear,
And not feel my sorrow's share?
Can a father see his child
Weep, nor be with sorrow filled?

Can a mother sit and hear
An infant groan, an infant fear?
No, no! never can it be!
Never, never can it be!

And can He who smiles on all
Hear the wren with sorrows small,
Hear the small bird's grief and care,
Hear the woes that infants bear --

And not sit beside the next,
Pouring pity in their breast,
And not sit the cradle near,
Weeping tear on infant's tear?

And not sit both night and day,
Wiping all our tears away?
Oh no! never can it be!
Never, never can it be!

He doth give his joy to all:
He becomes an infant small,
He becomes a man of woe,
He doth feel the sorrow too.

Think not thou canst sigh a sigh,
And thy Maker is not by:
Think not thou canst weep a tear,
And thy Maker is not year.

Oh He gives to us his joy,
That our grief He may destroy:
Till our grief is fled an gone
He doth sit by us and moan.


TRƯỚC NỖI ĐAU CỦA NGƯỜI KHÁC

Làm sao tôi thấy ai đau,
Mà ḷng chẳng xót nghẹn ngào đắng cay?
Làm sao thấy lệ ai rơi,
Mà không t́m cách giúp người vơi đi?

Làm sao thấy tiếng thầm th́,
Nỗi buồn ai đó khắc ghi trong ḷng,
Mà cha chẳng xót, chẳng mong,
Con thơ rơi lệ, nặng ḷng bi ai?

Làm sao mẹ có thể ngồi,
Nh́n con nhỏ khóc, than lời sợ lo?
Không! Không! Chẳng thể bao giờ!
Không bao giờ! Chẳng bao giờ thế đâu!

Người luôn rạng rỡ t́nh sâu,
Lắng nghe chim sẻ sầu đau giữa trời,
Nghe bao chim nhỏ than lời,
Nghe bao bé nhỏ tả tơi, khổ sầu—

Người chẳng lặng lẽ làm ngơ,
Mà gieo ḷng trắc ẩn vào tim ai buồn,
Người ngồi bên nôi đêm trường,
Khóc theo nước mắt trẻ thơ ngập tràn.

Ngày đêm Người măi cận kề,
Lau khô nước mắt ê chề thế gian.
Không! Không! Chẳng thể nào đâu!
Không bao giờ! Chẳng thể nào thế đâu!

Người ban niềm vui khắp nơi,
Trở thành em bé trên đời bé thơ,
Trở thành người khổ tôn thờ,
Để cùng ta chịu nỗi đau nhân trần.

Đừng nghĩ ta khóc âm thầm,
Mà Đấng Tạo Hóa xa xăm lạnh lùng.
Đừng cho rằng tiếng ta than,
Người không nghe thấy, chẳng mang nỗi niềm.

Người ban hạnh phúc dịu êm,
Xóa tan nỗi khổ, buồn thêm chẳng c̣n.
Người ngồi bên cạnh ta luôn,
Cho đến khi hết đau buồn, xót xa.
 



TO WINTER

O Winter! bar thine adamantine doors:
The north is thine; there hast thou built thy dark
Deep-founded habitation. Shake not thy roofs,
Nor bend thy pillars with thine iron car.'
He hears me not, but o'er the yawning deep
Rides heavy; his storms are unchain'd, sheathèd
In ribbèd steel; I dare not lift mine eyes,
For he hath rear'd his sceptre o'er the world.

Lo! now the direful monster, whose 1000 skin clings
To his strong bones, strides o'er the groaning rocks:
He withers all in silence, and in his hand
Unclothes the earth, and freezes up frail life.

He takes his seat upon the cliffs,--the mariner
Cries in vain. Poor little wretch, that deal'st
With storms!--till heaven smiles, and the monster
Is driv'n yelling to his caves beneath mount Hecla.


GỞI MÙA ĐÔNG

Ôi Đông hỡi! Khóa chặt cánh cửa băng thép của ngươi,
Miền Bắc là của ngươi, nơi ngươi đă dựng lên
Cung điện tối tăm, thăm thẳm tận gốc rễ sâu.
Chớ làm rung mái ṿm,
Đừng bẻ cong cột trụ bằng cỗ xe sắt nặng nề của ngươi!

Hắn chẳng nghe ta, mà vẫn lao
Trên vực sâu há miệng, nặng nề cuốn tới.
Những cơn băo bị xiềng xích giờ tung hoành,
Vỏ thép bao quanh, lạnh lùng tàn nhẫn.
Ta chẳng dám ngước nh́n,
V́ hắn đă giương vương trượng thống lĩnh cả thế gian.

Ḱa! Con quái vật hung tàn,
Mang ngh́n lớp da bám chặt lấy xương ḿnh,
Xải bước trên đá núi rên rỉ.
Hắn làm mọi thứ héo khô trong lặng câm,
Bàn tay hắn lột trần cả đất,
Và đóng băng cuộc sống mong manh.

Hắn ngồi trên vách đá cao,
Người thủy thủ gào lên vô vọng.
Ôi, kẻ đáng thương, vật lộn giữa cơn băo!
Cho đến khi trời xanh mỉm cười,
Và con quái vật gầm rú, bị xua đuổi
Về hang sâu dưới núi Hecla.
 



THE LAND OF DREAMS

Awake, awake, my little boy!
Thou wast thy mother's only joy;
Why dost thou weep in thy gentle sleep?
Awake! thy father does thee keep.

'O, what land is the Land of Dreams?
What are its mountains, and what are its streams?
O father! I saw my mother there,
Among the lilies by waters fair.

'Among the lambs, cloth? d in white,
She walk'd with her Thomas in sweet delight.
I wept for joy, like a dove I mourn;
O! when shall I again return? '

Dear child, I also by pleasant streams
Have wander'd all night in the Land of Dreams;
But tho' calm and warm the waters wide,
I could not get to the other side.

'Father, O father! what do we here
In this land of unbelief and fear?
The Land of Dreams is better far
Above the light of the morning star.'


VÙNG ĐẤT CỦA NHỮNG GIẤC MƠ

Tỉnh dậy đi con, tỉnh dậy đi nào!
Con là niềm vui duy nhất của mẹ.
Sao trong giấc ngủ dịu êm,
Con lại rơi những giọt lệ buồn?
Hăy tỉnh giấc đi, cha luôn bên con!

“Cha ơi, xứ mộng là đâu?
Núi non, sông suối nơi nào diệu huyền?
Con thấy mẹ giữa hoa tiên,
Bên ḍng nước chảy êm đềm sáng trong.”

“Giữa đàn cừu áo trắng tinh,
Mẹ cùng Thomas sánh bên vui cười.
Lệ con rơi giữa niềm vui,
Như chim bồ câu than hoài nhớ thương.
Bao giờ con được trở về?”

“Con yêu, cha cũng bao đêm,
Lạc trong giấc mộng dịu êm ngọt ngào.
Ḍng sông trải rộng dạt dào,
Nhưng cha chẳng thể bước vào bờ kia.”

“Cha ơi, sao ta vẫn c̣n
Lưu thân cơi thế lạc đường, hoài nghi?
Xứ Mộng đẹp tựa thần tiên,
Hơn cả ánh sáng ban mai rạng ngời.”
 



THE TWO SONGS

I heard an Angel Singing
When the day was springing:
'Mercy, pity, and peace,
Are the world's release.'

So he sang all day
Over the new-mown hay,
Till the sun went down,
And the haycocks looked brown.

I heard a devil curse
Over the heath and the furse:
'Mercy vould be no more
If there were nobody poor,
And pity no more could be
If all were happy as ye:
And mutual fear brings peace,
Misery's increase
Are mercy, pity, and peace.'

At his curse the sun went down,
And the heavens gave a frown.


HAI KHÚC CA

Tôi nghe Thiên Thần cất lời,
Hát vang khi ánh mặt trời dần lên:
“Xót thương, nhân ái, b́nh yên,
Chính là giải thoát cho miền trần gian.”

