|
Thân Trọng Sơn
CÁNH CỬA XANH
O. Henry
( 1862 - 1910 )

O. HENRY

O. HENRY – Bậc
thầy truyện ngắn nước Mỹ.
O’Henry, bút danh của William
Sydney Porter, nhà văn Mỹ, tác giả của 273 truyện ngắn đăng trong các
nhật báo và tạp chí, sau được in trong mười tám tập truyện. Cuộc đời của
Ông rất phong phú : làm nhiều nghề khác nhau ( dược sĩ, vẽ kỹ thuật và
kiến trúc, thư kư, đầu bếp nhà hàng, nhân viên công ty địa ốc, nhân viên
xưởng in… ), từng tham gia ca hát, diễn kịch, vẽ hí họa, có lúc bệnh
nặng, có lúc ở tù. Có lẽ v́ thế mà bối cảnh các truyện ngắn của Ông cũng
rất phong phú, khắc họa xă hội nước Mỹ thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX. Phần lớn truyện ngắn của Ông có cốt truyện đơn giản, với nhiều
t́nh tiết oái oăm, khắc nghiệt, có khi khôi hài để kết thúc bất ngờ.
Về bút danh của ông, có một tờ báo đă hỏi ông chữ O có ẩn ư ǵ, và ông
nói: " O là của Olivier, cái tên Pháp của Oliver". Và thực sự là đă có
một vài truyện ông kư tên Olivier Henry.
William mất mẹ năm lên 3 tuổi và được bà nội cùng d́ ruột nuôi dưỡng.
Ông học tại học viện Lindsey Street ở Greensboro, rồi làm việc trong
hiệu thuốc và trở thành dược sĩ có chứng chỉ khi mới 19 tuổi.
Ông là người ham đọc sách, đặc biệt là truyện phiêu lưu và tiểu thuyết
của Charles Dickens, Mark Twain và Sir Walter Scott, điều này ảnh hưởng
mạnh đến văn phong của ông sau này.
Năm 1882, ông chuyển đến Texas để chữa bệnh (lao phổi) và bắt đầu một
chuỗi nghề nghiệp đa dạng: chăn nuôi gia súc, họa sĩ minh họa, nhân viên
kế toán và ngân hàng.
Năm 1887, ông cưới Athol Estes, một cô gái trẻ bị bệnh lao, và họ có một
con gái tên là Margaret.
Khi làm việc tại First National Bank ở Austin, ông bị buộc tội biển thủ
công quỹ, dù không rơ ông có thật sự phạm tội hay không. Để tránh bị
bắt, ông bỏ trốn sang Honduras, nhưng quay về sau đó để chăm sóc vợ đang
hấp hối. Vợ ông mất vào năm 1897.
Năm 1898, ông bị kết án 5 năm tù giam tại nhà tù liên bang ở Ohio. Tại
đây, ông bắt đầu viết truyện ngắn nghiêm túc, gửi tác phẩm ra ngoài bằng
bút danh O. Henry để che giấu thân phận tù nhân.
O. Henry là bậc thầy của truyện ngắn hiện đại với:
Kết thúc bất ngờ (“twist ending”) đầy cảm xúc hoặc châm biếm.
Lối kể chuyện dí dỏm, thấm đẫm tính nhân văn.
Nhân vật b́nh dân – thường là người lao động nghèo, trí thức thất thế,
trẻ em, nghệ sĩ – được khắc họa sống động và gần gũi.
Bối cảnh truyện thường diễn ra tại New York, nơi ông từng sống và quan
sát kỹ lưỡng.
Sau những năm tháng cùng quẫn, mặc dù đến lúc đă nổi danh và có tiền
nhuận bút khá, O’ Henry vẫn không được hưởng hạnh phúc vào những năm
cuối đời: khó khăn về tài chính v́ chi tiêu quá cao, lại thêm chứng lao
phổi lây từ người mẹ và tật nghiện rượu nhiễm từ người cha. Ông qua đời
một cách khổ sở tại thành phố New York do bệnh lao cộng thêm chứng xơ
gan khi mới 47 tuổi.
