Thân Trng Sơn

 

JENNY GIÁNG SINH

Mary E Wilkins Freeman
( 1852 - 1930 )

Mary E Wilkins Freeman

 

          Mary Eleanor Wilkins Freeman là một tiểu thuyết gia và nhà văn truyện ngắn người Mỹ (tháng 10 năm 1852 – tháng 3 năm 1930). Phần lớn các tác phẩm của bà tập trung vào đời sống vùng New England, một chủ đề mà bà thể hiện vô cùng tinh tế và tuyệt mỹ trong truyện ngắn A New England Nun.

Bà được giáo dục tại Học viện Nữ sinh Mount Holyoke (nay là Mount Holyoke College) và đă sống phần lớn cuộc đời ở Massachusetts và Vermont. Bà sáng tác hơn hai chục truyện ngắn và tiểu thuyết, bao gồm hai tuyển tập truyện xuất sắc: A Humble Romance and Other Stories (1887) và A New England Nun and Other Stories (1891).

Bà là một nhà văn tuyệt vời, đáng được biết đến rộng răi hơn bởi độc giả hiện đại, và tôi khuyến khích bất kỳ ai đọc những ḍng này hăy dành thời gian khám phá toàn bộ tác phẩm của bà. Freeman viết với phạm vi rất rộng: bà sáng tác những câu chuyện thiếu nhi duyên dáng như The Christmas Masquerade; những bài thơ tinh nghịch trong Once Upon a Time and Other Child-Verses; truyện ma như Luella Miller — một truyện ám ảnh tôi suốt nhiều tuần sau khi đọc; và những tác phẩm mang chủ đề nữ quyền như A New England Nun. Tất cả những câu chuyện đó đều có chiều sâu! Bà là một nhà văn kiệt xuất, xứng đáng được độc giả ngày nay chú ư.

Tháng 4 năm 1926, Freeman được Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn học Hoa Kỳ vinh danh khi bà trở thành người đầu tiên nhận Huy chương William Dean Howells v́ những đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực văn học.

Mary E. Wilkins Freeman là nhà văn nổi tiếng trong việc khắc họa đời sống thôn quê New England với sự tinh tế, nhân văn và thấu hiểu sâu sắc những thân phận bé nhỏ. “Christmas Jenny” là một truyện ngắn giàu cảm xúc, xoay quanh nhân vật Jenny Wrayne – một cô gái sống đơn độc trên núi cùng một đứa bé câm điếc, nhưng lại toát lên tinh thần ấm áp, tử tế và hướng thiện. Câu chuyện không mang những cao trào kịch tính lớn, nhưng chứa đựng ư nghĩa sâu xa về ḷng nhân ái, sự kiên nhẫn, tự trọng, và cách những điều b́nh thường nhất có thể trở thành “ánh sao Giáng Sinh”.

Jenny hiện lên như h́nh ảnh một phụ nữ trẻ:
• sống trong nghèo khó,
• đảm nhận vai tṛ chăm sóc đứa bé câm điếc,
• duy tŕ một nếp sống giản dị và tự lực.

Điều đáng chú ư là Jenny không than phiền, không bi lụy. Bà Freeman xây dựng Jenny như một biểu tượng của sự an nhiên và nhân hậu, người luôn mở rộng cửa nhà và cửa ḷng với mọi người. Khi bà Carey bối rối v́ cơn “giận dỗi trẻ con” của ông Jonas, Jenny không trách móc, cũng không tỏ vẻ khó chịu, mà nhẹ nhàng:

“Come right into the house,” nói bằng một giọng “hearty” – đầy sự chân t́nh.

Thái độ của Jenny cho thấy sự bao dung hiếm thấy: Cô hiểu những điểm yếu của người khác, và không bao giờ phán xét. Chính điều này khiến ngôi nhà nghèo của cô trở thành nơi trú ẩn ấm áp trong ngày lễ.

Nhân vật ông Jonas Carey được miêu tả hài hước nhưng cũng đầy chua xót:

• ông là người già khó tính,
• dễ “giận” v́ những nguyên nhân nhỏ nhặt,
• mang tính khí thất thường.

Giày tuột dây ba lần khiến ông “ngồi ĺ trên tường”, không nói, không hợp tác. T́nh huống này vừa buồn cười, vừa thể hiện sự bất lực của tuổi già trước những điều nhỏ bé nhất.

Bà Carey – người vợ kiên nhẫn hết mực – trở thành h́nh ảnh của t́nh yêu thương bền bỉ.

Bà vừa xấu hổ, vừa thương chồng, vừa bất lực khi nói:

“Oh, Jonas, don’t you have a tantrum today…”

Vợ chồng Carey đại diện cho tính dễ tổn thương của con người, đặc biệt khi tuổi tác khiến ta nhỏ bé, dễ hờn dỗi như trẻ con. Trong khung cảnh tuyết trắng, đá lạnh, h́nh ảnh ông bà Carey lụm khụm gợi cảm giác về sự mong manh của kiếp người, và chính sự mong manh đó cần những trái tim như Jenny.


Bản chất của câu chuyện nằm ở chủ đề Giáng Sinh:
– không phải phép màu siêu nhiên
– mà là sức mạnh của ḷng tốt và sự chia sẻ.

Jenny không có nhiều, nhưng:
• nấu một con gà tây béo nhất,
• dùng bộ đồ sứ đẹp nhất của mẹ,
• chuẩn bị bữa tiệc đơn sơ nhưng đầy yêu thương.

Những thứ ấy tượng trưng cho phong tục tôn trọng những điều đẹp nhỏ nhoi của người dân New England – điều Mary Freeman thường ca ngợi.

Và quan trọng nhất, Jenny đă làm điều kỳ lạ mà không phép màu nào làm được: kéo ông Jonas ra khỏi cơn giận dỗi, chỉ bằng sự nhiệt t́nh b́nh dị.

Ông Jonas bước vào nhà, bỏ áo choàng, ngồi xuống với “sự trang nghiêm”, rồi mỉm cười lại với cậu bé câm điếc. Đó chính là phép mầu Giáng Sinh: một người đàn ông già và bướng bỉnh trở nên dịu dàng.

