Thân Trng Sơn

 

CÁI TỦ


(Guy de Maupassant)
( 1850 - 1893 )

 

 

          Tên thật là Henri René Guy de Maupassant, sinh ra trong một gia đ́nh quư tộc bị phá sản. V́ cha mẹ bất hoà, ngay từ nhỏ Maupassant theo mẹ về sống tại Étretat, vùng quê cạnh biển, lớn lên trong t́nh yêu thiên nhiên. Khi tṛn 13 tuổi, Maupassant được gởi đến học một trường ḍng tại Yvetot nhưng vốn hiếu động và đa cảm, Maupassant tỏ ra không thích nghi với kỷ luật nghiêm khắc của nhà trường: trong giờ học thường hay vẽ viết bậy trên giấy và làm đầu têu nhiều tṛ nghịch ngợm. Bị đuổi học, Maupassant được gởi đến học ở trường trung học tại Rouen, rồi trường luật ở Caen.

Năm 20 tuổi, ông nhập ngũ, tham gia cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (1870-1871 ). Sau đó ông làm viên chức ở Bộ Hải quân (1873) rồi Bộ Giáo dục (1878 ).

Được sự d́u dắt tận t́nh của nhà văn Gustave Flaubert, một người bạn thân của mẹ ông, năm 1873, Maupassant bắt đầu viết văn. Nhưng măi đến năm 1880, ông mới thực sự nổi tiếng với truyện ngắn Boule de suif, với bối cảnh cuộc chiến tranh Pháp - Phổ, trong đó, ông kịch liệt châm biếm, đả kích bọn quư tộc hèn nhát, bạc nhược, không hề tỏ ra chút dũng khí nào trước kẻ thù. Bên cạnh những người thuộc tầng lớp thượng lưu, nhân vật cô gái điếm, biệt danh là Boule de suif, lại tỏ ra lương thiện và tử tế nhất. ( Truyện này, khoảng 40 trang, đă được dịch sang tiếng Việt với nhan đề " Viên mỡ ḅ ". Trước đây, Nguyễn Hiến Lê dịch là Thùng nước lèo. ) Thành công lớn của tác phẩm này khiến ông quyết định từ bỏ cuộc sống viên chức và chuyển hẳn sang nghề viết văn. Ông cộng tác với nhiều tờ báo ( Le Figaro, Gil Blas, Le Gaulois, l'Écho de Paris... ) và kư nhiều bút danh khác nhau.

Văn nghiệp của ông chỉ vẻn vẹn mười năm ( 1881-1890 ) nhưng ông cũng để lại cho đời trên 300 truyện ngắn, 6 tiểu thuyết, 3 tập kư sự du lịch và một tuyển tập thơ.

Về tiểu thuyết, ông thành công nhất với tác phẩm Une vie ( Một cuộc đời ) mà ông đă bỏ ra 6 năm để hoàn thành (1883). Trong ṿng một năm, tác phẩm đă phát hành được 25 ngàn bản và Lev Tolstoy không tiếc lời ca ngợi: " Đây là tác phẩm lớn nhất của văn học Pháp, sau Những kẻ khốn cùng. (1) ".

Đề tài trong các truyện ngắn của Maupassant rất phong phú, đa dạng, gắn liền với cuộc sống thường ngày của tầng lớp trung lưu và hạ lưu của xă hội đương thời. Maupassant là một trong những bậc thầy của thể loại truyện ngắn. Các tác phẩm của ông thể hiện tài quan sát chính xác, đi sâu vào bản chất sự vật, và nghệ thuật chọn lựa chi tiết điển h́nh làm nổi bật tâm lư và tính cách của nhân vật. Tất cả nội dung đó được diễn đạt bằng ng̣i bút trong sáng, giản dị, tự nhiên, súc tích.

Những năm cuối đời, Maupassant mắc bệnh thần kinh, luôn bị ám ảnh bởi sự cô đơn và cái chết. Người đọc theo dơi các tác phẩm của Maupassant sẽ nhận ra rằng từ năm 1883, ông đă viết nhiều truyện ngắn về đề tài cái chết, hoặc liên quan đến cái chết: Auprès d'un mort ( Bên một người chết ), Suicide ( Tự sát ), Lettre trouvée sur un noyé ( Bức thư t́m thấy ở người chết đuối ), La tombe ( Ngôi mộ ), La morte ( Người đă khuất ), Le Noyė ( Người chết đuối ), Le condamnė à mort ( Người bị kết án tử h́nh ) ...

Bệnh t́nh ngày càng trầm trọng, ông đă có lần tự sát nhưng không chết. Sau 18 tháng hầu như hôn mê hoàn toàn, năm 1893, ông từ trần trong một dưỡng trí viện ở Paris.

(1) Les misérables, tác phẩm của Victor Hugo.