O’ Henry được xem như một trong những bậc thầy về truyện ngắn trên văn
đàn thế giới, bên cạnh Tchekhov của Nga, Saki của Anh, Guy de Maupassant
của Pháp.
Năm 1919, Hội Nghệ thuật và Khoa học ( Society of Arts and Sciences )
thiết lập “ Giải thưởng Tưởng niệm O’ Henry” ( O’ Henry Memorial Awards
), hàng năm trao cho những truyện ngắn đặc sắc.
Có lẽ nhờ cuộc đời phong phú của tác giả nên các truyện ngắn của O.
Henry (tổng cộng gần 400 truyện ), cũng thể hiện các nét đa dạng của xă
hội Mỹ đương thời. Người ta có thể t́m thấy những nhân vật làm các nghề
mà chính tác giả đă trải qua, và c̣n nữa: chủ cửa hiệu, nhân viên bán
hàng, kư giả, họa sĩ, bác sĩ, diễn viên sân khấu, thợ cắt tóc, cảnh sát,
thanh tra, dân đi t́m vàng, cũng có những người vô nghề nghiệp vô gia
cư, và kể cả kẻ tội phạm và tù nhân.
Những bối cảnh trong các truyện ngắn cũng phong phú, với nhiều truyện
lấy Thành phố New York - nơi O. Henry sống tám năm cuối đời ông - làm
bối cảnh, cộng thêm những mẩu chuyện phiêu lưu trong vùng Trung và Tây -
Nam nước Mỹ. Tất cả đều biểu hiện khung cảnh xă hội kinh tế nước Mỹ vào
thời khoảng cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, lúc đường Thành phố New
York c̣n được thắp sáng bằng đèn ga, người c̣n dùng xe ngựa để di
chuyển, nhiều dân chăn ḅ (cowboy, hay "cao bồi") vẫn c̣n sống bờ sống
bụi và xem pháp luật bằng nửa con mắt, dân đi t́m vàng tự lập nên những
thị trấn mới rồi "tự cai tự quản", v.v.
Người đọc truyện của Ông không bao giờ đoán trước được đoạn kết.
Tác phẩm nổi bật:
The Gift of the Magi (Món quà của nhà thông thái) – câu chuyện cảm động
về t́nh yêu và sự hy sinh.
The Last Leaf (Chiếc lá cuối cùng) – nói về hy vọng và t́nh thương giữa
những người nghệ sĩ nghèo.
The Ransom of Red Chief – câu chuyện hài hước về hai kẻ bắt cóc bị “nạn
nhân nhí” hành hạ.
The Green Door – câu chuyện về định mệnh, t́nh cờ và ḷng trắc ẩn.
Ông đă viết hơn 600 truyện ngắn trong sự nghiệp, hầu hết được đăng báo
trước khi in thành tuyển tập. Dù nổi tiếng và được yêu mến, O. Henry gặp
nhiều khó khăn tài chính do thói nghiện rượu, sức khỏe kém và cách sống
thất thường.
Ông qua đời năm 1910, v́ xơ gan, biến chứng bệnh tiểu đường và chứng
phổi nặng.
Trước khi chết, ông đă nói: “Turn up the lights—I don’t want to go home
in the dark.” (“Hăy bật sáng đèn – tôi không muốn về nhà trong bóng
tối.”)
O. Henry được coi là một trong những cây bút truyện ngắn vĩ đại nhất
nước Mỹ, có ảnh hưởng đến nhiều nhà văn sau này, trong đó có Saki, Roald
Dahl, và Jeffrey Archer.
Giải thưởng O. Henry (O. Henry Award) – một trong những giải thưởng
truyện ngắn danh giá nhất Hoa Kỳ – được thành lập từ năm 1919 để tôn
vinh di sản văn chương của ông.
“The Green Door” – Cánh cửa định mệnh và tiếng gọi của ḷng trắc
ẩn.
Trong nền văn học Mỹ đầu thế kỷ XX, O. Henry nổi lên như một cây bút
truyện ngắn tài hoa, với lối kể chuyện dí dỏm, nhân vật đời thường và
đặc biệt là những kết thúc bất ngờ đầy xúc cảm. Truyện ngắn “The Green
Door” là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông, nơi sự t́nh cờ,
tưởng như là tṛ đùa ngẫu nhiên của số phận, lại trở thành khởi đầu cho
một mối nhân duyên – và hơn thế, là biểu hiện sâu sắc của chủ nghĩa nhân
văn lăng mạn mà O. Henry hằng theo đuổi.