Chi tiết đẹp nhất của truyện là ngọn nến Jenny đặt bên cửa sổ, nhằm soi đường cho hai vợ chồng Carey xuống núi. Nhưng với người dưới làng, nó lại hiện lên như một “Christmas star”.

Ngọn nến vừa là:
• ánh sáng thực tế dẫn đường,
• vừa là ánh sáng biểu tượng – tinh thần Giáng Sinh.

Mary Freeman kết thúc bằng câu:

“It was Christmas Jenny’s candle, but it was also something more…and that was — a Christmas star.”

“Đúng là cây nến của Jenny Giáng Sinh, nhưng nó c̣n là một điều khác, và đó chính là: một ngôi sao Giáng Sinh.”

Sự “more” ấy chính là ánh sáng nội tâm của Jenny, của t́nh người trong một thế giới lạnh giá, nghèo nàn nhưng đầy ḷng tốt.

Ngọn nến nhỏ bé ấy soi rọi sự gắn bó giữa con người, và nhắc nhở rằng: Ḷng nhân ái của một người b́nh thường có thể trở thành ánh sao soi sáng cho cả cộng đồng.

“ Jenny Giáng sinh ” không chỉ là một truyện Giáng Sinh cảm động; đó là một tác phẩm phản ánh sâu sắc:

• sự đẹp đẽ của t́nh người,

• vai tṛ cứu rỗi của ḷng tử tế,

• những phép màu âm thầm trong cuộc sống thường nhật.

Mary E. Wilkins Freeman, bằng phong cách nhẹ nhàng và quan sát tinh tế, đă dựng lên một câu chuyện khiến người đọc nhận ra rằng:

Không phải sự giàu có hay hào nhoáng tạo nên Giáng Sinh, mà chính là tấm ḷng
ấm áp của những con người b́nh dị như Jenny.

 

 

          Ngày hôm trước trời đă mưa và tan tuyết, rồi trong đêm gió đột nhiên thổi từ phương bắc xuống, và trời trở nên lạnh buốt. Buổi sáng hôm sau trời trong vắt và rất lạnh, và một lớp băng cứng lấp lánh phủ lên mọi thứ. Lớp vỏ tuyết có một màng băng mỏng, khiến khắp những cánh đồng trống đều sáng lóa và lấp loáng. Các cành cây, thân cây, và cả những nhánh nhỏ đều được tráng men băng. Đường xá trơn và lấp lánh băng, sân trước nhà cũng vậy. Trong sân nhà ông Jonas Carey, con đường nhỏ dốc từ cửa ra giếng trông chẳng khác nào một ḍng suối đóng băng.

Sáng sớm tinh mơ, ông Jonas Carey già bước ra với một chiếc xô, rồi đi xuống con đường nhỏ dẫn tới giếng. Ông đi chậm răi, nặng nhọc, kéo lê chân để khỏi trượt ngă. Ông cao, gầy, và một bên thân dường như nghiêng về phía kia, v́ ông dồn sức lên một chân hơn; ông lại cứng khớp và khập khiễng v́ bệnh thấp khớp.

Ông đến được giếng an toàn, treo chiếc xô lên và bắt đầu bơm nước. Ông bơm chậm răi và đều đặn đến cực độ; trên khuôn mặt ông luôn hiện một vẻ nghiêm trang đờ đẫn, không hề thay đổi.

Khi đă bơm đầy xô, ông cẩn thận nhấc nó ra khỏi ṿi bơm và bắt đầu trở về nhà, vẫn kéo lê chân như trước. Khi c̣n cách cửa hai phần ba đoạn đường, ông tới một chỗ vô cùng trơn. Ngay đó, vài rễ cây từ một cây anh đào nhỏ vươn ngang qua lối đi, và băng phủ lên chúng tạo nên một điểm trượt nguy hiểm.

Ông Jonas trượt chân và ngồi phịch xuống; nước trong xô đổ hết. Cánh cửa nhà bật mở, một bà lăo xuất hiện.

“Ôi Jonas, ông có bị thương không?” Bà kêu lên, chớp mắt liên hồi, hoảng hốt giữa ánh sáng chói lóa.

Ông già không nói một lời. Ông vẫn ngồi yên, nh́n thẳng phía trước, mặt nghiêm như tượng.

“Ôi Jonas, ông có găy xương nào không thế?” Bà lăo vén váy, lách từng chút một xuống bậc cửa, chân run lẩy bẩy.

Rồi ông lăo cất giọng

“Ở yên đó.” ông nói, dứt khoát. “Quay vào nhà!”

Ông bắt đầu đứng dậy, từng khớp một, và bà lăo quay lại vào nhà, rồi nh́n ra từ cửa sổ.

Khi Jonas cuối cùng đứng lên được, nom ông như thể vừa phải ráp lại chính thân ḿnh, v́ ông đứng lên thật chậm, từng đoạn một. Ông lại đi đến giếng, treo xô dưới ṿi bơm và bơm đầy. Rồi ông lại bắt đầu quay về, cẩn thận hơn trước. Khi đến đoạn nguy hiểm, chân ông lại văng lên, ông ngồi xuống, và nước đổ tung toé.

Bà lăo lại hiện ra ở cửa; đôi mắt xanh nhạt mờ đục của bà mở to tṛn, cái cằm nhỏ xíu th́ trễ xuống.

“Ôi, Jonas!”

“Quay vào!” Ông quát, giật đầu ra dấu, và bà lại rút vào nhà. Lần này ông đứng dậy nhanh hơn, rồi lê chân khá nhanh về phía giếng.

Nhưng khi xô đầy lần nữa và ông trở lại, sự thận trọng của ông được nhân đôi. Ông gần như không c̣n di chuyển. Khi đến gần chỗ trơn trượt, tốc độ của ông gần như chỉ như một con sên đang ḅ. Sự nghỉ gần như lấn át cả chuyển động. Bà lăo trong cửa sổ nín thở nh́n.