Guy de Maupassant là nhà văn Pháp nổi tiếng, được xem là một trong những bậc thầy của truyện ngắn hiện đại. Ông thuộc khuynh hướng hiện thực – tự nhiên chủ nghĩa, thường khai thác những nghịch lư trong đời sống con người, sự khác biệt giữa vẻ ngoài và bản chất, giữa khát vọng và thực tế. Truyện ngắn “Chiếc mặt nạ” (xuất hiện trong tập L’Inutile Beauté, 1890) là một tác phẩm tiêu biểu thể hiện cách nh́n sắc sảo và giàu tính nhân văn của ông. Qua h́nh ảnh chiếc mặt nạ của một ông già cố t́m lại tuổi trẻ, tác phẩm đặt ra nhiều suy ngẫm về thời gian, tuổi tác, khát vọng được yêu thương và sự cô đơn của con người.

Trong kho tàng truyện ngắn của Guy de Maupassant, Cái tủ là một tác phẩm ngắn nhưng có sức ám ảnh đặc biệt. Truyện bắt đầu bằng một cuộc tṛ chuyện tưởng như tầm thường giữa những người đàn ông về phụ nữ và t́nh dục, rồi dẫn người đọc vào một thế giới của gái mại dâm, sự nghèo đói, những cuộc cưỡng bức và cuối cùng là h́nh ảnh một đứa trẻ mười hai tuổi phải sống trong một chiếc tủ tối tăm. Nếu chỉ nh́n bề mặt, đây là câu chuyện về một cuộc gặp gỡ giữa một người đàn ông và một gái điếm. Nhưng ở chiều sâu, Cái tủ là một bản cáo trạng đối với xă hội đă biến con người thành hàng hóa, đồng thời là một câu chuyện đầy thương cảm về những nạn nhân vô tội của nghèo đói và dục vọng.

Điều đặc biệt ở Maupassant là ông không lên giọng đạo đức. Ông để cho sự thật tự bộc lộ, và chính sự thật ấy tạo nên cú sốc cuối truyện.

Truyện mở đầu bằng một câu rất tự nhiên:

“On parlait de filles, après dîner, car de quoi parler, entre hommes?”

Có thể dịch: “Sau bữa tối, người ta nói chuyện về đàn bà, bởi giữa đàn ông với nhau th́ c̣n biết nói chuyện ǵ nữa?”

Ngay từ câu mở đầu, Maupassant đă đặt câu chuyện trong một thế giới đàn ông, nơi phụ nữ bị nh́n chủ yếu từ phương diện t́nh dục.

Nhân vật kể chuyện ban đầu cũng không phải một người đặc biệt giàu ḷng nhân ái.

Trong một đêm cô đơn và buồn bă, anh ta t́m đến Folies-Bergère, nh́n những cô gái bằng ánh mắt đầy khinh miệt, đánh giá họ bằng tiền bạc và ngoại h́nh, rồi chọn một cô để qua đêm.

Anh ta coi cô như một món hàng.

Nhưng điều đáng chú ư là quan điểm của nhân vật thay đổi hoàn toàn ở cuối truyện.

Ban đầu, anh nh́n người phụ nữ như một gái điếm tầm thường. Cuối cùng, anh nh́n thấy một người mẹ nghèo khổ và một đứa trẻ đáng thương.

Và câu:

“Moi aussi, j’avais envie de pleurer.”

— “Tôi cũng muốn khóc.” là một bước ngoặt về đạo đức.

Người đàn ông bước vào căn pḥng với dục vọng, nhưng rời khỏi đó với ḷng thương cảm.

Nhan đề Cái tủ vô cùng đơn giản nhưng có sức nặng biểu tượng lớn.

Cái tủ vốn là nơi để quần áo, một vật dụng b́nh thường trong đời sống. Nhưng trong truyện, nó trở thành nơi trú ẩn của một đứa trẻ.

Florentin không có pḥng riêng.

Không có giường.

Không có không gian sống đúng nghĩa.

Khi mẹ có khách trong thời gian ngắn, nó phải chui vào tủ.

Nó sống trong một không gian: tối tăm; chật hẹp; lạnh lẽo; thiếu không khí; không phù hợp với bất cứ đứa trẻ nào.

Bởi vậy, “cái tủ” không chỉ là một địa điểm trong truyện. Nó là biểu tượng của thân phận bị dồn xuống đáy xă hội.

Đứa trẻ ấy không chỉ bị nhốt trong một chiếc tủ.

Nó bị nhốt trong: nghèo đói + sự bất công + nghề mại dâm của người mẹ + sự vô trách nhiệm của những người đàn ông + sự thờ ơ của xă hội.

Cái tủ v́ thế trở thành một xă hội thu nhỏ, nơi một con người bị che giấu khỏi ánh mắt của những người đang sử dụng căn pḥng.

Cảnh phát hiện Florentin là đỉnh điểm của tác phẩm.