Ngài hát suốt cả ngày sang,
Trên đồng cỏ mới gặt vàng trải ra,
Cho đến khi nắng phai nḥa,
Rơm khô sẫm lại trong tà chiều buông.

Tôi nghe Quỷ dữ rủa nguyền,
Giữa đồi cỏ cháy, cằn khô gió lùa:
“Ḷng thương sẽ chẳng c̣n thừa,
Nếu không ai khổ, không người nghèo nàn.
Ḷng trắc ẩn cũng phai tàn,
Nếu ai cũng sống b́nh an, vui vầy.
Nỗi sợ giữ thế giới này,
Thêm đau khổ, lại dựng xây nhân từ.”

Lời nguyền vừa dứt âm u,
Mặt trời khuất bóng, trời như giận hờn.
 



MAD SONG

The wild winds weep
And the night is a-cold;
Come hither, Sleep,
And my griefs infold:
But lo! the morning peeps
Over the eastern steeps,
And the rustling birds of dawn
The earth do scorn.

Lo! to the vault
Of paved heaven,
With sorrow fraught
My notes are driven:
They strike the ear of night,
Make weep the eyes of day;
They make mad the roaring winds,
And with tempests play.

Like a fiend in a cloud,
With howling woe,
After night I do crowd,
And with night will go;
I turn my back to the east,
From whence comforts have increas'd;
For light doth seize my brain
With frantic pain.


BÀI CA ĐIÊN DẠI

Gió gào lên, khóc than ai,
Đêm dài tê buốt, phủ đầy giá băng.
Giấc mơ ơi, đến bên ta,
Vùi chôn nỗi khổ xót xa u sầu.

Nhưng ḱa! B́nh minh hé rạng,
Phía đông lấp ló ánh vàng dần lên.
Chim sớm cất tiếng ŕ rào,
Nhạo cười trái đất, lạnh lùng khinh khi.

Lời ta gửi tới thiên không,
Nặng mang sầu thảm chất chồng khổ đau.
Âm vang xé toạc đêm sâu,
Làm ngày nhỏ lệ, làm ngầu băo giông.

Như ma quỷ ẩn trong mây,
Gào than thống khổ đọa đày triền miên.
Ta cùng đêm tối triền miên,
Rượt theo màn tối, bỏ miền b́nh minh.

Quay lưng về phía phương đông,
Nơi từng rực rỡ ánh hồng niềm vui.
V́ ánh sáng chiếu vào tim,
Đốt lên cơn loạn, muộn phiền điên cuồng.
 



THE SHEPHERD

How sweet is the shepherd's sweet lot!
From the morn to the evening he strays;
He shall follow his sheep all the day,
And his tongue shall be filled with praise.

For he hears the lambs' innocent call,
And he hears the ewes' tender reply;
He is watchful while they are in peace,
For they know when their shepherd is nigh.
 


NGƯỜI MỤC ĐỒNG

Ôi, đời mục đồng ngọt ngào,
Từ sáng đến tối lạc vào nơi đâu
Suốt ngày theo bước đàn cừu,
Trên môi vẫn thấy toàn lời ngợi khen.

Nghe chiên non gọi ngây thơ,
Nghe cừu mẹ đáp, thiết tha dịu dàng
Chủ chăn luôn dơi theo đàn,
Cừu yên giấc ngủ, chủ chăn cận kề.
 



SPRING

Sound the flute!
Now it's mute!
Bird's delight,
Day and night,
Nightingale,
In the dale,
Lark in sky,--
Merrily,
Merrily merrily, to welcome in the year.

Little boy,
Full of joy;
Little girl,
Sweet and small;
Cock does crow,
So do you;
Merry voice,
Infant noise;
Merrily, merrily, to welcome in the year.

Little lamb,
Here I am;
Come and lick
My white neck;
Let me pull
Your soft wool;
Let me kiss
Your soft face;
Merrily, merrily, to welcome in the year.


MÙA XUÂN

Sáo vang lên!
Lặng im rồi!
Chim ca hót
Suốt ngày đêm.
Sơn ca hát
Giữa thung sâu,
Chim chiền chiện
Giữa trời cao—
Rộn ràng, rộn ràng,
Chào đón xuân sang!

Bé trai nhỏ,
Rộn ră vui.
Bé gái xinh,
Dịu dàng cười.
Gà trống gáy,
Bé cất lời,
Tiếng trẻ thơ,
Vang rộn ràng—
Rộn ràng, rộn ràng,
Chào đón xuân sang!

Chiên con ơi,
Lại gần ta,
Hôn lên má,
Vuốt lông mềm.
Hăy liếm nhẹ,
Cổ trắng thơm,
Rộn ràng, rộn ràng,
Chào đón xuân sang!
 



THE VOICE OF THE ANCIENT BARD

Youth of delight, come hither,
And see the opening morn,
Image of truth new born.
Doubt is fled, & clouds of reason,

Dark disputes & artful teazing.
Folly is an endless maze,
Tangled roots perplex her ways.
How many have fallen there!

They stumble all night over bones of the dead,
And feel they know not what but care,
And wish to lead others, when they should be led.


TIẾNG GỌI CỦA NHÀ HIỀN TRIẾT XƯA

Hỡi tuổi trẻ, hăy đến đây,
Ngắm b́nh minh hé tỏa đầy chân như,
Ảo nghi tan, bóng sương mờ,
Tranh tranh căi căi, lư mơ chẳng c̣n.

Tranh chấp lẫn với trêu ngươi
Điên rồ luôn vẫn một trời mê cung
Rễ sâu quấn chặt rối tung.
Bao người ngă xuống con đường nơi đây.

Chẳng hay chẳng biết nỗi ḷng,
Chỉ ôm lo lắng, bềnh bồng trôi qua.
Muốn làm kẻ dẫn đường xa,
Nhưng đâu tự biết chính ta lạc đường.
 


THE LILY

The modest Rose puts forth a thorn,
The humble sheep a threat'ning horn:
While the Lily white shall in love delight,
Nor a thorn nor a threat stain her beauty bright.


HOA HUỆ

Hoa Hồng duyên dáng, gai vây,
Chiên ngoan hiền hậu, sừng đầy hiểm nguy.
Hoa Huệ trắng giữa t́nh si,
Không gai, không dọa - mất đi đẹp ngời.
 



TO SUMMER

O thou who passest thro' our valleys in
Thy strength, curb thy fierce steeds, allay the heat
That flames from their large nostrils! thou, O Summer,
Oft pitched'st here thy goldent tent, and oft
Beneath our oaks hast slept, while we beheld
With joy thy ruddy limbs and flourishing hair.

Beneath our thickest shades we oft have heard
Thy voice, when noon upon his fervid car
Rode o'er the deep of heaven; beside our springs
Sit down, and in our mossy valleys, on
Some bank beside a river clear, throw thy
Silk draperies off, and rush into the stream:
Our valleys love the Summer in his pride.

Our bards are fam'd who strike the silver wire:
Our youth are bolder than the southern swains:
Our maidens fairer in the sprightly dance:
We lack not songs, nor instruments of joy,
Nor echoes sweet, nor waters clear as heaven,
Nor laurel wreaths against the sultry heat.


GỞI MÙA HẠ

Ôi, người lữ khách ngang qua thung lũng,
Xin gh́m cương chiến mă cuồng si,
Xoa dịu đi ngọn lửa hừng hực
Bừng cháy từ lỗ mũi phiêu linh!

Mùa Hạ ơi, từng bao lần người đă
Dựng lều vàng giữa đất này say mê,
Ngủ dưới gốc sồi xanh mát rượi,
Thân rám hồng, tóc rối gió đê mê.

Trong bóng râm dày ta từng nghe giọng
Người vang lên giữa nắng xế trưa hè,
Đến bên suối, ngồi trên bờ rêu thắm,
Khoác lụa mềm, rồi ào xuống ḍng khe.