Cánh cửa xanh – Biểu tượng của định mệnh và khát vọng phiêu lưu
Ngay từ nhan đề “The Green Door”,
O. Henry đă cài cắm một h́nh ảnh biểu tượng mạnh mẽ: cánh cửa màu xanh –
cánh cửa của bí ẩn, của những ǵ đang chờ ở “bên kia cuộc sống thường
nhật”. Rudolf Steiner, nhân vật chính, là một chàng trai b́nh thường,
làm việc bán đàn piano vào ban ngày, nhưng luôn mang trong ḿnh khát
vọng phiêu lưu, sẵn sàng “nhặt mọi chiếc găng tay bị ném xuống sàn đấu
của cuộc đời”.
Sự lựa chọn cánh cửa xanh trong hành lang đầy những cánh cửa giống hệt
nhau không chỉ là một cú đánh may rủi, mà c̣n là hành động có ư chí,
được dẫn dắt bởi một trực giác sâu xa về cái đẹp và điều đúng đắn. Ở
đây, O. Henry cho thấy rằng những cuộc phiêu lưu lớn nhất đôi khi bắt
đầu bằng một bước nhỏ nhưng quả cảm – một cái gơ cửa đầy niềm tin vào
điều bất ngờ.
Khác với những “kẻ mộng du” trong tiểu thuyết lăng mạn cổ điển, Rudolf
của O. Henry là một “người b́nh thường” giữa ḷng đô thị hiện đại. Nhưng
chính anh, với trái tim biết rung động và đôi mắt luôn t́m kiếm cái lạ,
lại đại diện cho tinh thần lăng mạn hiện đại: không phải là chạy trốn
thực tại, mà là khám phá những điều phi thường ẩn trong đời sống thường
nhật.
Khi Rudolf cứu giúp cô gái nghèo kiệt sức v́ đói, hành động ấy không bắt
nguồn từ đạo đức giáo điều mà là sự thôi thúc nhân bản sâu xa: anh giúp
v́ anh tin rằng có điều ǵ đó ư nghĩa sau cánh cửa đó, và anh đă đúng.
Chính sự “phi lư” của quyết định ấy – gơ cửa một căn pḥng xa lạ chỉ v́
hai chữ “Green Door” viết tay – lại làm nổi bật chất thơ và chất người
trong Rudolf.
Cô gái sau cánh cửa xanh là h́nh ảnh thuần khiết của cái đẹp bị bỏ quên,
của những mảnh đời ch́m khuất trong đô thị, không phải v́ họ không đáng
sống, mà v́ không ai gơ cửa họ. Ba ngày không ăn, kiệt sức v́ đói và bị
xă hội bỏ rơi, cô gái ấy vẫn giữ sự thanh lịch tự nhiên, ḷng tự trọng
kín đáo và một nụ cười nhân hậu.
O. Henry không cần xây dựng một bi kịch lớn lao để gây xúc động – chỉ
một cái nh́n, một lát cắt nhỏ của cuộc đời cũng đủ khiến người đọc cảm
nhận sự mong manh và cao cả của con người. T́nh yêu chớm nở giữa Rudolf
và cô gái không phải là t́nh yêu “tiếng sét ái t́nh” kiểu cổ tích, mà là
t́nh yêu từ ḷng trắc ẩn, từ sự nhận ra nhau trong khổ đau và tử tế.
Khi Rudolf phát hiện tất cả các cánh cửa trong ṭa nhà đều được sơn
xanh, và tấm “thẻ bài định mệnh” thực ra là tờ quảng cáo cho một vở kịch
tên The Green Door, anh bỗng nhận ra rằng câu chuyện t́nh cờ này có thể
đă không xảy ra, hoặc xảy ra với một người khác.