Khi chỗ trơn chỉ c̣n cách một chút, bước chân ông nhanh lên chút xíu, rồi ông lại ngồi xuống, và chiếc xô thiếc kêu loảng xoảng trên băng.

Bà lăo lại hiện ra. “Ôi Jonas!”

Jonas không nh́n bà; ông ngồi bất động.

“Jonas, ông có đau không? Làm ơn nói ǵ đi cho tôi đỡ lo!” Giọng bà run run, sắp khóc. Jonas không động đậy.

Cuối cùng bà lăo cẩn thận bước xuống. Bà ngồi xổm trên đường băng giá và nhích từng chút một tới ông. Bà níu lấy tay ông:

“Jonas, ông không thấy xương nào găy chứ?”

Giọng bà gần như nức nở, cái thân h́nh bé nhỏ run lập cập.

 “Quay vào.” Jonas nói.

Đó là tất cả. Bao nhiêu năn nỉ van vỉ cũng chẳng lay chuyển ông. Rốt cuộc, bà lại nhích từng chút trở về nhà và đứng vào chỗ cũ bên cửa sổ. Thỉnh thoảng bà gơ nhẹ lên kính và ra hiệu đầy tuyệt vọng.

Nhưng ông Jonas Carey vẫn ngồi yên. Khuôn mặt nghiêm ngặt của ông không thể đọc nổi. Trên đầu ông, những cành anh đào phủ băng lấp lánh như vô số viên kim cương. Một con gơ kiến bay đến đậu trên thân cây và gơ vài nhát, nhưng lớp băng quá cứng nên nó chẳng kiếm được ǵ. Jonas ngồi im đến mức chẳng khiến nó để ư. Một con giẻ cùi đậu lên hàng rào ngay cạnh ông; một con sẻ mổ vào vài cọng cỏ dại xuyên khỏi lớp tuyết ngay bên cửa. Ở phía đông, ngọn núi hiện lên, phủ đầy lớp sương giá bạc, xanh và ánh kim cương. Không khí th́ buốt giá. Ông Jonas chẳng để tâm đến ǵ cả. Ông cứ ngồi đó.

Bà lăo lại chạy ra cửa.

“Ôi Jonas, ông sẽ bị cóng mất nếu cứ ngồi ĺ ở đó!” bà van nài. “Ông không dậy được sao? Ông không găy xương chứ?”

Jonas vẫn im lặng.

“Ôi Jonas, ḱa Jenny Giáng Sinh đang đi xuống đường — ông nghĩ bà ấy sẽ nghĩ ǵ đây?”

Ông Jonas Carey già không động ḷng, nhưng bà vợ th́ nh́n chăm chú người đàn bà đang tiến lại gần. Người đàn bà trông thật lạ từ xa: như một bụi cây xanh khổng lồ đang di chuyển; phía sau nàng cũng có một mảng xanh được kéo lê theo. Khi lại gần, người ta mới thấy nàng chất đầy những ṿng nguyệt quế xanh: đôi tay xâu đầy ṿng; những sợi thông ḅ trường được quấn quanh hai vai; nàng mang theo một cái giỏ tua tủa lá xanh, và trong đó c̣n có nhiều bó hoa bất tử rực rỡ. Nàng kéo một chiếc xe trượt tuyết, trên đó buộc một cây linh sam nhỏ. Nàng bước mạnh mẽ trên con đường trơn trượt.

Khi tới cổng nhà Carey, nàng dừng lại và nh́n sang Jonas.

“Ông ấy có bị thương không?” Nàng gọi sang bà lăo.

“Tôi không biết — ông ấy ngă ba lần rồi.”

Jenny mở cổng, đi thẳng đến chỗ Jonas. Nàng để chiếc xe trượt lại ngoài đường. Nàng cúi xuống, đưa cái giỏ ngang tầm đầu Jonas, rồi đẩy nhẹ ông bằng chiếc giỏ.

“Ông bị làm sao vậy?”

Jonas không chớp mắt.

“Ông không găy xương chứ?”

Jenny đứng nh́n ông một lúc. Nàng đội mũ trùm đen, khuôn mặt lớn, rám nắng đến sạm đen và ửng đỏ. Những đường nét mạnh mẽ mà thô khắc của nàng khiến người ta liên tưởng đến những gương mặt rừng già — như thể được khắc bằng những đường nhăn của vỏ cây và những mắt gỗ ló ra từ thân cây. Nàng không phải là người đàn bà già, nhưng tóc nàng th́ bạc sắt và xoăn chặt như rêu xám.

Cuối cùng, cô quay về phía ngôi nhà.

“Tôi vào nhà một lát,” cô nói với vợ Jonas, rồi tự tin bước lên những bậc thềm trơn băng.

“Đừng trượt ngă đấy,” bà lăo run rẩy nói.

“Tôi chẳng sợ trượt đâu.”

Vào trong nhà rồi, cô quay lại nói với bà Carey:

“Đừng loạn lên làm ǵ, ông ấy đâu có bị thương.”

“Ừ, tôi cũng đoán thế. Chỉ là một trong mấy cái cơn giở chứng của ông ấy thôi. Nhưng nhiều lúc tôi chẳng biết phải làm sao. Ôi trời đất ơi, có lúc tôi chẳng biết xử thế nào với ông ấy cả!”

“Mặc kệ ông ấy — cứ để ông ấy ngồi ngoài đó.”

“Nhưng ông ấy làm đổ hết nước rồi, tôi sợ ông ấy… cóng mất. Ôi trời!”

“Kệ ông ấy cóng! Bà đừng làm rối lên nữa, Betsey.”

“Tôi đang định đi làm bữa sáng. Bà Gill gửi cho chúng tôi hai cái bánh xúc xích. Tôi định chiên chúng, rồi mới nhờ ông ấy ra lấy một xô nước để đổ thêm vào ấm trà. Ôi trời!”