Thung lũng ta yêu mùa hè rực rỡ,
Nơi thi nhân ngân khúc nhạc diệu huyền,
Thanh niên ta gan dạ hơn phương khác,
Thiếu nữ ta kiều diễm, nét hồn nhiên.

Ta đâu thiếu tiếng đàn ca vui vẻ,
Hay suối trong như ánh mắt trời xanh,
Ta cũng có ṿng nguyệt quế tươi mát
Chống lại ngày oi ả nóng trời hanh.
 



THE LITTLE BOY LOST

Father, father, where are you going?
Oh do not walk so fast!
Speak, father, speak to you little boy,
Or else I shall be lost.'

The night was dark, no father was there,
The child was wet with dew;
The mire was deep, and the child did weep,
And away the vapour flew.


CẬU BÉ ĐI LẠC

Cha ơi, cha bước về đâu?
Xin đừng đi vội qua cầu gió bay!
Cha ơi, đáp lại con này,
Bỏ con lạc lơng, biết ngày nào nguôi?

Đêm mịt mùng, vắng bóng cha,
Sương khuya ướt đẫm thân ta lạnh lùng.
Lầy sâu níu bước bé con,
Nức nở than khóc—sương dần bay xa.
 


TO SEE

To see a world in a grain of sand,
And a heaven in a wild flower,
Hold infinity in the palm of your hand
And eternity in an hour.
 


NH̀N THẤY

Thấy cả thế gian trong hạt cát nhỏ,
Trời cao rực rỡ giữa một nhành hoa.
Nắm vô biên trong ḷng bàn tay nhỏ,
Giữ vĩnh hằng trong khoảnh khắc trôi qua.
 



HEAR THE VOICE

Hear the voice of the Bard,
Who present, past, and future, sees;
Whose ears have heard
The Holy Word
That walk'd among the ancient trees;

Calling the lapsed soul,
And weeping in the evening dew;
That might control
The starry pole,
And fallen, fallen light renew!

'O Earth, O Earth, return!
Arise from out the dewy grass!
Night is worn,
And the morn
Rises from the slumbrous mass.

'Turn away no more;
Why wilt thou turn away?
The starry floor,
The watery shore,
Is given thee till the break of day.'


LẮNG NGHE THANH ÂM

Hăy nghe tiếng hát thi nhân,
Thấy điều xưa cũ, thấy dần tương lai.
Tai từng nghe tiếng nguyện cầu,
Lời thiêng rảo bước giữa màu rừng xưa.

Gọi hồn lạc lối chiều mưa,
Xót xa nhỏ lệ, sương mờ thấm rơi.
Đưa tay vực ánh sao trời,
Dựng lên ánh sáng rạng ngời đă tan.

Trái Đất hỡi, hăy quay về!
Trỗi dậy từ cỏ sương che mịt mùng.
Đêm tàn, sáng sớm trỗi dâng,
Bừng lên từ cơi u minh ngủ vùi.

Đừng ngoảnh mặt, chớ quay lưng,
Cớ sao trốn chạy muôn trùng xa xăm?
Trời sao, biển nước lặng thầm,
Cùng ta chờ đợi ánh rằm hừng đông.
 



I ROSE UP AT THE DAWN OF DAY

I rose up at the dawn of day--
`Get thee away! get thee away!
Pray'st thou for riches? Away! away!
This is the Throne of Mammon grey.'

Said I: This, sure, is very odd;
I took it to be the Throne of God.
For everything besides I have:
It is only for riches that I can crave.

I have mental joy, and mental health,
And mental friends, and mental wealth;
I've a wife I love, and that loves me;
I've all but riches bodily.

I am in God's presence night and day,
And He never turns His face away;
The accuser of sins by my side doth stand,
And he holds my money-bag in his hand.

For my worldly things God makes him pay,
And he'd pay for more if to him I would pray;
And so you may do the worst you can do;
Be assur'd, Mr. Devil, I won't pray to you.

Then if for riches I must not pray,
God knows, I little of prayers need say;
So, as a church is known by its steeple,
If I pray it must be for other people.

He says, if I do not worship him for a God,
I shall eat coarser food, and go worse shod;
So, as I don't value such things as these,
You must do, Mr. Devil, just as God please.


TÔI THỨC DẬY LÚC RẠNG ĐÔNG

Tôi thức dậy lúc rạng đông _
“Đi đi! Hăy biến khỏi đây!”
“Cầu xin giàu có làm chi?
Ngai vàng của quỷ, chớ hề đến mong!”

Tôi nghĩ: “Thật quá lạ lùng,
Tưởng đâu ngai ấy thuộc vùng Thánh Linh.
Mọi điều tôi đă sở sinh,
Chỉ c̣n thiếu mỗi bạc, vàng thế gian.”

Tôi có niềm vui trí tuệ,
Có sức khoẻ mạnh, có t́nh bạn thân.
Vợ tôi, yêu quư muôn phần,
Và nàng cũng mến tôi luôn vẹn tṛn.

Tôi luôn gần Chúa sớm hôm,
Chưa từng Chúa ngoảnh mặt buồn lánh xa.
Nhưng bên tôi, quỷ đứng ra,
Tay ôm túi bạc, mỉa mai lạnh lùng.

Mọi thứ trần gian, quỷ trả,
Hắn c̣n trả nữa, nếu mà tôi xin.
Nhưng tôi chẳng cúi đầu nh́n,
Lạy quỳ trước quỷ—tội t́nh sao cam?

Nếu chẳng thể cầu giàu sang,
Th́ thôi, lời nguyện cũng không cần nhiều.
Như tháp chuông vút cao siêu,
Nếu tôi cầu nguyện, xin v́ thế nhân.

Quỷ rằng: “Nếu không xem ta là Chúa,
Mày sẽ đói khổ, tả tơi xác xơ.”
Nhưng ta chẳng thiết bạc, vàng,
Mặc cho quỷ muốn, tuỳ đường Chúa an!
 



REEDS OF INNOCENCE

Piping down the valleys wild,
Piping songs of pleasant glee,
On a cloud I saw a child,
And he laughing said to me:

'Pipe a song about a Lamb!'
So I piped with merry cheer.
'Piper, pipe that song again;'
So I piped: he wept to hear.

'Drop thy pipe, thy happy pipe;
Sing thy songs of happy cheer!'
So I sung the same again,
While he wept with joy to hear.

'Piper, sit thee down and write
In a book that all may read.'
So he vanish'd from my sight;
And I pluck'd a hollow reed,

And I made a rural pen,
And I stain'd the water clear,
And I wrote my happy songs
Every child may joy to hear.


CÂY SẬY VÔ TỘI

Thổi sáo qua các thung lũng hoang,
Bài hát vui tươi vang lên ngọt ngào,
Trên mây, tôi thấy một đứa trẻ,
Và nó cười nói với tôi:

“Hăy thổi một bài ca về con Cừu!”
Vậy là tôi thổi, vui vẻ hát ca.
“Thổi lại bài ca ấy đi, sáo ơi!”
Vậy là tôi thổi, nó khóc khi nghe.

“Bỏ cây sáo đi, cây sáo vui vẻ ấy;
Hát những bài ca vui sướng nhé!”
Vậy là tôi hát lại lần nữa,
Khi nó khóc v́ vui sướng khi nghe.

“Sáo ơi, ngồi xuống và viết đi,
Vào một quyển sách mà ai cũng đọc.”
Vậy là nó biến mất khỏi tầm mắt tôi;
Và tôi nhặt một cây sậy rỗng,

Và tôi làm thành cây bút đồng quê,
Và tôi làm nước trong thành màu đen,
Và tôi viết những bài ca vui vẻ của ḿnh,
Mỗi đứa trẻ sẽ vui mừng khi nghe.
 