Nhân vật kể chuyện mở cánh cửa và nh́n thấy:

“un pauvre petit garçon pâle et maigre”

— “một cậu bé tội nghiệp, xanh xao và gầy guộc.”

Đây là một trong những h́nh ảnh có sức ám ảnh nhất của truyện.

Trước đó, người kể chuyện nghe tiếng động và tưởng rằng có thể có một tên ma cô hoặc một người đàn ông nào đó trong căn pḥng.

Nhưng phía sau cánh cửa không phải là một kẻ nguy hiểm.

Đó là một đứa trẻ.

Và đứa trẻ ấy ngay lập tức khóc và van mẹ:

“Ça n’est pas ma faute, maman…”

— “Không phải lỗi của con đâu, mẹ ơi…”

Câu nói này đặc biệt đau đớn.

Bởi một đứa trẻ đáng lẽ phải được bảo vệ lại đang phải xin lỗi v́ sự tồn tại của chính ḿnh.

Nó sợ bị mẹ mắng v́ đă làm phiền cuộc sống của mẹ.

Nó đă quen với việc phải thu ḿnh, im lặng, chịu đựng.

Đó chính là sự tàn nhẫn sâu xa của nghèo đói: nó không chỉ lấy đi vật chất mà c̣n làm tổn thương phẩm giá và tuổi thơ của con người.

Maupassant không xây dựng người mẹ như một “người phụ nữ xấu”.

Đây là điểm rất quan trọng.

Người phụ nữ ấy đă làm nghề mại dâm, nhưng hoàn cảnh của cô không phải hoàn toàn do cô lựa chọn.

Cô kể rằng lần đầu tiên ḿnh bị một người đàn ông cưỡng ép.

Sau đó cô có Florentin.

Một người đàn ông khác trở thành cha trên giấy tờ và để lại một khoản trợ cấp.

Rồi cô phải tiếp tục bán thân để sống.

Khi bị trách v́ để con trong tủ, cô phản ứng:

“Je ne gagne pas assez pour le mettre en pension…”

— “Em kiếm không đủ tiền để gửi nó vào trường nội trú…”

Đây là một lời biện hộ, nhưng đồng thời cũng là một lời kêu cứu.

Cô biết cách sống của ḿnh khiến con khổ sở.

Nhưng cô không nh́n thấy một con đường nào khác.

Maupassant v́ thế tránh được cách nh́n đạo đức đơn giản: người mẹ vừa là người gây đau khổ cho con, vừa là một nạn nhân của hoàn cảnh.

Đây là một trong những nét nhân đạo sâu sắc nhất của tác phẩm.

Trong truyện có rất nhiều đàn ông, nhưng hầu như không ai thực sự quan tâm đến người phụ nữ như một con người.

Người đàn ông đầu tiên cưỡng bức cô.

Người “chèo thuyền” sau đó quan hệ với cô và trở thành người chu cấp cho đứa trẻ mà anh ta tin là con ḿnh.

Nhân vật kể chuyện cũng t́m đến cô v́ nhu cầu t́nh dục.

Điều đáng chú ư là mỗi người đàn ông đều để lại một dấu vết trong cuộc đời người phụ nữ, nhưng không ai thực sự chịu trách nhiệm cho số phận của cô.

Người đàn ông đầu tiên để lại một đứa trẻ.

Người thứ hai để lại tiền.

Người thứ ba để lại một đêm mà cuối cùng trở thành một bài học về ḷng thương người.

Như vậy, Maupassant cho thấy một xă hội trong đó người đàn ông có quyền đi qua đời người phụ nữ, sử dụng thân thể cô rồi tiếp tục cuộc sống của ḿnh, trong khi người phụ nữ phải gánh chịu hậu quả.

Đoạn nhân vật kể chuyện nhớ lại lư thuyết của người bạn bác sĩ là một phần rất đáng chú ư.

Người bác sĩ cho rằng:

“Toujours une fille est débauchée par un homme de sa classe et de sa condition.”

— “Bao giờ cũng là một cô gái bị một người đàn ông cùng tầng lớp, cùng hoàn cảnh làm hư hỏng.”

Ông c̣n cho rằng người giàu không phải là những người “hái bông hoa trinh trắng”  đầu tiên của các cô gái nghèo; họ chỉ trả tiền cho những “lần nở sau”.

Đây là một cách nh́n xă hội rất sắc bén.

Maupassant đặt vấn đề về mối quan hệ giữa giai cấp, t́nh dục và sự bóc lột.

Nhưng điều đặc biệt là ngay sau khi nhân vật kể chuyện suy nghĩ về lư thuyết ấy, sự thật về người phụ nữ lại hiện ra.

Cô đă bị cưỡng bức từ lần đầu tiên.

Nghĩa là đằng sau “nghề mại dâm” không nhất thiết là một lựa chọn tự do.

Có thể trước đó đă có: cưỡng bức → nghèo đói → mang thai → bị bỏ rơi → mại dâm → tiếp tục nghèo đói.