Jenny đặt giỏ vào một chiếc ghế, sải bước dứt khoát ra khỏi nhà, nhặt cái xô thiếc nằm lăn bên cạnh Jonas, múc đầy nước ở giếng rồi mang vào. Nàng hoàn toàn phớt lờ ông già. Khi nàng bước vào cửa, đôi mắt Jonas thôi nh́n đăm đăm vào khoảng không, liếc nhanh theo nàng.

“Giờ th́ đổ nước vào ấm, rồi chiên xúc xích đi,” nàng bảo bà Carey.

“Ôi, tôi sợ ông ấy sẽ không chịu vào, rồi xúc xích nguội mất! Nhiều lúc ông ấy giở chứng rất lâu. Bà xem đấy, ông ấy ngồi phịch xuống ba lần, và ông ấy đang giận lắm.”

“Tôi không hiểu ông ấy nghĩ đang giận ai.”

“Tôi cũng không biết, trừ khi… ông ấy giận Trời.”

“Tôi đoán Trời chẳng bận tâm xem ông ấy ngồi đâu đâu.”

“Ôi Jenny, tôi sợ ông ấy bị cóng ngoài đó quá.”

“Không đâu. Chiên xúc xích đi.”

Bà Jonas bắt đầu lấy chảo ra, vừa làm vừa ŕ rầm than thở.

“Ông ấy mê xúc xích lắm,” bà nói, khi mùi thơm của xúc xích bắt đầu lan trong pḥng.

“Ông ấy sẽ ngửi thấy và vào thôi,” Jenny nói khô khan. “Ông ấy biết chỉ có hai cái bánh thôi, và sẽ sợ bà cho tôi một cái.”

Nàng nói đúng. Chẳng lâu sau, hai người đàn bà lén nh́n qua cửa sổ, thấy ông Jonas đang nhọc nhằn đứng dậy.

“Đừng nói ǵ khi ông ấy vào nhé,” Jenny th́ thầm.

Khi ông già bước lộc cộc vào bếp, cả hai người đàn bà đều làm như không trông thấy. Vợ ông lật miếng xúc xích, c̣n Jenny th́ thu gom ṿng hoa. Jonas khụm xuống một chiếc ghế, nh́n họ đầy lo lắng.

Jenny đặt ṿng hoa xuống.

“Cô ở lại ăn sáng chứ?” Jonas hỏi.

“À, tôi chưa biết,” Jenny đáp. “Mùi xúc xích thơm thật đấy.”

Bao nhiêu vẻ nghiêm nghị của Jonas tan biến; ông trông vừa ngượng vừa bối rối.

“Cô bỏ mũ ra đi, Jenny,” Betsey giục. “Tôi cũng không thích xúc xích lắm, tôi sẵn ḷng nhường cô cái phần của tôi.”

Jenny bật cười thoải mái, rồi lại cầm ṿng hoa lên.

“Trời ơi, tôi không thèm bánh xúc xích của bà đâu,” Nàng nói. “Tôi ăn sáng rồi. Tôi c̣n phải xuống làng bán ṿng hoa nữa.”

Mặt Jonas sáng lên.

“Hôm nay đẹp trời nhỉ?” ông vui vẻ hỏi.

Jenny trở nên nghiêm lại.

“Tôi chẳng thấy đẹp ǵ cả; nếu ông là chim gơ kiến hay chim giẻ cùi th́ ông cũng sẽ chẳng thấy đẹp đâu.”

Jonas nh́n nàng, ngơ ngác đầy ngu dốt.

"Chúng chẳng kiếm được chút ǵ ăn sáng đâu,” Jenny nói. “Chúng không thể mổ được lớp băng bám trên cây. Chúng sẽ chết đói mất nếu trời không tan băng sớm. Tôi phải xuống cửa hàng mua cho chúng chút ǵ. Tôi sẽ cho vài con ăn. Tôi không thể để chúng chết ngay trước sân nhà nếu c̣n cứu được. Sáng nay tôi đă cho chúng hết phần có thể chia từ lũ chim của tôi rồi.”

“Thật tệ quá, phải không?”

“Tôi thấy tệ thật. Tôi đă định mua cho ḿnh một bộ váy vải calico mới nếu đợt băng giá này không kéo đến, nhưng giờ th́ chịu. Tiền mua váy có thể cứu sống được kha khá sinh mạng. Thôi, tôi phải đi nhanh nếu c̣n muốn về kịp hôm nay.”

Jenny, với những chùm lá xanh đung đưa quanh người, phải lách ḿnh mới lọt qua được cánh cửa hẹp. Nàng đi thẳng xuống làng, lần lượt bán hàng từ nhà này sang nhà khác. Nàng có những khách quen cố định. Năm nào cũng vậy, tuần trước Giáng Sinh, nàng từ trên núi xuống mang theo những bó cây xanh. Người ta thường nghĩ nàng kiếm được kha khá nhờ việc đó. Mùa hè th́ nàng bán rau, nhưng việc buôn bán cây xanh vào dịp Giáng Sinh mới được xem là nghề thật sự của nàng – nó cũng là lư do cái tên “Christmas Jenny” ra đời trong mắt dân làng. Tuy nhiên, cái tên kỳ lạ ấy cũng có thể xuất phát từ tính cách khác thường của Jenny. Người ta cũng xem nàng hơi “kỳ dị”, dù chẳng ai nghi ngờ sự tỉnh táo của nàng. Thuở trẻ, nàng từng trải qua một mối t́nh bất hạnh, mà người ta cho rằng đă nhuốm màu lạ lẫm lên cả cuộc đời nàng. “Hơi rồ v́ yêu,” người ta gọi nàng như thế.

“Christmas Jenny kiểu như bị t́nh làm cho rồ,” họ nói. Nàng vẫn là Christmas Jenny ngay giữa mùa hè, khi từ núi xuống với đầy ắp đậu Hà Lan, đậu que và bí mùa hè.