INTRODUCTION TO THE SONGS OF INNOCENCE

Piping down the valleys wild,
Piping songs of pleasant glee,
On a cloud I saw a child,
And he laughing said to me:

'Pipe a song about a Lamb!'
So I piped with merry cheer.
'Piper, pipe that song again;'
So I piped: he wept to hear.

'Drop thy pipe, thy happy pipe;
Sing thy songs of happy cheer:!'
So I sang the same again,
While he wept with joy to hear.

'Piper, sit thee down and write
In a book, that all may read.'
So he vanish'd from my sight;
And I pluck'd a hollow reed,

And I made a rural pen,
And I stain'd the water clear,
And I wrote my happy songs
Every child may joy to hear.


DẪN NHẬP CHO “NHỮNG BÀI CA NGÂY THƠ”

Tôi thổi sáo giữa thung lũng hoang,
Bài ca vui vẻ vang lên rộn ràng,
Trên mây, tôi thấy một đứa trẻ,
Nó cười và nói với tôi rằng:

“Hăy thổi bài ca về con Cừu!”
Vậy là tôi thổi, ḷng đầy hân hoan.
“Sáo ơi, thổi lại bài ca ấy!”
Vậy là tôi thổi, nó khóc nức nở.

“Bỏ sáo đi, cây sáo vui tươi,
Hát những bài ca tràn đầy niềm vui!”
Vậy là tôi hát lại lần nữa,
Nó khóc v́ vui sướng vô ngần.

“Sáo ơi, ngồi xuống và viết đi,
Ghi vào sách cho muôn người đọc.”
Rồi nó chợt biến khỏi mắt tôi,
Tôi nhặt lấy một cành sậy rỗng,

Làm thành cây bút đơn sơ,
Chấm vào nước trong xanh thắm,
Viết nên những khúc ca vui,
Mọi trẻ thơ đều hoan hỉ nghe.
 



HOLY THURSDAY

Twas on a Holy Thursday their innocent faces clean
The children walking two & two in red & blue & green
Grey headed beadles walked before with wands as white as snow
Till into the high dome of Pauls they like Thames waters flow

O what a multitude they seemed these flowers of London town
Seated in companies they sit with radiance all their own
The hum of multitudes was there but multitudes of lambs
Thousands of little boys & girls raising their innocent hands

Now like a mighty wind they raise to heaven the voice of song
Or like harmonious thunderings the seats of heaven among
Beneath them sit the aged men wise guardians of the poor
Then cherish pity, lest you drive an angel from your door.


THỨ NĂM THÁNH

Ngày Thứ Năm Thánh, nét mặt hồn nhiên,
Trẻ thơ bước đi, hai hàng ngay ngắn,
Xanh, đỏ, vàng—màu áo tung bay,
Những người lăo bộc, tóc pha màu sương,
Cầm gậy trắng muốt dẫn đường,
Đến mái ṿm cao thánh đường Paul,
Ḍng người tuôn chảy như sông Thames cuộn trào.

Ôi, muôn vạn đóa hoa của London,
Ngồi quây quần, rạng rỡ tươi xinh,
Nghe vang rền tiếng lao xao,
Nhưng chẳng phải sóng mà là bầy cừu con,
Ngàn vạn bé trai, bé gái,
Giơ đôi tay nhỏ ngây thơ cầu nguyện.

Rồi bỗng chốc, như gió ào lên,
Tiếng ca dâng tận trời cao,
Như sấm ngân vang trên cơi thiên đàng,
Bên dưới là những bậc hiền nhân,
Những người bảo hộ kẻ nghèo khổ.
Hăy giữ ḷng trắc ẩn trong tim,
Kẻo đuổi thiên thần rời xa cửa nhà.
 



SEVERAL QUESTIONS ANSWERED

What is it men in women do require?
The lineaments of Gratified Desire.
What is it women do in men require?
The lineaments of Gratified Desire.

The look of love alarms
Because 'tis fill'd with fire;
But the look of soft deceit
Shall Win the lover's hire.

Soft Deceit & Idleness,
These are Beauty's sweetest dress.

He who binds to himself a joy
Dot the winged life destroy;
But he who kisses the joy as it flies
Lives in Eternity's sunrise.


NHIỀU CÂU HỎI ĐƯỢC GIẢI ĐÁP

Điều ǵ đàn ông mong trong đàn bà?
Nét thỏa nguyện ánh lên rạng rỡ.
Điều ǵ đàn bà mong trong đàn ông?
Cũng là nét thỏa nguyện nên thơ.

Ánh mắt yêu làm tim run rẩy,
V́ trong đó lửa cháy ngập tràn;
Nhưng cái nh́n dịu dàng gian dối
Mới khiến ḷng si mê muôn vàn.

Nhẹ nhàng dối trá, lười biếng say mê,
Là xiêm y đẹp nhất người kia muốn kề.

Ai giữ chặt niềm vui không rời,
Chẳng khác ǵ cánh chim găy đôi.
Nhưng ai hôn niềm vui lúc bay,
Sống trong ánh b́nh minh vĩnh hằng ngời!
 



THE LITTLE VAGABOND

Dear mother, dear mother, the church is cold,
But the ale-house is healthy and pleasant and warm;
Besides I can tell where I am used well,
Such usage in Heaven will never do well.

But if at the church they would give us some ale,
And a pleasant fire our souls to regale,
We'd sing and we'd pray all the live-long day,
Nor ever once wish from the church to stray.

Then the parson might preach, and drink, and sing,
And we'd be as happy as birds in the spring;
And modest Dame Lurch, who is always at church,
Would not have bandy children, nor fasting, nor birch.

And God, like a father rejoicing to see
His children as pleasant and happy as he,
Would have no more quarrel with the Devil or the barrel,
But kiss him, and give him both drink and apparel.


ĐỨA BÉ LANG THANG

Mẹ ơi, mẹ ơi, nhà thờ lạnh lẽo,
Quán rượu th́ vui, ấm áp đủ điều.
Hơn nữa, ở đây con luôn được mến,
Chứ trên thiên đường ai thương ai chiều?

Giá như nhà thờ cho ta chút rượu,
Lửa hồng nồng ấm sưởi ấm hồn ta,
Ta hát, ta cầu, suốt ngày không chán,
Chẳng mong rời bước đi đến đâu xa.

Linh mục vừa giảng, vừa ca, vừa cạn,
Chúng ta vui như chim hót mùa xuân.
Bà Lurch hiền lành, chăm đi nhà thờ,
Sẽ không c̣n con nheo nhóc, tảo tần.

Và Chúa như cha, ḷng vui rạng rỡ,
Nh́n con ḿnh hạnh phúc, mộng mơ,
Chẳng c̣n tranh căi cùng ma hay rượu,
Chỉ hôn và ban áo ấm, rượu thơ!
 


I SAW A CHAPEL

I saw a chapel all of gold
That none did dare to enter in,
And many weeping stood without,
Weeping, mourning, worshipping.

I saw a serpent rise between
The white pillars of the door,
And he forc'd and forc'd and forc'd,
Down the golden hinges tore.

And along the pavement sweet,
Set with pearls and rubies bright,
All his slimy length he drew
Till upon the altar white

Vomiting his poison out
On the bread and on the wine.
So I turn'd into a sty
And laid me down among the swine.


TA THẤY MỘT NGUYỆN ĐƯỜNG

Ta thấy một nguyện đường dát vàng,
Chẳng ai dám bước vào trong.
Bên ngoài bao kẻ than van,
Khóc than, thương tiếc, cúi đầu cầu mong.

Ta thấy một con rắn trườn lên,
Giữa đôi cột trắng cửa thiêng.
Nó quấn, nó siết, nó dằn,
Xé tung bản lề vàng son chốn này.

Trên nền lát ngọc long lanh,
Ngọc trai, hồng ngọc xếp thành đường đi,
Thân dài nhớp nháp ḅ qua,
Tiến lên bàn thánh, uốn tà h́nh dong.