Một ṿng tṛn khép kín.

Nếu chỉ trách người mẹ, chúng ta sẽ bỏ qua ư nghĩa sâu xa của truyện.

Maupassant khiến người đọc nhận ra rằng Florentin là nạn nhân của cả một hệ thống.

Cậu bé không có lỗi.

Người mẹ cũng phần nào là nạn nhân.

Những người đàn ông lại có trách nhiệm khác nhau.

Nhưng xă hội rộng lớn hơn th́ sao?

Không ai bảo vệ đứa trẻ.

Không có một hệ thống phúc lợi đủ để người mẹ có thể sống mà không phải bán thân.

Không có một nơi ở tử tế.

Không có một không gian dành cho đứa trẻ. Không có sự giúp đỡ thực sự.

V́ vậy, cái tủ chính là nơi mà xă hội giấu đi những hậu quả mà nó không muốn nh́n thấy.

Người ta có thể không nh́n thấy Florentin.

Nhưng Florentin vẫn tồn tại.

Đó là thông điệp xă hội rất mạnh của Maupassant.

Maupassant là bậc thầy về kết cấu truyện ngắn và cú đảo chiều cuối truyện.

Ông cố t́nh dẫn người đọc đi theo một hướng: đàn ông → t́nh dục → gái mại dâm → chuyện t́nh đầu → sự ṭ ṃ về quá khứ.

Người đọc tưởng rằng đây sẽ là một câu chuyện về dục vọng.

Nhưng càng đi sâu, câu chuyện càng chuyển sang: cưỡng bức → nghèo đói → làm mẹ → trẻ em → ḷng thương cảm.

Và cuối cùng, “cái tủ” xuất hiện.

Đó là một cú đảo chiều cảm xúc cực mạnh.

Người đọc không c̣n nh́n người phụ nữ bằng ánh mắt ban đầu nữa.

Maupassant khiến chúng ta phải thay đổi cách phán xét nhân vật.

Đây chính là nghệ thuật lớn của ông: ông không giảng đạo đức, mà buộc người đọc tự thay đổi phán xét của ḿnh.

Giá trị lớn nhất của Cái tủ có lẽ nằm ở ḷng nhân đạo.

Trong xă hội, người phụ nữ ấy có thể chỉ được gọi bằng một cái tên: “gái điếm”.

Nhưng Maupassant bắt người đọc nh́n thấy phía sau danh từ ấy: một cô gái từng bị cưỡng bức; một người mẹ; một con người nghèo khổ; một người đang cố tồn tại; một người yêu con theo cách vụng về và tuyệt vọng nhất.

Và quan trọng hơn, phía sau người đàn bà ấy c̣n có một đứa trẻ.

Florentin làm cho người đọc không thể tiếp tục nh́n vấn đề mại dâm đơn giản như vấn đề “đạo đức cá nhân”.

Bởi phía sau mỗi cuộc đời bị đẩy xuống đáy xă hội có thể c̣n có những số phận vô tội khác bị cuốn theo.

Truyện kết thúc bằng:

“Moi aussi, j’avais envie de pleurer. Et je rentrai coucher chez moi.”

— “Tôi cũng muốn khóc. Và tôi trở về nhà ḿnh để ngủ.”

Đây là một kết thúc rất Maupassant.

Không có diễn văn.

Không có lời kết tội.

Không có hành động cứu giúp lớn lao.

Nhân vật chỉ trở về nhà.

Nhưng trước khi trở về, anh đă nh́n thấy điều mà trước đó anh không nh́n thấy.

Anh bước vào căn pḥng ấy với sự cô đơn và dục vọng.

Anh rời khỏi đó với nỗi thương cảm.

Cái “tôi” ban đầu chỉ muốn t́m một thân thể để lấp đầy khoảng trống của ḿnh.

Cái “tôi” cuối truyện nh́n thấy một con người đang chịu đau khổ.

Sự thay đổi ấy chính là chiến thắng của ḷng nhân đạo.

Cái tủ không đơn thuần là một câu chuyện về gái mại dâm, t́nh dục hay một đứa trẻ sống trong tủ. Đó là một truyện ngắn về những con người bị xă hội đẩy vào những góc tối nhất của đời sống.

H́nh ảnh Florentin trong chiếc tủ lạnh lẽo là biểu tượng ám ảnh nhất của tác phẩm. Cậu bé không chỉ bị nhốt trong một chiếc tủ; cậu bị nhốt trong nghèo đói, sự bất công, sự vô trách nhiệm và những định kiến xă hội. Nhưng chính khi cánh cửa tủ mở ra, một cánh cửa khác cũng mở ra trong tâm hồn người kể chuyện: cánh cửa của ḷng thương cảm.

Qua Cái tủ, Maupassant đặt ra một vấn đề vẫn c̣n nguyên ư nghĩa: đằng sau những con người mà xă hội dễ dàng phán xét luôn có một câu chuyện mà chúng ta chưa biết.