Nàng sở hữu một căn nhà nhỏ và vài mẫu đất trống trên núi, và bằng cách này hay cách khác, nàng kiếm đủ sống. Đến trưa hôm đó, nàng đă bán hết số cây xanh, rồi bắt đầu men theo con đường núi để trở về. Nàng mua được một ít nhu yếu phẩm, đựng trong chiếc giỏ từng chứa những bó hoa bất tử, hoa bù giấy và cỏ khô.

Con đường chạy men theo chân núi. Nàng phải đi khoảng một dặm, rồi rẽ vào lối xe ḅ dẫn lên khoảng đất trống nơi căn nhà của nàng tọa lạc.

Sau khi đi qua nhà Jonas Carey, không c̣n căn nhà hay bóng người nào nữa, nhưng nàng gặp nhiều sinh vật quen thuộc. Một chú chuột đồng nhỏ đang rón rén lách từ chỗ nấp này sang chỗ nấp khác, đề pḥng kẻ thù, và Jenny Wrayne nh́n nó với ánh mắt cảm thông. Nàng quay đầu khi nghe tiếng quạ lam kêu, và thấy một tia xanh hiện lên giữa những cành cây trắng xóa v́ tuyết. Nàng nh́n bằng cặp mắt chia sẻ khi thấy một con gơ kiến đang gơ liên hồi lên thân cây bị băng phủ. Thỉnh thoảng, nàng rải – rất dè sẻn – vài hạt và vụn bánh từ gói hàng của ḿnh.

Tại điểm nàng rẽ khỏi đường chính vào lối xe ḅ, có một khoảng trống trong rừng, và từ đó có thể nh́n xuống ngôi làng phía dưới. Nàng dừng lại nh́n. Đó là một ngôi làng khá lớn; bên trên treo như chiếc lưới dày những nhành cây phủ sương giá; khói từ ống khói bay thẳng lên trời. Dưới kia, trên con đường làng, một cô gái và một chàng trai đang đi bộ và nói chuyện về nàng, nhưng Jenny không hề biết.

Cô gái ấy là con gái vị mục sư. Cô vừa mới đính hôn với chàng trai, và đang đi cùng anh giữa ban ngày với thứ niềm kiêu hănh hơi mắc cỡ. Hễ gặp ai, cô đỏ mặt, nhưng đồng thời lại ngẩng cao đầu và đưa tay vung vẩy đầy vẻ tự tin. Cô nói huyên thuyên, giọng khá to, để che đi sự bối rối của ḿnh.

“Đúng vậy,” cô nói bằng giọng trong trẻo, ngọt như mía lùi, “Christmas Jenny vừa đến nhà tôi, và chúng tôi đă mua vài ṿng hoa. Chúng tôi sẽ treo chúng ở tất cả các cửa sổ phía trước. Mẹ tôi không chắc có nên mua của bà ấy không, v́ người ta đồn nhiều quá, nhưng riêng tôi th́ không tin chút nào.”

“Đồn ǵ vậy?” chàng trai hỏi. Anh đứng thẳng tắp, không quay đầu, nhưng thỉnh thoảng liếc nhanh sang gương mặt ửng hồng của cô gái.

“Ủa, anh không biết sao? Chuyện cả thị trấn nói đó. Người ta bảo bà ấy nuôi một đống chim chóc, thỏ và các con vật khác trong lồng, mà lại để chúng đói; rồi c̣n cậu bé câm điếc ấy nữa — họ nói bà đối xử rất tệ với thằng bé. Họ sắp điều tra đấy. Ba tôi và phó tế Little sẽ lên đó trong tuần này.”

“Vậy sao?” chàng trai đáp. Anh đang lắng nghe giọng cô gái với vẻ say đắm, nhưng thực ra chẳng mấy để ư đến nội dung.

Họ đi và đối mặt trực tiếp ngọn núi.

 

Chỉ ngày hôm sau, vị mục sư và phó tế Little đă lên đường đến thăm. Họ làm một đàn chim sẻ đang ăn trước cửa Jenny bay tán loạn; nhưng lũ chim chẳng bay xa, mà đậu lên cây gần đó và quan sát. Căn nhà của Jenny chỉ là một túp lều phong sương, nhưng có giàn nho ở một góc và sân trước th́ sạch sẽ. Trước nhà là một cây thông cao. Phía sau và bên phải là tàn tích khu vườn hè năm ngoái của Jenny, đầy những đường luống và gốc ngô óng lên dưới nắng rét.

Jenny không có nhà. Vị mục sư gơ cửa nhưng không ai đáp. Cuối cùng ông nhấc then cửa, và hai người bước vào. Căn pḥng tối hơn hẳn so với ánh sáng rực rỡ bên ngoài; lúc đầu họ chẳng thấy ǵ, nhưng nghe rơ tiếng chíu chít, kêu rít, và líu ríu thích thú của những sinh vật bị kích động bởi sự xuất hiện của họ.

Được một lúc, một gương mặt nhỏ xinh, hồng hào hiện ra từ góc tối bên ḷ sưởi. Gương mặt ấy nh́n họ không sợ hăi hay ngạc nhiên, chỉ với vẻ thiện cảm ngây thơ.

“Đó là thằng bé câm điếc,” vị mục sư nói nhỏ. Ông là người đàn ông già, vai hẹp, mặc bộ đồ đen dài và nhăn nheo. Phó tế Little th́ đứng thẳng người với dáng vóc gân guốc, cao đến nỗi đầu ông gần chạm trần thấp. Mặt ông vàng vọt, hằn những nếp nhăn nghiêm nghị, nhưng đường nét th́ đẹp.

Cả hai đứng đó, nh́n xoáy vào thằng bé câm điếc, đứa trẻ đang ngước lên họ với vẻ ngạc nhiên lẫn thích thú. Thằng bé mặc như con gái, trong chiếc yếm xanh dài. Nó ngồi giữa đống cành xanh, đang bện chúng thành các ṿng hoa; mái tóc mỏng, mềm và vàng nhạt của nó ẩm ướt, ép sát và uốn thành h́nh lưỡi ṣ rất đều trên trán trắng đầy đặn.