Tuy nhiên, thay v́ cảm thấy ḿnh bị lừa, Rudolf lại mỉm cười và tin
rằng: “Đó chính là bàn tay của Định mệnh”. Ở đây, O. Henry đặt ra một
câu hỏi sâu xa: Liệu định mệnh là thứ được định sẵn, hay là sự lựa chọn
của chính ta khi ta dám bước qua cánh cửa lạ? Rudolf tin vào định mệnh,
nhưng định mệnh ấy chỉ đến với những ai có ḷng, có gan và có t́nh.
The Green Door không chỉ là một câu chuyện t́nh đẹp, mà c̣n là một lời
nhắc nhở nhẹ nhàng về sự hiện diện của cái thiện giữa ḷng thế giới vô
cảm. Nó khẳng định rằng:
T́nh người vẫn có thể được khơi dậy chỉ từ một cái gơ cửa.
Ḷng tốt – dù ngẫu nhiên hay hữu ư – vẫn có thể thay đổi số phận của một
con người.
Chúng ta ai cũng có thể là người gơ vào “cánh cửa xanh” của một đời khác
– nếu
ta dám.
Với “The Green Door”, O. Henry đă viết nên một truyện ngắn mang đậm chất
thơ, đầy t́nh người và ư nghĩa biểu tượng sâu sắc. Truyện không chỉ là
một minh chứng cho tài năng xây dựng cốt truyện bất ngờ của ông, mà c̣n
là một tuyên ngôn âm thầm về ḷng trắc ẩn, khát vọng sống, và vẻ đẹp của
những cuộc gặp gỡ t́nh cờ.
Trong thế giới hiện đại đầy ngờ vực và hối hả, The Green Door nhắc ta
rằng: hăy lắng nghe tiếng gọi của trái tim – bởi đôi khi, đằng sau một
cánh cửa vô danh, chính là định mệnh đang đợi ta bước vào.

CÁNH CỬA XANH

Giả sử bạn đang đi dọc đại lộ Broadway sau bữa tối, dành ra mười phút để
vừa nhâm nhi điếu x́ gà, vừa cân nhắc giữa một vở bi kịch gây xúc động
và một tiết mục tạp kỹ có phần nghiêm túc. Đột nhiên, một bàn tay đặt
lên tay bạn. Bạn quay lại và nh́n vào đôi mắt mê hoặc của một người phụ
nữ xinh đẹp, lộng lẫy trong những món kim cương và áo lông chồn Nga. Cô
vội vă nhét vào tay bạn một chiếc bánh ḿ cuộn nóng hổi c̣n bơ đang tan
chảy, rút ra một chiếc kéo nhỏ xíu, cắt phăng chiếc cúc thứ hai trên áo
khoác của bạn, thốt ra một từ duy nhất đầy ẩn ư: “h́nh b́nh hành!”, rồi
vội vă rẽ vào một con phố nhỏ, vừa chạy vừa ngoái nh́n về phía sau đầy
sợ hăi.
Đó sẽ là cuộc phiêu lưu đích thực. Bạn có đón nhận nó không? Không đâu.
Bạn sẽ đỏ mặt v́ lúng túng; thẹn thùng làm rơi chiếc bánh và tiếp tục
bước đi trên đại lộ Broadway, lóng ngóng lần ṃ chiếc cúc bị mất. Bạn sẽ
hành xử như thế, trừ khi bạn thuộc về số ít người được chúc phúc – những
người mà tinh thần phiêu lưu thuần túy chưa từng lụi tắt.
Những nhà phiêu lưu chân chính chưa bao giờ là nhiều. Những người được
sách vở gọi là phiêu lưu thường chỉ là thương nhân với những phương pháp
mới lạ. Họ mải miết đuổi theo những thứ ḿnh khao khát – bộ lông cừu
vàng, chén thánh thiêng, người yêu trong mộng, kho báu, vương miện, hay
danh vọng. Kẻ phiêu lưu đích thực th́ lên đường vô định, không toan
tính, để đón chào và đối diện với số phận chưa biết. Một ví dụ tuyệt vời
là Người Con Hoang Đàng – khi anh ta bắt đầu quay trở về nhà.