Và có lẽ đó là điều sâu sắc nhất mà truyện muốn nói: đừng chỉ nh́n vào con người họ đă trở thành; hăy nh́n vào những ǵ cuộc đời đă làm với họ.

Nếu Cái tủ bắt đầu bằng câu chuyện “giữa đàn ông với nhau”, th́ nó kết thúc bằng một điều hoàn toàn khác: một người đàn ông không c̣n nh́n thấy một “gái điếm”, mà nh́n thấy một người mẹ và một đứa trẻ đáng thương. Chính sự chuyển biến ấy làm nên chiều sâu nhân đạo và sức ám ảnh lâu dài của truyện.
 


 

          Sau bữa tối, người ta nói chuyện về đàn bà, bởi giữa đàn ông với nhau th́ c̣n biết nói chuyện ǵ nữa?

Một người trong chúng tôi lên tiếng:

— Này, tôi từng gặp một chuyện lạ lùng liên quan đến chuyện ấy.

Rồi anh ta kể:

— Một buổi tối mùa đông năm ngoái, tôi bỗng nhiên rơi vào một trong những cơn mệt mỏi u buồn, nặng nề khủng khiếp, thứ cảm giác thỉnh thoảng chiếm lấy cả tâm hồn lẫn thể xác con người. Tôi ở nhà một ḿnh, và hiểu rơ rằng nếu cứ ở đó như vậy, tôi sẽ lên một cơn buồn ghê gớm; những cơn buồn nếu cứ thường xuyên tái diễn như thế hẳn có thể dẫn người ta đến tự sát.

Tôi khoác áo choàng rồi bước ra ngoài, hoàn toàn không biết ḿnh sẽ đi đâu hay làm ǵ. Xuống đến những đại lộ, tôi bắt đầu lang thang dọc theo những quán cà phê gần như vắng khách, bởi trời đang mưa. Đó là một thứ mưa bụi khiến tâm hồn cũng ướt át chẳng kém quần áo; không phải thứ mưa rào tốt lành trút xuống như thác, khiến những người đi đường thở hổn hển phải chạy vào dưới các cổng lớn, mà là một thứ mưa mịn đến mức người ta không cảm thấy từng giọt rơi xuống; một thứ mưa ẩm ướt liên tục phủ lên người những hạt nước li ti không thể nhận thấy, chẳng bao lâu khiến quần áo phủ đầy một lớp bọt nước lạnh buốt, thấm tận da thịt.

Biết làm ǵ đây? Tôi đi tới đi lui, t́m một nơi để giết thời gian trong hai tiếng đồng hồ, và lần đầu tiên nhận ra rằng buổi tối ở Paris chẳng có lấy một chỗ nào thật sự để giải trí.

Cuối cùng, tôi quyết định vào Folies-Bergère, cái chợ vui nhộn dành cho gái làng chơi ấy.

Khán pḥng lớn có rất ít người. Dọc theo lối đi h́nh móng ngựa chỉ lác đác những hạng người tầm thường; sự tầm thường của họ hiện rơ qua dáng đi, quần áo, cách cắt tóc và để râu, chiếc mũ, màu da. Họa hoằn lắm mới thấy một người đàn ông mà ta có thể đoán là có tắm rửa, thậm chí tắm rửa rất sạch sẽ, và toàn bộ y phục của anh ta có vẻ đồng bộ, tươm tất.

C̣n những cô gái th́ vẫn vậy, những cô gái xấu xí mà các bạn biết: già nua, mệt mỏi, chảy xệ; họ bước đi bằng cái kiểu lắc lư của ḿnh, mang một vẻ khinh khỉnh ngu ngốc mà tôi chẳng hiểu tại sao họ lại có.

Tôi nghĩ bụng, thật sự chẳng có một sinh vật nào trong số những cô gái nhăo nhợt ấy — béo ph́ chứ không phải đầy đặn, chỗ này ph́ ra, chỗ kia lại gầy nhẳng, bụng th́ như bụng các ông thầy tu, chân lại khẳng khiu như chân những con c̣ khoèo — đáng giá một đồng louis mà họ phải khó nhọc lắm mới kiếm được, sau khi đă đ̣i đến năm đồng. Nhưng bất chợt tôi nh́n thấy một cô gái nhỏ khiến tôi có cảm t́nh. Cô không c̣n trẻ lắm, nhưng trông tươi tắn, tinh nghịch và khêu gợi. Tôi gọi cô lại và, chẳng hiểu sao một cách ngu ngốc, không suy nghĩ ǵ, tôi ngă giá để cô ở với tôi suốt đêm.

Tôi không muốn trở về nhà, một ḿnh, hoàn toàn một ḿnh; tôi thà có sự bầu bạn và ṿng tay của cô gái này c̣n hơn.

Tôi đi theo cô.