“Trông nó có vẻ được chăm sóc tốt,” phó tế Little nói. Cả hai đều nói nhỏ — khó mà tin rằng đứa trẻ không nghe thấy, nhất là khi mỗi lần môi họ động đậy, nụ cười của nó lại sáng hơn. Nó hoàn toàn không sợ hăi.

Họ đi quanh pḥng một cách hơi áy náy, xem xét mọi thứ. Căn pḥng khác hẳn tất cả những nơi họ từng thấy. Nó có vẻ như một góc rừng thu nhỏ; ở đây đó là từng đống lá xanh, một vài cây nhỏ dựa vào vách. Khắp tường và trên những kệ gỗ thô sơ là những cái lồng nhỏ và chuồng gỗ, nơi phát ra những tiếng líu ríu, chíu chít. Chúng chứa những con chim nhỏ và thỏ và chuột đồng. Lũ chim xơ xác, đầu cúi gục; một con thỏ th́ bị thương ở chân; một con chuột đồng gần như sắp chết. Hai người nh́n chúng, ánh mắt nghiêm khắc. Vị mục sư thở dài; gương mặt đẹp nhưng cứng cỏi của phó tế càng thêm lạnh lùng. Nhưng họ không nói ǵ, v́ thằng bé câm điếc cứ nh́n họ bằng đôi mắt xanh hiền lành, không rời.

Khi họ đi một ṿng quanh pḥng và trở lại bên ḷ sưởi, thằng bé bỗng cất tiếng kêu. Âm thanh hoang dại, vô nghĩa, nhưng không hoàn toàn lạc điệu, và dường như mang một ư nghĩa riêng. Tiếng kêu ấy ḥa cùng tiếng những sinh vật tội nghiệp trong lồng — như một lời van xin mềm yếu nhưng tha thiết gửi đến hai người khách — nhưng họ không hiểu được.

Họ đứng nghiêm nghị và bối rối bên ḷ sưởi.

“Chúng ta có nên chờ bà ấy về không?” vị mục sư hỏi.

Tôi không biết,” ông trưởng lăo Little nói.

Sau lưng họ là chiếc bệ ḷ sưởi cao. Trên đó có một cái đồng hồ, một chân nến, và những bó hoa khô rực rỡ được xếp ngay ngắn — tất cả đều sẵn sàng để Jenny cho vào giỏ mang đi bán.

Bỗng có tiếng sột soạt nhanh trên lớp tuyết đóng vảy bên ngoài, cánh cửa bật mở, và vợ của Jonas Carey bước vào. Bà trùm chiếc khăn choàng qua đầu, thở hổn hển v́ mệt.

Bà đứng trước hai người đàn ông, và bỗng nhiên một lớp vỏ khách sáo rụt rè phủ lên thái độ của bà.

“Chào buổi chiều,” bà đáp lại lời chào của họ.

Bà nh́n họ một lúc, cài chặt lại chiếc ghim khăn choàng; rồi sự g̣ bó ấy biến mất.

“Tôi biết là các ông ở đây,” bà kêu lên bằng giọng yếu nhưng đầy quả quyết.

“Tôi biết mà. Tôi nghe người ta nói. Tôi biết thế nào cũng có kẻ lên đây ŕnh ṃ nó. Hôm nọ tôi ở nhà bà Gregg, chồng bà ấy đi từ cửa hàng về; ông ấy bảo người ta đang bàn chuyện về Jenny, nói rằng nó không đối xử tốt với thằng Willy với bầy chim, và cả thị trấn sắp đến xem xét. Tôi biết các ông sẽ lên đây khi thấy các ông đi ngang. Tôi bảo với Jonas thế. Tôi cũng biết nó không có ở nhà, và trong nhà chẳng có ǵ biết nói để mà bênh nó, nên tôi bảo Jonas tôi phải lên đây. Tôi không thể chịu nổi chuyện này.”

“Đường trơn khủng khiếp. Có chỗ tôi phải ḅ bằng tay và đầu gối, và tôi đă ngồi bệt xuống hai lần, nhưng tôi mặc kệ. Tôi sẽ không để các ông lên đây ŕnh ṃ Jenny, trong khi không có ai ở nhà có cái lưỡi để nói đỡ cho nó.”

Bà Carey đứng trước họ như một con chim bé nhỏ xù lông, vừa sợ chính sự táo bạo của ḿnh, vừa dọa dẫm họ. Cả người bà run lên bần bật, nhưng đôi mắt xanh nhạt lại ánh lên một vẻ dữ dội.

Mục sư bắt đầu lẩm bẩm vài lời xoa dịu, nhưng ông trưởng lăo đă át đi.

“Bà có thể nói đỡ cho nó bao nhiêu tùy ư, bà Carey,” ông nói. “Chúng tôi không phản đối ǵ việc nghe cả. Và chúng tôi cũng không biết nó không có ở nhà. Bà có biết nó làm ǵ với mấy con chim và mấy thứ này không?”

“Làm ǵ ư? Vậy để tôi nói cho mà nghe. Nó nhặt chúng trong rừng khi chúng đang đói khát, lạnh cóng và gần chết, rồi mang về đây chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chúng khỏe lại, rồi thả chúng đi. Đó là việc nó làm. Thấy con thỏ kia không? Nó mắc bẫy đấy. Có ai đó muốn giết con vật tội nghiệp ấy. Thấy con chim cổ đỏ kia không? Có kẻ bắn nó, găy cánh.”

“Đó, việc của nó là thế. Tôi chẳng biết, nhưng tôi nghĩ việc đó cũng chừng như gửi tiền cho giáo sĩ truyền giáo. Tôi nghĩ làm nhà truyền giáo cho chim cổ đỏ, chim sẻ đói, với mấy đứa trẻ câm điếc cũng tốt như khối thứ khác — và đó chính là điều nó đang làm.”