Những kẻ phiêu lưu nửa vời – dũng cảm và huy hoàng – th́ nhiều vô kể. Từ
các cuộc Thập tự chinh đến mỏm Palisades, họ đă làm giàu cho nghệ thuật
của lịch sử và hư cấu, cũng như cho ngành tiểu thuyết lịch sử. Nhưng mỗi
người trong số họ đều có một phần thưởng phải giành lấy, một mục tiêu để
đá vào, một lưỡi ŕu cần mài, một cuộc đua phải chạy, một nhát kiếm mới
phải tung ra, một cái tên phải khắc ghi, một mối thù cần giải quyết – v́
vậy họ không phải là những kẻ đi theo con đường phiêu lưu thuần túy.
Trong thành phố lớn, hai linh hồn song sinh Lăng Mạn và Phiêu Lưu luôn
rong ruổi, đi t́m những người xứng đáng. Khi ta lang thang trên các con
phố, chúng lén lút liếc nh́n ta và thử thách ta trong hàng chục lốt khác
nhau. Không hiểu v́ sao, ta bỗng ngẩng đầu lên và thấy một gương mặt
trong khung cửa sổ như thể thuộc về pḥng trưng bày kư ức thân mật của
riêng ḿnh; trong một con phố vắng, ta nghe thấy tiếng kêu đau đớn và sợ
hăi phát ra từ một ngôi nhà đóng kín; xe ngựa không dừng ở vỉa hè quen
thuộc mà thả ta trước một cánh cửa lạ, có người hé mở và mỉm cười mời ta
bước vào; một mảnh giấy có chữ viết rơi xuống chân ta từ ô cửa cao của
sự ngẫu nhiên; ta trao đổi những ánh mắt thù ghét, tŕu mến hay sợ hăi
thoáng qua với người xa lạ giữa ḍng người vội vă; một cơn mưa bất chợt
– và chiếc ô của ta có thể đang che chở cho con gái của Mặt Trăng Tṛn
và chị họ của Hệ Tinh Tú; ở mỗi góc phố, khăn tay rơi xuống, ngón tay
vẫy gọi, ánh mắt vây bủa, và những manh mối phiêu lưu – lạc lơng, đơn
côi, mê đắm, bí ẩn, hiểm nguy – đều được bí mật trao vào tay ta. Nhưng
ít ai trong chúng ta đủ can đảm để giữ chặt và bước theo chúng.
Chúng ta đă trở nên cứng nhắc với chiếc “thanh kỷ luật” cắm dọc sống
lưng. Chúng ta bước qua. Và rồi một ngày nào đó, ở cuối một đời nhàm
chán, ta mới nhận ra rằng chuyện t́nh lăng mạn của ḿnh chỉ là một cuộc
hôn nhân hay hai, một bông hồng satin cất trong két sắt, và một mối hận
suốt đời với chiếc ḷ sưởi hơi nước.
Rudolf Steiner là một nhà phiêu lưu đích thực. Hiếm có buổi tối nào mà
anh không rời căn pḥng ngủ nhỏ nằm cuối hành lang để lên đường t́m kiếm
điều bất ngờ và kỳ lạ. Với anh, điều thú vị nhất trong cuộc sống chính
là thứ có thể đang ẩn náu ngay sau góc phố tiếp theo. Đôi khi, ḷng sẵn
sàng thách thức định mệnh đă đưa anh vào những lối rẽ lạ lùng. Đă hai
lần anh phải qua đêm tại đồn cảnh sát; hết lần này đến lần khác anh trở
thành nạn nhân của những kẻ lừa đảo tinh ranh và hám tiền; đồng hồ và ví
của anh đă từng là cái giá cho một lời quyến rũ ngọt ngào. Thế nhưng với
nhiệt huyết không hề suy giảm, Rudolf vẫn tiếp tục nhặt lên mọi chiếc
găng tay bị ném xuống sàn đấu vui nhộn của cuộc phiêu lưu.
Một buổi tối nọ, Rudolf đang dạo bước trên một con phố ngang trong khu
trung tâm cũ kỹ của thành phố. Hai ḍng người chen chúc trên vỉa hè -
một bên vội vă trở về nhà, bên c̣n lại là những kẻ bồn chồn bỏ lại tổ ấm
để đi t́m sự đón tiếp hào nhoáng của những bữa ăn bàn dài dưới ánh đèn
ngàn nến.