Cô sống trong một ngôi nhà rất lớn, trên phố des Martyrs. Đèn khí trong cầu thang đă tắt. Tôi chậm răi đi lên, thỉnh thoảng phải quẹt một que diêm nhỏ để soi đường, chân va vào bậc thang, bước hụt, vừa đi vừa bực bội, phía sau chiếc váy của cô mà tôi nghe tiếng sột soạt ở phía trước.

Cô dừng lại ở tầng bốn, đóng cửa phía ngoài rồi hỏi:

— Vậy anh ở lại đến sáng mai chứ?

— Tất nhiên. Em biết rơ chúng ta đă thỏa thuận như thế mà.

— Được rồi, anh yêu. Em chỉ hỏi cho biết thôi. Anh chờ em ở đây một phút nhé, lát nữa em quay lại.

Rồi cô để tôi lại trong bóng tối.

Tôi nghe thấy cô đóng hai cánh cửa, sau đó h́nh như cô nói chuyện với ai đó. Tôi ngạc nhiên và lo lắng. Ư nghĩ về một tên ma cô thoáng qua đầu tôi. Nhưng tôi có nắm đấm khỏe và thân thể cường tráng.

“Rồi sẽ biết,” tôi nghĩ.

Tôi lắng nghe hết sức chăm chú, bằng cả đôi tai lẫn tâm trí. Có tiếng người di chuyển, tiếng bước chân nhẹ nhàng, hết sức thận trọng. Rồi một cánh cửa khác mở ra, và tôi khá chắc rằng ḿnh lại nghe thấy tiếng nói chuyện, nhưng rất khẽ.

Cô quay trở lại, tay cầm một cây nến đang cháy:

— Anh vào được rồi.

Cách xưng hô “anh” ấy có vẻ như một sự chiếm hữu. Tôi bước vào. Sau khi đi qua một pḥng ăn mà nh́n là biết chẳng bao giờ người ta dùng để ăn uống, tôi bước vào căn pḥng của tất cả những cô gái — một căn pḥng cho thuê, với rèm vải ren và một chiếc chăn lông vịt bằng lụa màu đỏ thắm, lốm đốm những vết khả nghi.

Cô nói tiếp:

— Cứ tự nhiên nhé, anh yêu.

Tôi quan sát căn hộ bằng ánh mắt nghi ngờ. Tuy nhiên, chẳng có ǵ khiến tôi cảm thấy đáng lo.

Cô cởi quần áo nhanh đến mức khi tôi c̣n chưa kịp cởi áo choàng th́ cô đă chui vào giường. Cô bật cười:

— Nào, anh làm sao thế? Anh hóa thành tượng muối rồi à? Mau lên chứ!

Tôi làm theo và leo lên giường với cô.

Năm phút sau, tôi điên cuồng muốn mặc quần áo và bỏ đi. Nhưng cơn mệt mỏi nặng nề đă ập đến với tôi từ lúc c̣n ở nhà khiến tôi chẳng c̣n chút sức lực nào để cử động, nên tôi vẫn nằm lại, mặc cho cảm giác ghê tởm đang dâng lên trong tôi trước cái giường mà biết bao người đă từng nằm.

Cái vẻ quyến rũ nhục cảm mà tôi tưởng ḿnh nh́n thấy ở cô dưới những chùm đèn của nhà hát đă biến mất giữa ṿng tay tôi. Giờ đây, áp sát vào người tôi, da thịt kề da thịt, chỉ c̣n lại một cô gái tầm thường, giống hệt bao cô gái khác; nụ hôn hờ hững và chiều chuộng của cô phảng phất một dư vị tỏi khó chịu.

Tôi bắt đầu nói chuyện với cô.

— Em sống ở đây lâu chưa?

— Được hơn sáu tháng rồi, tính đến ngày 15 tháng Giêng.

— Trước đó em ở đâu?

— Em ở phố Clauzel. Nhưng bà gác cổng gây khó dễ cho em, nên em đă trả nhà.
Rồi cô bắt đầu kể cho tôi nghe một câu chuyện dài lê thê về bà gác cổng đă đi nói xấu, đặt điều về cô như thế nào.

Nhưng đột nhiên tôi nghe thấy một tiếng động rất gần chúng tôi. Ban đầu là một tiếng thở dài, rồi một âm thanh nhẹ nhưng rơ ràng, như thể có ai đó vừa xoay người trên một chiếc ghế.

Tôi bật ngồi dậy trên giường và hỏi:

— Tiếng ǵ vậy?

Cô b́nh thản, đầy vẻ chắc chắn, đáp:

— Đừng lo, anh yêu, là bà hàng xóm đấy. Vách ngăn mỏng đến mức nghe thấy mọi thứ cứ như xảy ra ngay trong pḥng ḿnh vậy. Đúng là những cái hộp chết tiệt! Lại c̣n bằng b́a các-tông nữa.