Rồi phun nọc độc hôi tanh,
Lên rượu, lên bánh - ta thành chuồng hôi
Ta quay lưng lại, thế rồi,
Chui vào chuồng lợn, nằm hoài chẳng ra.
 


TO THE MUSES

Whether on Ida's shady brow,
Or in the chambers of the East,
The chambers of the sun, that now
From ancient melody have ceas'd;

Whether in Heav'n ye wander fair,
Or the green corners of the earth,
Or the blue regions of the air,
Where the melodious winds have birth;

Whether on crystal rocks ye rove,
Beneath the bosom of the sea
Wand'ring in many a coral grove,
Fair Nine, forsaking Poetry!

How have you left the ancient love
That bards of old enjoy'd in you!
The languid strings do scarcely move!
The sound is forc'd, the notes are few!


GỬI NHỮNG NÀNG THƠ

Dù trên đỉnh Ida xanh rợp bóng,
Hay trong pḥng lộng ánh phương Đông,
Nơi mặt trời xưa từng gieo tiếng hát,
Giờ lặng câm, quên khúc nhạc hồng.

Dù lạc bước giữa trời cao rực rỡ,
Hay nép ḿnh nơi góc đất xanh tươi,
Hay bay bổng theo vùng không thăm thẳm,
Nơi gió ngàn ca hát không ngơi.

Dù rong ruổi trên đá trong dưới biển,
Giữa rừng san hô thắm sắc hồng,
Chín nàng hỡi, v́ đâu bỏ mặc,
Thi ca xưa giờ bỗng hư không?

Sao các nàng xa rời t́nh cũ,
Mà những thi nhân từng say mê?
Dây đàn buồn, rung lên yếu ớt,
Tiếng ră rời, nốt nhạc lê thê!
 


NOW ART HAS LOST ITS MENTAL CHARMS

`Now Art has lost its mental charms
France shall subdue the world in arms.'
So spoke an Angel at my birth;
Then said `Descend thou upon earth,
Renew the Arts on Britain's shore,
And France shall fall down and adore.
With works of art their armies meet
And War shall sink beneath thy feet.
But if thy nation Arts refuse,
And if they scorn the immortal Muse,
France shall the arts of peace restore
And save thee from the ungrateful shore.'

Spirit who lov'st Britannia's Isle
Round which the fiends of commerce smile -


NGHỆ THUẬT GIỜ ĐĂ MẤT ĐIÊU LINH

“Nay nghệ thuật mất điêu linh,
Pháp sẽ chinh phục chiến binh khắp trần.”
Một thiên thần nói lúc ta sinh,
Rồi phán: *“Hăy xuống dương trần,
Mang nghệ thuật về bờ Anh quốc,
Khiến Pháp quỳ gối tôn thần.
Đem tác phẩm chặn quân binh họ,
Chiến tranh sẽ lụi tàn dần.

Nhưng nếu dân ngươi khinh nghệ thuật,
Chê nàng Thơ bất diệt xưa nay,
Th́ chính nước Pháp khơi ḥa nhạc,
Cứu ngươi khỏi bến đắng cay.”*

Hỡi linh hồn yêu xứ sở,
Nơi thương trường quỷ mỉm cười…
 



HOW SWEET I ROAM’D

How sweet I roam'd from field to field,
And tasted all the summer's pride
'Til the prince of love beheld
Who in the sunny beams did glide!

He shew'd me lilies for my hair
And blushing roses for my brow;
He led me through his garden fair,
Where all his golden pleasures grow.

With sweet May dews my wings were wet,
And Phoebus fir'd my vocal rage
He caught me in his silken net,
And shut me in his golden cage.

He loves to sit and hear me sing,
Then, laughing, sports and plays with me;
Then stretches out my golden wing,
And mocks my loss of liberty.


THẬT NGỌT NGÀO KHI LANG THANG

Ta lang thang giữa đồng xanh,
Hương hè tràn ngập trời thanh rạng ngời,
Cho đến khi chúa t́nh yêu
Nh́n ta qua ánh mặt trời rực soi.

Ngài trao tóc ta hoa huệ,
Trán hồng điểm đóa hồng tươi,
Dẫn ta vào khu vườn đẹp,
Nơi vui sướng mọc vàng ươm khắp nơi.

Sương tháng Năm thấm ướt cánh,
Phoebus đốt lửa giọng ca,
Ngài giăng lưới mềm tơ lụa,
Nhốt ta trong lồng son xa.

Ngài thích ngồi nghe ta hát,
Cười vang rồi đùa giỡn chơi,
X̣e rộng cánh vàng ta đó,
Chế nhạo tự do đă vơi…
 



THE NEW JERUSALEM

And did those feet in ancient time
Walk upon England's mountains green?
And was the holy Lamb of God
On England's pleasant pastures seen?

And did the Countenance Divine
Shine forth upon our clouded hills?
And was Jerusalem builded here
Among these dark Satanic Mills?

Bring me my bow of burning gold!
Bring me my arrows of desire!
Bring me my spear! O clouds, unfold!
Bring me my charriot of fire!

I will not cease from mental fight,
Nor shall my sword sleep in my hand
Till we have built Jerusalem
In England's green and pleasant land.
 



JERUSALEM MỚI

Phải chăng thuở xưa chân ai
Từng in trên núi xanh dài nước Anh?
Chiên Con Thánh Chúa hiển linh,
Đă từng gặm cỏ đồng xanh chốn này?

Phải chăng diện thánh huy hoàng
Chiếu soi đồi núi u ám mịt mờ?
Jerusalem được xây nên
Giữa nơi cối xay quỷ dữ vật vờ?

Đưa ta cung lửa rực vàng!
Đưa ta tên với khát khao bừng!
Đưa ta thương thép! Mây kia rẽ lối!
Đưa ta chiến mă lửa hồng oai phong!

Ta không ngưng chiến đấu đâu,
Gươm ta chẳng ngủ trong tay bao giờ,
Cho đến khi dựng nơi đây
Jerusalem sáng giữa trời Anh xanh!
 



FROM MILTON AND DID THOSE FEET

And did those feet in ancient time
Walk upon England's mountains green?
And was the holy Lamb of God
On England's pleasant pastures seen?

And did the Countenance Divine
Shine forth upon our clouded hills?
And was Jerusalem builded here,
Among these dark Satanic Mills?

Bring me my Bow of burning gold:
Bring me my Arrows of desire:
Bring me my Spear:O clouds unfold!
Bring me my Chariot of fire!

I will not cease from Mental Fight,
Nor shall my Sword sleep in my hand,
Till we have built Jerusalem
In England's green & pleasant Land.


TỪ MILTON – VÀ NHỮNG BƯỚC CHÂN ẤY

Phải chăng thuở xưa chân ai
Đă in trên núi xanh dài nước Anh?
Chiên Con Thánh Chúa hiển linh
Đă từng gặm cỏ yên b́nh chốn đây?

Phải chăng diện thánh huy hoàng
Chiếu soi đồi núi mây vương mịt mờ?
Giê-ru-sa-lem được xây nên
Giữa nơi cối xay quỷ dữ vật vờ?

Hăy mang ta cung vàng lửa cháy!
Hăy mang ta tên khát vọng sục sôi!
Hăy mang ta giáo! Mây kia rẽ lối!
Hăy mang ta xe lửa rực trời!

Ta không ngưng chiến đấu đâu,
Gươm ta chẳng ngủ trong tay bao giờ,
Cho đến khi dựng nơi đây
Giê-ru-sa-lem sáng giữa trời Anh xanh!
 



SLEEP! SLEEP! BEAUTY BRIGHT

Sleep! sleep! beauty bright,
Dreaming o'er the joys of night;
Sleep! sleep! in thy sleep
Little sorrows sit and weep.

Sweet Babe, in thy face
Soft desires I can trace,
Secret joys and secret smiles,
Little pretty infant wiles.