Chàng trai phiêu lưu trẻ tuổi có vẻ ngoài ưa nh́n và bước đi với vẻ điềm
tĩnh nhưng tỉnh táo. Ban ngày, anh là một nhân viên bán hàng tại cửa
tiệm đàn piano. Anh cài cà vạt bằng cách luồn qua một chiếc nhẫn đá
topaz thay v́ dùng ghim như thường lệ; và đă từng viết thư cho biên tập
viên một tạp chí rằng cuốn “Thử thách t́nh yêu của Junie” của cô Libbey
là quyển sách có ảnh hưởng lớn nhất đến cuộc đời anh.
Trong lúc đi dạo, tiếng va chạm lạch cạch của những chiếc răng giả trong
một chiếc tủ kính trên vỉa hè lúc đầu khiến Rudolf chú ư — với chút rợn
người — đến một nhà hàng phía trước; nhưng nh́n kỹ lại, anh phát hiện
ḍng chữ điện tử của một biển hiệu nha sĩ treo cao bên cửa kế bên. Một
người da đen to lớn, ăn vận kỳ quặc với áo khoác thêu đỏ, quần vàng và
mũ quân đội, đang khéo léo phát các tấm thiệp cho những người đi đường
bằng một phong cách hết sức lịch thiệp.
Kiểu quảng cáo dịch vụ nha khoa này vốn không xa lạ ǵ với Rudolf. Thông
thường, anh đi ngang qua người phát thiệp mà chẳng buồn nhận lấy tấm
nào; nhưng tối nay, người đàn ông da đen ấy đă lén lút nhét một tấm
thiệp vào tay anh một cách tài t́nh đến mức anh mỉm cười v́ sự khéo léo
đó và cứ giữ tấm thiệp trong tay.
Đi được vài bước nữa, Rudolf liếc nh́n tấm thiệp một cách hờ hững. Bất
ngờ, anh quay lại nh́n kỹ hơn với vẻ thích thú. Một mặt của tấm thiệp
trống trơn; mặt kia được viết bằng mực ba chữ: “The Green Door” (Cánh
cửa xanh). Và rồi Rudolf thấy, chỉ cách anh ba bước chân, một người đàn
ông vừa nhận thiệp từ người da đen lúc đi ngang qua cũng thản nhiên ném
nó xuống đất. Rudolf cúi nhặt lên. Đó là tấm thiệp in tên và địa chỉ của
nha sĩ, cùng lịch làm răng giả, trám răng, và những lời hứa hẹn trơn tru
về “quy tŕnh không đau”.
Chàng bán đàn thích phiêu lưu dừng lại ở góc phố, suy nghĩ. Rồi anh băng
qua đường, đi ngược lại một đoạn, rồi lại băng sang bên kia và ḥa vào
ḍng người đang đi lên. Lúc đi ngang qua người da đen lần nữa, anh cố tỏ
ra không để ư và nhận lấy một tấm thiệp được trao với vẻ thờ ơ. Đi thêm
mười bước, anh kiểm tra tấm thiệp. Lại là ḍng chữ quen thuộc bằng nét
chữ tay giống hệt lần trước: “The Green Door.”
Ba, bốn tấm thiệp nữa bị người đi đường - cả phía trước lẫn phía sau anh
- vứt xuống vỉa hè. Tất cả đều rơi xuống với mặt trống hướng lên. Rudolf
cúi xuống lật chúng lại. Mỗi tấm đều in sẵn nội dung quảng cáo của
“pḥng khám nha khoa.”
Hiếm khi thần phiêu lưu phải vẫy gọi Rudolf Steiner đến lần thứ hai.