Sự uể oải của tôi mạnh đến mức tôi lại chui xuống dưới chăn.

Chúng tôi tiếp tục tṛ chuyện.

Bị thôi thúc bởi thứ ṭ ṃ ngớ ngẩn vẫn khiến mọi người đàn ông muốn hỏi những cô gái như thế về mối t́nh đầu tiên, muốn vén bức màn che phủ lỗi lầm đầu tiên của họ, như thể có thể t́m thấy trong họ một dấu vết xa xôi của sự trong trắng, để rồi có lẽ yêu họ trong khoảnh khắc ngắn ngủi khi một lời nói chân thật gợi lại vẻ ngây thơ và sự e lệ ngày xưa, tôi bắt đầu hỏi cô về những người t́nh đầu tiên của ḿnh.

Tôi biết cô sẽ nói dối.

Nhưng có hề ǵ?

Giữa tất cả những lời nói dối ấy, biết đâu tôi vẫn có thể t́m thấy một điều ǵ đó chân thành và cảm động.

— Nào, kể cho anh nghe đi. Đó là ai?

— Một anh chàng chèo thuyền, anh yêu.

— À! Kể anh nghe nào. Hai người gặp nhau ở đâu?

— Em ở Argenteuil.

— Em làm ǵ ở đó?

— Em làm hầu bàn trong một nhà hàng.

— Nhà hàng nào?

— Le Marin d’eau douce. Anh biết chỗ đó không?

— Tất nhiên rồi, nhà hàng của Bonanfan.

— Vâng, đúng chỗ ấy.

— Thế anh chàng chèo thuyền ấy tán tỉnh em như thế nào?

— Khi em đang dọn giường cho anh ta. Anh ta đă cưỡng ép em. Nhưng đột nhiên tôi nhớ đến một giả thuyết của một người bạn làm nghề bác sĩ — một bác sĩ có óc quan sát và triết lư, công việc thường xuyên trong một bệnh viện lớn khiến ông hằng ngày tiếp xúc với những cô gái mang thai ngoài giá thú, những gái điếm, với tất cả nỗi nhục nhă và khốn cùng của đàn bà, những người phụ nữ đáng thương đă trở thành con mồi khủng khiếp của những gă đàn ông lang thang với tiền trong túi.
— Bao giờ cũng vậy, ông từng nói với tôi, bao giờ cũng là một người đàn ông cùng tầng lớp, cùng hoàn cảnh với cô gái đă làm cô ta hư hỏng. Tôi có cả hàng tập ghi chép quan sát về chuyện này. Người ta buộc tội những kẻ giàu có đă hái mất bông hoa trinh trắng của những cô gái con nhà nghèo. Điều đó không đúng. Kẻ giàu chỉ trả tiền cho những bông hoa đă bị hái rồi! Họ cũng hái hoa, nhưng là những lần nở sau; họ không bao giờ ngắt những bông hoa đầu tiên.

Nghĩ đến đó, tôi quay sang người đàn bà bên cạnh và bật cười.

— Em biết không, anh biết câu chuyện của em rồi. Không phải anh chàng chèo thuyền là người đầu tiên của em.

— Ồ! Đúng mà, anh yêu, em thề với anh.

— Em nói dối, em yêu.

— Ồ! Không đâu, em thề đấy!

— Em nói dối. Nào, kể hết cho anh nghe đi.

Cô ta có vẻ ngần ngừ, ngạc nhiên.

Tôi nói tiếp:

— Anh là phù thủy, cô bé xinh đẹp ạ, anh là người có khả năng thôi miên. Nếu em không nói thật, anh sẽ làm cho em ngủ và anh sẽ biết hết.

Cô ta sợ hăi, v́ cũng ngu ngốc như những người đàn bà cùng loại với ḿnh. Cô lắp bắp:

— Làm sao anh đoán ra được?

Tôi nói:

— Nào, kể đi.

— Ồ! Lần đầu tiên th́ hầu như chẳng có chuyện ǵ. Hôm ấy là ngày hội làng. Người ta thuê một đầu bếp phụ tên là ông Alexandre đến. Vừa đến nơi, ông ta đă muốn làm ǵ th́ làm trong nhà. Ông ta sai khiến tất cả mọi người, cả ông chủ lẫn bà chủ, cứ như ông ta là một vị vua vậy…

Đó là một người đàn ông cao lớn, đẹp trai, không lúc nào chịu đứng yên trước bếp. Ông ta lúc nào cũng hét:

“Nào, bơ đâu, trứng đâu, rượu Madeira đâu!”

Và người ta phải lập tức chạy đi mang những thứ ấy đến cho ông ta; nếu không, ông ta nổi giận và mắng mỏ đến mức khiến người ta đỏ mặt tía tai, đỏ cả đến tận dưới váy.

Khi công việc trong ngày kết thúc, ông ta ngồi hút tẩu trước cửa.