As thy softest limbs I feel,
Smiles as of the morning steal
O'er thy cheek, and o'er thy breast
Where thy little heart does rest.

O! the cunning wiles that creep
In thy little heart asleep.
When thy little heart does wake
Then the dreadful lightnings break,

From thy cheek and from thy eye,
O'er the youthful harvests nigh.
Infant wiles and infant smiles
Heaven and Earth of peace beguiles.


NGỦ ĐI! NGỦ ĐI! VẺ ĐẸP RẠNG NGỜI

Ngủ đi! ngủ đi! bé thơ,
Mơ vui rực rỡ trong mơ đêm dài.
Ngủ đi! ngủ giữa mộng say,
Nỗi buồn khe khẽ nơi này khóc than.

Bé yêu, trên má hồng nhan,
Ta nh́n thấy những dịu dàng khát khao,
Những niềm vui giấu ngọt ngào,
Nụ cười bé bỏng dạt dào hồn nhiên.

Nhẹ nhàng ta chạm làn da,
Tựa vầng dương hé, nụ hoa rạng ngời,
Khẽ lan trên má, trên môi,
Trên tim bé nhỏ ngủ vùi trong mơ.

Ôi những mưu mẹo ngây thơ,
Len trong tim bé từng giờ say sưa.
Nhưng khi bé tỉnh giấc mơ,
Tia chớp giận dữ bất ngờ lóe lên!

Từ đôi má, từ mắt huyền,
Sấm vang trên cánh đồng nguyên non mềm.
Nụ cười, ánh mắt thơ ngây,
Trời cao, đất rộng cũng say ḥa b́nh.
 



SONG

My silks and fine array,
My smiles and languish'd air,
By love are driv'n away;
And mournful lean Despair
Brings me yew to deck my grave;
Such end true lovers have.

His face is fair as heav'n
When springing buds unfold;
O why to him was't giv'n
Whose heart is wintry cold?
His breast is love's all-worshipp'd tomb,
Where all love's pilgrims come.

Bring me an axe and spade,
Bring me a winding sheet;
When I my grave have made
Let winds and tempests beat:
Then down I'll lie as cold as clay.
True love doth pass away!


BÀI CA

Lụa là, xiêm áo kiêu sa,
Nụ cười e ấp, dáng ngà buông lơi,
T́nh yêu xua hết mất rồi,
Chỉ c̣n tuyệt vọng buốt lời khóc than.

Ṿng nguyệt quế phủ huyệt sầu,
Kết trang mộ đá t́nh đầu phai phôi.

Mặt chàng rạng rỡ tinh khôi,
Như trời xuân thắm nụ cười hé hoa.
Cớ sao trời lại ban ra
Một tim lạnh giá tựa là mùa đông?

Ḷng chàng—mồ thánh t́nh yêu,
Hành hương bao kẻ muộn điều mộng mơ.

Mang ta cuốc, xẻng, khăn sầu,
Tự tay đào lấy huyệt sâu đón ḿnh.
Gió gào, băo nổi mặc t́nh,
Nằm yên lạnh lẽo, mộng t́nh thoáng bay!
 



SONG : MEMORY, HITHED COME

Memory, hither come,
And tune your merry notes;
And, while upon the wind
Your music floats,

I'll pore upon the stream
Where sighing lovers dream,
And fish for fancies as they pass
Within the watery glass.

I'll drink of the clear stream,
And hear the linnet's song;
And there I'll lie and dream
The day along:

And, when night comes, I'll go
To places fit for woe,
Walking along the darken'd valley
With silent Melancholy.


BÀI CA: KƯ ỨC, HĂY VỀ ĐÂY

Kư ức ơi, hăy về đây,
Cất lên khúc nhạc tràn đầy vui tươi.
Trong khi gió cuốn đi rồi
Những lời ca ấy lững lờ bay xa,

Ta ngồi bên suối lặng ngắm,
Nơi bao t́nh nhân thở than trong mơ,
Câu hồn những bóng tưởng vờ,
Trôi qua mặt nước lững lờ lung linh.

Ta sẽ uống ḍng trong xanh,
Nghe chim hót giữa trời thanh ngọt ngào,
Nằm mơ cả buổi trôi mau,
Để ngày trôi mất vào bao giấc nồng.

Tới đêm ta sẽ lặng đi
T́m nơi thích hợp sầu bi tháng ngày,
Lang thang qua thung tối dày,
Cùng niềm u uất chẳng ai tỏ bày…
 



THE LITTLE GIRL FOUND

All the night in woe,
Lyca's parents go:
Over vallies deep.
While the desarts weep.

Tired and woe-begone.
Hoarse with making moan:
Arm in arm seven days.
They trac'd the desert ways.

Seven nights they sleep.
Among shadows deep:
And dream they see their child
Starvdd in desart wild.

Pale thro' pathless ways
The fancied image strays.
Famish'd, weeping, weak
With hollow piteous shriek

Rising from unrest,
The trembling woman prest,
With feet of weary woe;
She could no further go.

In his arms he bore.
Her arm'd with sorrow sore:
Till before their way
A couching lion lay.

Turning back was vain,
Soon his heavy mane.
Bore them to the ground;
Then he stalk'd around.

Smelling to his prey,
But their fears allay,
When he licks their hands:
And silent by them stands.

They look upon his eyes
Fill'd with deep surprise:
And wondering behold.
A spirit arm'd in gold.

On his head a crown
On his shoulders down,
Flow'd his golden hair.
Gone was all their care.

Follow me he said,
Weep not for the maid;
In my palace deep.
Lyca lies asleep.

Then they followed,
Where the vision led;
And saw their sleeping child,
Among tygers wild.

To this day they dwell
In a lonely dell
Nor fear the wolvish howl,
Nor the lion's growl.


CÔ BÉ ĐĂ ĐƯỢC T̀M THẤY

Suốt đêm than khóc bi ai,
Bố mẹ Lyca miệt mài t́m con.
Băng qua thung lũng héo hon,
Sa mạc lệ đổ từng cơn thở dài.

Mệt nhoài, kiệt sức, khô lời,
Tay trong tay bước bảy ngày đau thương.
Bảy đêm ngủ giữa mù sương,
Mơ con đói khát đoạn trường lẻ loi.

Bóng h́nh bé nhỏ chơi vơi,
Lạc trong hoang mạc, ră rời bước chân.
Khóc than, đói khát bần thần,
Lời than nức nở vang ngân ră rời.

Người mẹ bỗng giật ḿnh ngồi,
Tay run run bước ră rời đau thương.
Chân không thể bước thêm đường,
Người cha bế mẹ, đoạn trường ngả nghiêng.

Phía trước đường, bỗng ẩn hiện,
Một con sư tử nằm yên chắn lối.
Quay về chẳng thể nào rồi,
Bờm vàng hùng vĩ nhẹ trôi theo gió.

Sư tử quanh họ lượn ṿng,
Hơi thở gầm nhẹ, mắt trông âu lo.
Nhưng rồi dịu lại chẳng ngờ,
Liếm tay họ nhẹ, đứng chờ lặng thinh.

Họ nh́n vào mắt long lanh,
Ngạc nhiên bỗng thấy xung quanh ánh vàng.
Một thần hiện giữa không gian,
Áo giáp lấp lánh, vầng quang sáng ngời.

Trên đầu đội chiếc vương khôi,
Tóc vàng buông xơa, rạng ngời thần tiên.
Bao nhiêu lo lắng ưu phiền,
Tan đi như gió cuốn miền xa xăm.

“Theo ta, đừng khóc âm thầm,
Nơi cung điện thẳm Lyca đang nằm.”

Họ đi theo bóng huy hoàng,
Thấy con đang ngủ nhẹ nhàng b́nh yên.
Xung quanh hổ báo triền miên,
Nhưng không hiểm họa, chẳng phiền nỗi lo.