Nhưng nay điều đó đă xảy ra - và cuộc truy t́m đă bắt đầu. Rudolf thong
thả quay lại chỗ người da đen to lớn đang đứng bên chiếc tủ răng giả
lạch cạch. Lần này, khi anh đi ngang qua, người đó không đưa cho anh tấm
thiệp nào. Bất chấp bộ trang phục ḷe loẹt và kỳ cục, người đàn ông da
đen ấy vẫn toát lên vẻ oai phong hoang dă một cách tự nhiên, khi anh ta
đứng đó, lịch thiệp phát thiệp cho một số người, c̣n những người khác
th́ để yên cho đi qua. Cứ nửa phút, anh ta lại cất lên một câu nói khàn
khàn, khó hiểu, nghe giống như tiếng lảm nhảm của nhân viên tàu điện
hoặc một đoạn hát trong vở opera lớn. Và không chỉ là không đưa thiệp,
Rudolf c̣n có cảm giác rằng anh nhận được từ gương mặt đen bóng đồ sộ
kia một ánh nh́n lạnh lùng, gần như khinh khỉnh.
Cái nh́n ấy khiến chàng phiêu lưu nhói ḷng. Trong đó, Rudolf đọc thấy
một lời buộc tội thầm lặng rằng anh đă bị xét là kém cỏi. Dù những chữ
viết bí ẩn trên tấm thiệp có ư nghĩa ǵ đi nữa, người da đen kia đă hai
lần chọn anh giữa đám đông để trao thiệp; vậy mà giờ đây lại có vẻ như
lên án anh không đủ thông minh và dũng cảm để dấn thân vào điều bí ẩn
ấy.
Tránh sang một bên khỏi ḍng người vội vă, chàng trai trẻ nhanh chóng
quan sát ṭa nhà mà anh tin là nơi cuộc phiêu lưu đang chờ đợi. Nó cao
năm tầng. Tầng hầm là một nhà hàng nhỏ. Tầng trệt, giờ đă đóng cửa,
dường như từng là cửa hàng mũ hoặc đồ lông thú. Tầng hai, qua những ḍng
chữ điện nhấp nháy, là nơi đặt pḥng khám nha sĩ. Trên nữa là một loạt
biển hiệu hỗn độn bằng nhiều thứ tiếng, chen chúc quảng cáo cho các thầy
bói, thợ may, nhạc sĩ và bác sĩ. Cao hơn nữa, những tấm rèm buông kín và
những chai sữa trắng trên bậu cửa sổ cho thấy đó là khu vực cư trú.
Sau khi quan sát kỹ, Rudolf rảo bước lên bậc thang đá cao để vào ṭa
nhà. Anh đi tiếp lên hai tầng cầu thang trải thảm, rồi dừng lại ở chiếu
nghỉ. Hành lang ở đó được chiếu sáng lờ mờ bởi hai ngọn đèn khí nhỏ —
một ở xa bên phải, một ở gần bên trái. Anh nh́n về phía ngọn đèn gần và
thấy, trong quầng sáng nhợt nhạt của nó, một cánh cửa xanh. Trong một
thoáng, anh do dự; rồi như thấy lại cái cười mỉa mai đầy khinh bỉ của gă
da đen phát thiệp, anh liền bước thẳng tới cánh cửa xanh và gơ lên đó.
Những giây phút trôi qua trước khi tiếng gơ được đáp lại như đo bằng
nhịp thở gấp gáp của một cuộc phiêu lưu đích thực. Có thể có ǵ sau cánh
cửa xanh kia? Những tay bạc đang chơi; những kẻ gian xảo giăng bẫy bằng
thủ đoạn tinh vi; một mỹ nhân đang yêu ḷng dũng cảm và sẵn sàng để được
t́m thấy; nguy hiểm, cái chết, t́nh yêu, thất vọng, chế giễu — bất cứ
điều ǵ trong số đó đều có thể là câu trả lời cho cú gơ liều lĩnh ấy.
Một âm thanh khẽ như tiếng sột soạt vang lên từ bên trong, rồi cánh cửa
chậm răi mở ra. Một cô gái chưa đầy hai mươi tuổi đứng đó, mặt tái nhợt
và lảo đảo. Cô buông tay khỏi tay nắm cửa và nghiêng người yếu ớt, chới
với t́m chỗ bám. Rudolf vội đỡ lấy cô và đặt cô nằm lên chiếc ghế bành
cũ kỹ đặt sát tường. Anh đóng cửa lại và đảo mắt nhanh quanh pḥng dưới
ánh đèn khí chập chờn. Căn pḥng gọn gàng, nhưng sự nghèo túng đến tận
cùng hiện rơ qua từng chi tiết.