Đúng lúc tôi đi ngang qua ông ta, hai tay ôm một chồng đĩa, ông ta bảo tôi:

“Nào, cô bé, đi ra mép sông với tôi, chỉ cho tôi xem vùng này một chút!”

Tôi ngốc nghếch đi theo ông ta. Nhưng vừa đến bờ sông, ông ta đă cưỡng ép tôi nhanh đến mức tôi thậm chí chẳng kịp hiểu ông ta đang làm ǵ. Sau đó ông ta lên chuyến tàu lúc chín giờ. Tôi không bao giờ gặp lại ông ta nữa.

Tôi hỏi:

— Chỉ có thế thôi à?

Cô ta lắp bắp:

— Ồ… Em nghĩ Florentin là con của ông ta!

— Ai? Florentin là ai?

— Con em!

— À, ra vậy. Thế là em đă làm cho anh chàng chèo thuyền tin rằng anh ta là cha của nó, đúng không?

— Chứ c̣n ǵ nữa!

— Anh chàng chèo thuyền ấy có tiền không?

— Có. Anh ta để lại cho em một khoản trợ cấp ba trăm franc, đứng tên Florentin.

Tôi bắt đầu thấy câu chuyện thú vị. Tôi nói tiếp:

— Tốt lắm, cô bé, tốt lắm. Hóa ra các cô cũng chẳng ngu ngốc như người ta tưởng. Thế bây giờ Florentin bao nhiêu tuổi rồi?

Cô đáp:

— Nó mười hai tuổi rồi. Mùa xuân này nó sẽ làm lễ rước lễ lần đầu.

— Tuyệt lắm. Và từ đó đến nay, em vẫn làm nghề này một cách nghiêm túc chứ?

Cô thở dài, vẻ cam chịu:

— Người ta phải làm những ǵ ḿnh có thể thôi…

Nhưng một tiếng động lớn phát ra ngay từ trong căn pḥng khiến tôi bật khỏi giường. Đó là tiếng một thân người ngă xuống rồi lại đứng lên, hai bàn tay lần ṃ trên tường.

Tôi chộp lấy cây nến, hoảng hốt và tức giận nh́n quanh.

Cô ta cũng đứng dậy, cố giữ tôi lại, vừa th́ thầm:

— Không có ǵ đâu, anh yêu, em đảm bảo chẳng có ǵ đâu.

Nhưng tôi đă phát hiện ra tiếng động kỳ lạ ấy phát ra từ phía nào.

Tôi đi thẳng đến một cánh cửa kín nằm ngay phía đầu giường và đột ngột mở tung…

Và tôi nh́n thấy, run rẩy, đôi mắt hoảng hốt sáng long lanh mở to nh́n tôi: một cậu bé tội nghiệp, xanh xao và gầy guộc, đang ngồi bên cạnh một chiếc ghế rơm lớn — từ chiếc ghế ấy, nó vừa ngă xuống.

Vừa nh́n thấy tôi, nó bật khóc, dang hai tay về phía mẹ:

— Không phải lỗi của con đâu, mẹ ơi, không phải lỗi của con đâu. Con ngủ quên rồi bị ngă. Mẹ đừng mắng con, không phải lỗi của con đâu.

Tôi quay sang người đàn bà và hỏi:

— Chuyện này là thế nào?

Cô ta có vẻ bối rối và đau khổ. Cô nói đứt quăng:

— Anh c̣n muốn ǵ nữa? Em kiếm chẳng đủ tiền để gửi nó vào trường nội trú! Em phải giữ nó bên ḿnh chứ, mà em lấy đâu ra tiền để thuê thêm một căn pḥng nữa, anh biết rồi đấy! Nó ngủ cùng em khi em không có khách. Khi người ta chỉ đến một hai tiếng, nó có thể nằm trong tủ, nó nằm yên, nó quen rồi. Nhưng khi người ta ở lại cả đêm, như anh, th́ thằng bé ngủ trên ghế cả đêm, lưng nó chịu không nổi Nó cũng đâu có lỗi ǵ… Em muốn anh thử xem, anh có ngủ nổi cả đêm trên một cái ghế không… Anh sẽ biết ngay…

Cô ta nổi nóng, kích động, rồi hét lên.

Đứa trẻ vẫn khóc.

Một đứa trẻ đáng thương, yếu ớt và nhút nhát.

Đúng vậy, nó chính là đứa trẻ của cái tủ — đứa trẻ của chiếc tủ lạnh lẽo và tối tăm, đứa trẻ thỉnh thoảng mới được trở về nằm trong chiếc giường vừa bỏ trống để t́m lấy một chút hơi ấm.

Tôi cũng muốn khóc.

Và tôi trở về nhà ḿnh để ngủ.



THÂN TRỌNG SƠN
Dịch và giới thiệu
Tháng 8 / 2026


Nguồn:
https://athena.unige.ch/athena/selva/maupassant/textes/armoire.html.


 

art2all.net