Từ ngày đó, họ sống hoài,
Giữa nơi thanh vắng, chẳng ai dọa ḿnh.
Chó sói dù hú rùng ḿnh,
Sư tử gầm thét, an b́nh vẫn nguyên.
 



THE CAVERNS OF THE GRAVE I’VE SEEN

The Caverns of the Grave I've seen,
And these I show'd to England's Queen.
But now the Caves of Hell I view,
Who shall I dare to show them to?
What mighty soul i 362 n Beauty's form
Shall dauntless view the infernal storm?
Egremont's Countess can control
The flames of Hell that round me roll;
If she refuse, I still go on
Till the Heavens and Earth are gone,
Still admir'd by noble minds,
Follow'd by Envy on the winds,
Re-engrav'd time after time,
Ever in their youthful prime,
My designs unchang'd remain.
Time may rage, but rage in vain.
For above Time's troubled fountains,
On the great Atlantic Mountains,
In my Golden House on high,
There they shine eternally.


TA ĐĂ THẤY HẦM MỘ TỐI TĂM

Ta đă thấy hầm mộ sâu,
Và cho Nữ Chúa Anh đầu chiêm quan.
Nhưng nay nh́n thấy địa đàng,
Ai là kẻ dám bước ngang ngục này?

Linh hồn vĩ đại nào đây,
Dám nh́n giông băo lửa đầy địa lao?
Nữ Bá tước, nếu chẳng nao,
Người có thể trị ngọn trào địa tâm.

Nếu nàng từ chối chẳng cầm,
Ta đi tiếp bước, chẳng dừng ngại chi,
Dù trời sụp, đất hoang tàn,
Vẫn c̣n cao quư miên man dơi theo.

Ghen tuông cuốn gió bám theo,
Nhưng ta vẫn đứng, vẫn gieo lưu truyền.
Dù cho năm tháng đổi thay,
Ư ta bất biến xưa nay một đường.

Thời gian có giận, cứ buông,
Nổi cơn cuồng nộ cũng không thể nào.
Bên trên nguồn sóng hỗn hào,
Đỉnh cao Đại Hải, vững bầu Hoàng Kim.

Trong lâu đài sáng niềm tin,
Tác phẩm ta măi lung linh rạng ngời!
 



THE LITTLE GIRL LOST

In futurity
I prophesy see.
That the earth from sleep.
(Grave the sentence deep)

Shall arise and seek
For her maker meek:
And the desart wild
Become a garden mild.

In the southern clime,
Where the summers prime
Never fades away;
Lovely Lyca lay.

Seven summers old
Lovely Lyca told,
She had wandered long.
Hearing wild birds song.

Sweet sleep come to me
Underneath this tree;
Do father, mother weep.--
"Where can Lyca sleep".

Lost in desert wild
Is your little child.
How can Lyca sleep.
If her mother weep.

If her heart does ake.
Then let Lyca wake;
If my mother sleep,
Lyca shall not weep.

Frowning, frowning night,
O'er this desert bright.
Let thy moon arise.
While I close my eyes.

Sleeping Lyca lay:
While the beasts of prey,
Come from caverns deep,
View'd the maid asleep

The kingly lion stood
And the virgin view'd:
Then he gambolled round
O'er the hallowed ground:

Leopards, tygers play,
Round her as she lay;
While the lion old,
Bow'd his mane of gold,

And her bosom lick,
And upon her neck,
From his eyes of flame,
Ruby tears there came;

While the lioness
Loos'd her slender dress,
And naked they convey'd
To caves the sleeping maid.
 



CÔ BÉ LẠC MẤT

Một ngày mai sáng tương lai,
Ta nh́n tiên tri rạch bài đá sâu:
Rằng trần gian sẽ tỉnh mau,
T́m người sáng tạo nhiệm mầu thuở xưa.

Sa mạc hoang lạnh nắng trưa,
Hóa thành vườn thắm mộng mơ dịu dàng.
Phương Nam nơi nắng dịu dàng,
Lyca nằm đó mơ màng ngủ yên.

Bé nay vừa trọn bảy niên,
Lang thang nghe tiếng chim yên giọng ḥ.
“Giấc mơ ơi, đến với ta,
Nằm dưới gốc cổ thụ già nơi đây.”

Mẹ cha nhỏ lệ buồn thay:
“Lyca con hỡi, ngủ đây nơi nào?”
Giữa sa mạc, bóng trăng cao,
Con ta bé nhỏ biết sao ngủ lành?

“Nếu tim mẹ nhói, con đành
Tỉnh giấc dậy nhé, yên lành chẳng đau.
Nếu như mẹ ngủ đă sâu,
Lyca chẳng khóc, chẳng sầu đớn đau.”

Đêm đen cau mặt lạnh lùng,
Nhưng vầng trăng vẫn dịu dàng dâng lên.
Lyca ngủ, giấc mộng hiền,
Dă thú từng bầy ŕnh bên dáng nàng.

Sư tử chúa hùng oai vang,
Đứng nh́n trinh nữ, dịu dàng lượn quanh.
Thú rừng, hổ báo vây quanh,
Lặng nh́n cô bé ngủ lành trong mơ.

Lăo sư tử, mái bờm vàng,
Cúi đầu trầm mặc, dịu dàng kề bên.
Lệ hồng như ngọc lăn trên,
Khóc cho cô bé giấc êm giữa rừng.

Sư tử cái đến ân cần,
Nhẹ nhàng nới lỏng váy trần mong manh.
Rồi chúng d́u bé an lành,
Về nơi hang động yên lành ngủ say.
 



THE CRYSTAL CABINET

The Maiden caught me in the wild,
Where I was dancing merrily;
She put me into her Cabinet,
And lock'd me up with a golden key.

This cabinet is form'd of gold
And pearl and crystal shining bright,
And within it opens into a world
And a little lovely moony night.

Another England there I saw
Another London with its Tower,
Another Thames and other hills,
And another pleasant Surrey bower.

Another Maiden like herself,
Translucent, lovely, shining clear,
Threefold each in the other clos'd
O, what a pleasant trembling fear!

O, what a smile! a threefold smile
Fill'd me, that like a flame I burn'd;
I bent to kiss the lovely Maid,
And found a threefold kiss return'd.

I strove to seize the inmost form
With ardor fierce and hands of flame,
But burst the Crystal Cabinet,
And like a weeping Babe became--

A weeping Babe upon the wild,
And weeping Woman pale reclin'd,
And in the outward air again,
I fill'd with woes the passing wind.


CHIẾC TỦ PHA LÊ

Giữa rừng hoang vắng hoan ca,
Nàng kia bắt lấy, vội mà giữ tôi.
Nàng đem tôi nhốt trong nơi,
Chiếc tủ pha lê, khóa rồi vàng tươi.

Tủ này kết ngọc vàng ngời,
Pha lê trong suốt, rạng ngời ánh sao.
Bên trong mở lối nhiệm mầu,
Một đêm trăng nhỏ mơ màng hiện ra.

Nước Anh khác lạ hiện ra,
London khác với tháp xa vững vàng.
Một ḍng Thames khác dịu dàng,
Ngọn đồi xa khác, vườn hoang khác nhiều.

Một nàng kia cũng mỹ miều,
Trong suốt, rạng rỡ, mỹ miều như mơ.
Ba h́nh ẩn giữa nhau chờ,
Ôi run rẩy quá, bâng khuâng cơi ḷng!

Ôi nụ cười, ánh cười trong,
Bùng lên ngọn lửa cháy ḷng thiết tha.
Ta cúi hôn lấy nàng ta,
Ba lần môi chạm, chan ḥa hôn trao.

Ta mong chạm tới tận sâu,
Bàn tay lửa cháy, dạt dào đắm say.
Nhưng rồi tủ vỡ trong tay,
Ta thành đứa bé, giọt cay rơi đầy.

Khóc giữa rừng vắng heo may,
Nàng kia nhợt nhạt ngất ngay u sầu.
Gió ngoài kia cuốn lệ sầu,
Cuốn đi những tiếng ḷng đau vỡ ̣a.
 