“Tôi chẳng sợ ǵ mà không nói hết. Tôi sẽ kể toàn bộ. Tôi chẳng hiểu sao người ta lại nói về nó như thế. Nó đem thằng nhỏ câm điếc ấy từ trại tế bần về. Chẳng ai muốn nó cả. Nh́n qua th́ nó có vẻ chẳng bị đối xử tệ bạc ǵ. Jenny giữ cho nó gọn gàng, sạch sẽ hết sức. Nó với bầy chim đều được ăn uống đủ cả — nếu thiếu th́ là Jenny thiếu, chứ không phải tụi nó.”

“Tôi biết rơ chứ. Nó th́ không có một cái váy vải hoa mới, để dành tiền mua đồ ăn cho mấy con chim không thể bám lên cây v́ băng bám đầy trên đó.”

“Đừng nói với tôi. Khi Jonas nhà tôi lên cơn, chỉ có nó mới làm ổng dịu lại nhanh như vậy. Tôi sẽ không để người ta nói xấu và ŕnh ṃ nó, nếu tôi c̣n ngăn được. Họ bảo nó bị ‘t́nh cảm làm cho ngẩn ngơ’. Hừm, tôi chẳng biết họ gọi ‘love-cracked’ ( t́nh yêu rạn nứt ) là cái ǵ. Tôi chỉ biết tay Anderson bỏ đi lấy vợ khác, trong khi Jenny đă chắc mẩm sẽ cưới hắn. Hắn đáng bị treo cổ! Nhưng tôi biết một điều — nếu nó có bị vấp ngă khỏi con đường yêu đương thông thường, th́ giờ nó đang đi trên một con đường khác, đầy những đứa nhỏ câm điếc, chim sẻ đói và thỏ què, và nó chẳng hề bị ‘love-cracked’ hơn ai hết.”

Bà Carey, bị cuốn đi bởi t́nh thương và giận dữ, gần như nói thành thơ. Khuôn mặt nhỏ nhắn của bà ửng hồng, đôi mắt xanh bừng sáng, bà vung tay dưới chiếc khăn choàng. Người đàn bà nhỏ nhẹ ấy biến thành một kẻ cuồng nhiệt thực thụ.

Hai người đàn ông nh́n nhau. Gương mặt khắc khổ của ông trưởng lăo vẫn nghiêm nghị như thường, nhưng ông đợi mục sư lên tiếng. Khi mục sư cất lời, giọng ông đầy vẻ xin lỗi. Ông là người hiền lành, và trưởng lăo là tiếng nói của ông trong những chuyện kỷ luật giáo xứ. Nếu trưởng lăo không giúp, ông sẽ để lộ cái sự mềm yếu của ḿnh. Ông bảo bà Carey rằng ông tin mọi chuyện đều đúng như bà nói; ông xin lỗi v́ sự có mặt của họ; ông khen ngợi Jenny Giáng Sinh.

Rồi ông và trưởng lăo rút lui. Họ biết ơn khi rời khỏi người đàn bà nhỏ biết căi vả ầm ĩ đến vậy, người như đang tự kéo ḿnh lên bằng sự nhiệt thành đến mức bà vượt khỏi tầm của họ và trở nên lạ lùng đến đáng sợ. Thật vậy, mọi thứ vượt khỏi lối ṃn quen thuộc đều là nỗi kinh hoàng đối với những người đàn ông này, và đối với nhiều người trong làng. Những bóng tối lạ lùng mà mắt họ không xuyên được phủ lên những kẻ như thế, và họ trở nên nghi ngờ. Ư kiến chung chống lại Jenny Wrayne bắt nguồn từ chính đặc tính ấy — một tàn dư của mê tín phù thủy New England xa xưa.

Xét về bản chất, dù chính họ cũng không tự nhận ra, cuộc điều tra này thực chất là một cuộc săn phù thủy đi lên sườn núi chiều tháng Chạp hôm ấy.

Họ hầu như không nói ǵ trên đường về. Một lần, mục sư quay sang trưởng lăo.

“Tôi nghĩ chắc không cần phải can thiệp ǵ đâu,” ông nói, có phần ngập ngừng.

“Tôi đoán là không cần,” trưởng lăo đáp.

Trưởng lăo lại nói khi họ gần đến nhà ông.

“Tôi nghĩ tôi sẽ gửi cho nó chút ǵ đó vào dịp Giáng Sinh,” ông bảo. Trưởng lăo Little là một người giàu có.

“Có lẽ đó cũng là ư hay,” mục sư đáp. “Tôi sẽ xem tôi có thể làm được ǵ.”

 

Giáng Sinh chỉ c̣n một tuần.

Sáng Giáng Sinh, ông già Jonas Carey và vợ, ăn vận chỉnh tề nhất có thể, đi lên con đường núi đến nhà Jenny Wrayne. Jonas khoác chiếc áo choàng dày, và quàng khăn len của vợ hai ṿng quanh cổ. Bà Carey th́ khoác chiếc khăn choàng dài và đội chiếc mũ đẹp nhất. Hai vợ chồng đi khá dễ dàng. Băng đă tan; hôm trước tuyết rơi nhẹ nhưng không sâu tới mắt cá chân. Trên tuyết là vô số dấu chân nhỏ của bạn bè Jenny — chim chóc, chuột đồng và thỏ rừng — in thành những đường ngoằn ngoèo xinh xắn.

Họ bước đi thoải mái cho đến khi đến đường xe thồ th́ dây giày của Jonas lỏng ra, khiến ông vấp. Ông cúi xuống, buộc lại một cách khó nhọc; rồi tiếp tục đi. Chẳng bao lâu sau ông lại dừng. Vợ ông quay lại nh́n.

“Sao vậy?” bà hỏi.

“Dây giày tuột,” Jonas đáp bằng giọng lầm bầm khó nghe.

“Ông có muốn tôi buộc cho không, Jonas?”

Jonas không trả lời ǵ thêm; ông buộc dây giày với vẻ bực tức.

Họ đă nh́n thấy nhà Jenny th́ ông lại dừng và ngồi xuống bức tường đá bên đường.

“Ôi Jonas, sao vậy?”

Jonas không trả lời. Bà đến gần và thấy dây giày lại tuột lần nữa.