IF IT IS TRUE, WHAT THE PROPHETS WRITE

If it is true, what the Prophets write,
That the heathen gods are all stocks and stones,
Shall we, for the sake of being polite,
Feed them with the juice of our marrow-bones?

And if Bezaleel and Aholiab drew
What the finger of God pointed to their view,
Shall we suffer the Roman and Grecian rods
To compel us to worship them as gods?

They stole them from the temple of the Lord
And worshipp'd them that they might make inspirèd art abhorr'd;

The wood and stone were call'd the holy things,
And their sublime intent given to their kings.
All the atonements of Jehovah spurn'd,
And criminals to sacrifices turn'd.


NẾU LỜI TIÊN TRI LÀ THẬT

Nếu lời tiên tri là chân lư,
Rằng thần ngoại đạo chỉ gỗ, chỉ đá,
Chúng ta v́ phép lịch sự sao,
Lại đem tủy xương mà nuôi dưỡng chúng?

Nếu Bezaleel cùng Aholiab
Vẽ theo nét Chúa đă phán truyền,
Sao ta để Hy-La giáo gậy,
Ép ta quỳ lạy gọi thần linh?

Chúng trộm báu vật nơi đền thánh,
Dựng thần giả để bôi nhọ nghệ thuật thiêng.
Gỗ cùng đá bỗng thành thần thánh,
Mục đích cao siêu thuộc bậc đế vương.

Mọi tế lễ Chúa trời bị khinh rẻ,
Tội nhân thành vật hiến tế cuồng điên.
 



THE INVOCATION

Daughters of Beulah! Muses who inspire the Poet's Song,
Record the journey of immortal Milton thro' your realms
Of terror and mild moony lustre, in soft Sexual delusions
Of varièd beauty, to delight the wanderer, and repose
His burning thirst and freezing hunger! Come into my hand,
By your mild power descending down the nerves of my right arm
From out the portals of my Brain, where by your ministry
The Eternal Great Humanity Divine planted His Paradise,
And in it caus'd the Spectres of the Dead to take sweet form
In likeness of Himself. Tell also of the False Tongue, vegetated
Beneath your land of Shadows, of its sacrifices and
Its offerings; even till Jesus, the image of the Invisible God,
Became its prey; a curse, an offering, and an atonement
For Death Eternal, in the Heavens of Albion, and before the Gates
Of Jerusalem his Emanation, in the Heavens beneath Beulah!


LỜI KHẨN NGUYỆN

Hỡi những nàng thơ Beulah dịu dàng,
Truyền cảm hứng cho khúc ca thi nhân,
Hăy ghi chép cuộc hành tŕnh bất diệt,
Của Milton xuyên qua những cơi hồn!

Giữa kinh hoàng và ánh trăng huyền ảo,
Nơi ảo ảnh mỹ lệ vẫy tay chào,
Ru kẻ lữ hành đang khô khát bỏng,
Và xoa dịu cơn lạnh buốt hư hao.

Hăy giáng xuống trên cánh tay phải,
Bằng quyền năng êm ái, dịu dàng,
Qua cánh cổng năo ta soi rọi,
Nơi Thiên Nhân trồng Địa Đàng.

Người đă khiến vong hồn bóng quế,
Hóa thân thành chính ảnh Người,
Hăy kể về những lời gian trá,
Dưới vùng bóng tối sinh sôi.

Những hiến tế, tế đàn tội lỗi,
Cho đến khi Chúa Giê-su,
H́nh ảnh của Ngài Vĩnh Cửu,
Bị làm vật hiến tế oan uổng, bi thương.

Lời nguyền, lễ vật chuộc tội,
Cho cơi chết vĩnh hằng đau thương,
Trên trời cao của Albion rực rỡ,
Trước cổng Jerusalem thiêng liêng.
 



THE FAIRY

COME hither, my Sparrows,
My little arrows.
If a tear or a smile
Will a man beguile,
If an amorous delay
Clouds a sunshiny day,
If the step of a foot
Smites the heart to its root,
'Tis the marriage-ring…
Makes each fairy a king.'

So a Fairy sung.
From the leaves I sprung;
He leap'd from the spray
To flee away;
But in my hat caught,
He soon shall be taught.
Let him laugh, let him cry,
He's my Butterfly;
For I've pull'd out the sting
Of the marriage-ring.


NÀNG TIÊN

Hỡi chim sẻ nhỏ,
Những mũi tên ta!
Một giọt lệ rơi,
Một nụ cười xa,
Cũng đủ làm người say đắm.

Nếu phút chờ mong,
Che khuất nắng hồng,
Nếu một bước chân,
Làm tim bồi hồi run rẩy,
Ấy chính là ṿng cưới,
Khiến mỗi tiên nhỏ thành vua!

Tiên hát vang ca,
Ta bật khỏi lá,
Vội nhảy khỏi cành,
Để bay thật xa.
Nhưng mắc trong vành mũ,
Giờ đây chẳng thể trốn đâu!

Cười đi, khóc đi,
Nhưng vẫn là bướm ta thôi!
Bởi ta đă rút,
Mũi kim trong ṿng cưới rồi!
 



THE RHINE WAS RED

The Rhine was red with humane blood,
The Danube roll'd a purple tide,
On the Euphrates Satan stood
And over Asia stretch'd his pride.

He wither'd up sweet Zion's Hill
From every Nation of the Earth;
He wither'd up Jerusalem's Gates
And in a dark Land gave her birth.

He wither'd up the Human Form
By laws of sacrifice for sin,
Till it became a Mortal Worm,
But O! translucent all within.

Spectre of Albion! warlike Fiend!
In clouds of blood and ruin roll'd,
I here reclaim thee as my own,
My Selfhood! Satan! arm'd in gold.

Is this thy soft Family-Love,
Thy cruel Patriarchal pride,
Planting the Family alone,
Destroying all the World beside?

A man's worst enemies are those
Of his own house and family;
And he who makes his law a curse,
By his own law shall surely die.

In my Exchanges every Land,
Shall walk, and mine in every Land,
Mutual shall build Jerusalem,
Both heart in heart and hand in hand.


SÔNG RHINE NHUỐM ĐỎ

Sông Rhine đỏ nhuộm máu người,
Sông Danube cuộn ḍng trôi tím bầm,
Bên Euphrates, quỷ Satan
Vươn niềm kiêu hănh khắp miền Á Đông.

Hắn làm Zion úa tàn,
Xóa đi mọi dấu nhân gian tụ về.
Hắn làm Jerusalem hoang,
Lưu đày đất tối tái sinh chốn này.

Hắn làm h́nh dáng con người
Héo ṃn trong luật hiến dâng tội đời,
Thành sâu bọ sống hẩm hiu,
Nhưng trong da thịt rực điều sáng trong.

Bóng h́nh Albion quỷ ma,
Lăn trong máu đổ, điêu tàn cuồng phong.
Này ta đ̣i lại ngươi về!
Chính ta! Satan! Lưỡi gươm bọc vàng.

Phải đây là ái gia đ́nh?
Là ḷng kiêu hănh hào quang phụ quyền?
Gieo mầm huyết thống riêng ḿnh,
Mà đành tàn sát cả miền nhân gian?

Kẻ thù tệ nhất đời ta,
Nào đâu xa lạ – chính nhà của ta!
Luật gieo thành lưới nghiệt oan,
Chính trong lưới đó, tự ḿnh diệt thân.

Mọi dân tộc đến chợ ta,
Cùng nhau giao đổi, mở ra cơi đời.
Cùng xây Jerusalem đây,
Tay cầm tay, giữa ḷng tay nhân từ.


THÂN TRỌNG SƠN
dịch và giới thiệu
Tháng 4 / 2025


Nguồn:

https://www.poemhunter.com/william-blake/
 


 

Trang Thân Trng Sơn

art2all.net