“Ôi Jonas, để tôi buộc cho. Tôi làm cũng được mà. Để tôi buộc nhé, Jonas?”

Jonas ngồi đó giữa những bụi mâm xôi phủ tuyết, nh́n thẳng phía trước với ánh mắt đờ đẫn.

Vợ ông bắt đầu khóc.

“Ôi Jonas,” bà năn nỉ, “đừng lên cơn hôm nay. Để tôi buộc cho nhé? Tôi sẽ buộc thật chặt, sẽ không tuột nữa đâu. Ôi Jonas!” Bà già nhỏ bé xoay quanh ông như một con chim cái lo lắng quanh con trống. Jenny Wrayne mở cửa nh́n ra, rồi đi xuống lối ṃn.

“Có chuyện ǵ vậy?” nàng hỏi.

“Ôi Jenny, tôi không biết làm sao. Ông ấy lại lên… cơn nữa.”

“Ông ấy bị ngă à?”

“Không; không phải thế. Dây giày tuột ba lần, mà ông ấy tức quá nên ngồi đại xuống tường. Tôi e ông ấy sẽ ngồi ở đó cả ngày mất. Trời ơi, đến gần nhà cô rồi, tôi tưởng chúng tôi đi được êm đẹp. Tôi muốn buộc cho ông ấy, mà ông ấy không chịu, tôi cũng không dám, lúc ông ấy ngồi ĺ ra như thế. Ôi Jonas, để tôi buộc cho nhé? Tôi sẽ buộc thật đẹp và thật chặt.”

Jenny nắm lấy tay bà.

“Vào nhà ngay đi,” nàng nói mạnh mẽ. Nàng cố t́nh quay lưng lại phía Jonas.

“Ôi Jenny, tôi không thể vào mà để ông ấy ngồi ngoài đó. Biết đâu ông ấy ngồi cả ngày. Cô không biết đâu — có lúc tôi phải đứng tranh luận hàng giờ mới khiến ông ấy chịu đứng dậy.”

“Vào ngay đi. Con gà tây sắp chín rồi, chúng ta sẽ ăn ngay thôi. Tôi chưa từng thấy con nào béo như thế. Tôi không biết trưởng lăo Little kiếm nó ở đâu. Bánh pudding mận làm xong rồi, rau củ cũng gần được. Bà vào đi, chưa tới nửa tiếng nữa là ăn được.”

Sau khi hai người phụ nữ vào nhà, bóng người trên tường liếc bất an về phía ngôi nhà mà không quay đầu. Ông ngửi ngửi.

Quả thật, ông ngửi thấy mùi gà tây quay và mùi củ cải, hành tây bay ra đến tận đây.

Trong nhà, bà Carey cởi mũ và khăn, đặt lên giường nhỏ trong pḥng ngủ của Jenny. Một món quà Giáng Sinh — chiếc váy vải hoa mới mà Jenny nhận tối hôm trước — cũng nằm trên giường. Jenny tự hào khoe:

“Đúng cái màu nâu socola mà tôi thích. Không biết sao họ lại nghĩ ra được.”

“Đẹp lắm,” bà Carey nói.

Bà không kể cho Jenny về những người đă đến kiểm tra, nhưng việc giữ bí mật khiến mặt bà có nét ǵ đó lạ lạ. Jenny không để ư. Nàng tất bật chuẩn bị bữa trưa. Bếp đầy nồi đang bốc hơi; con gà tây trong ḷ xèo xèo. Cậu bé câm điếc ngồi trong góc ḷ sưởi, hít hà thật sâu. Cậu nh́n Jenny, nh́n bếp với vẻ say mê, rồi lại xem xét đống kho báu trên ḷng ḿnh — sách tranh, thiệp, kẹo, cam — tất cả được ôm chặt trong chiếc tạp dề. Những sinh vật nhỏ bị nhốt hót líu lo, mổ thức ăn. Jenny dọn bàn bằng khăn trải đẹp nhất và bộ bát đĩa hoa của mẹ cô. Dù nhà nghèo, nhưng người nông dân miền núi — ḍng họ của Jenny — vẫn luôn giữ chút tươm tất và phẩm cách: bữa Giáng Sinh phải có khăn trải và bộ sứ.

Bà Carey cứ lo nh́n ra cửa sổ xem chồng ḿnh.

“Nếu muốn ông ấy vào th́ bà tránh xa cửa sổ ra,” Jenny nói; bà Carey bèn ngồi xuống bên bếp.

Chẳng bao lâu, cửa mở, và Jonas bước vào. Jenny đang cúi bên nồi khoai và không quay lại.

“Bà có thể để áo choàng của ông ấy lên giường, nếu thích,” nàng nói.

Jonas cởi áo, ngồi xuống nghiêm nghị: dây giày của ông đă được buộc gọn gàng và chắc chắn. Một lúc sau, ông nh́n sang cậu bé câm điếc đang cười với ḿnh; ông cũng mỉm cười đáp lại.

Vợ chồng Carey ở đến tối. Jenny đặt cây nến vào cửa sổ để soi đường cho họ xuống lối ṃn. Dưới làng, con gái mục sư và người yêu đang đi đến nhà thờ xem cây thông Giáng Sinh. Trời tối hẳn. Cô gái bám chặt cánh tay anh, đôi lúc má hồng lướt nhẹ lên tay áo anh. Trên trời các v́ sao đă mọc, rồi lại thêm nhiều sao nữa. Một ngôi sao dường như vụt sáng bên sườn núi tối.

“Đó là cây nến của Jenny Giáng Sinh,” cô gái nói.

Và đúng là cây nến của Jenny Giáng Sinh, nhưng nó c̣n là một điều khác. Như mọi thứ b́nh thường khác, nó tự có — và tự là — một bài thơ của riêng nó, và đó chính là: một ngôi sao Giáng Sinh.


THÂN TRỌNG SƠN
Dịch và giới thiệu
Tháng 12 / 2025

 

Nguồn:
https://americanliterature.com/author/mary-e-wilkins-freeman/short-story/christmas-jenny




 

art2all.net