Cô gái nằm im, như thể đă ngất đi. Rudolf lo lắng nh́n quanh pḥng để
t́m một cái thùng. Người ta phải lăn lên thùng những người… không,
không, đó là cho người chết đuối. Anh bắt đầu quạt cho cô bằng chiếc mũ
của ḿnh. Việc đó có hiệu quả, v́ anh lỡ đánh vào mũi cô bằng vành mũ
cứng, khiến cô mở mắt. Và rồi chàng trai trẻ nhận ra rằng đây chính là
gương mặt duy nhất c̣n thiếu trong bộ sưu tập chân dung thân quen của
trái tim anh. Đôi mắt xám trong sáng, chiếc mũi nhỏ hơi hếch đáng yêu,
mái tóc hạt dẻ xoăn nhẹ như dây leo đậu — tất cả như phần thưởng xứng
đáng cho mọi cuộc phiêu lưu kỳ diệu mà anh từng trải qua. Nhưng khuôn
mặt ấy gầy g̣ và nhợt nhạt đến xót xa.
Cô gái nh́n anh điềm tĩnh, rồi mỉm cười.
“Em ngất đúng không?” cô yếu ớt hỏi. “Vâng, ai mà chẳng ngất! Anh thử
nhịn ăn ba ngày liền xem sao!”
“Himmel!” Rudolf bật thốt, bật dậy. “Chờ anh quay lại ngay!”
Anh lao ra khỏi cánh cửa xanh, chạy xuống cầu thang. Hai mươi phút sau,
anh quay lại, dùng mũi giày gơ vào cửa để cô ra mở. Trên tay anh là một
đống hàng hóa ôm chặt lấy thân người - từ tiệm tạp hóa và nhà hàng. Anh
đặt chúng lên bàn: bánh ḿ và bơ, thịt nguội, bánh ngọt, bánh nướng, dưa
muối, hàu, một con gà quay, một chai sữa và một b́nh trà đỏ nóng hổi.
“Thật vô lư,” Rudolf nói to vẻ giận dữ, “nhịn ăn thế này là không được!
Em phải dừng ngay những vụ cá cược bầu cử kiểu này. Bữa tối đă sẵn sàng
rồi.” Anh đỡ cô ngồi vào ghế bên bàn và hỏi: “Có cái cốc nào để rót trà
không?”
“Trên kệ, bên cửa sổ,” cô đáp. Khi anh quay lại với cái cốc, anh thấy cô
với đôi mắt sáng long lanh, đang bắt đầu ăn một quả dưa muối to mà cô đă
moi ra từ đống túi giấy - đúng với bản năng không thể nhầm lẫn của một
người phụ nữ. Anh cười, lấy lại quả dưa và rót đầy cốc sữa.
“Uống cái này trước,” anh ra lệnh, “rồi sẽ được uống trà, sau đó là một
chiếc cánh gà. Nếu em ngoan, mai sẽ được ăn dưa muối. C̣n giờ, nếu em
cho phép, anh sẽ là khách dùng bữa tối nay.”
Anh kéo chiếc ghế c̣n lại ra ngồi. Trà làm sáng đôi mắt cô gái và đem
chút sắc hồng trở lại khuôn mặt. Cô bắt đầu ăn với vẻ thèm thuồng nhưng
vẫn giữ được nét dịu dàng — như một con thú hoang nhỏ đói khát. Cô dường
như xem sự hiện diện và sự giúp đỡ của chàng trai trẻ là điều tự nhiên —
không phải v́ coi thường lễ nghi, mà như thể hoàn cảnh nghiệt ngă đă cho
cô quyền gạt bỏ những khuôn sáo để giữ lại tính người. Nhưng dần dần,
khi sức lực và sự dễ chịu quay trở lại, th́ cảm giác về những quy tắc
nhỏ cũng trở lại theo, và cô bắt đầu kể anh nghe câu chuyện nhỏ của
ḿnh.
Đó là một câu chuyện trong hàng ngàn câu chuyện mà thành phố thờ ơ nghe
mỗi ngày — câu chuyện của một cô gái bán hàng với đồng lương ít ỏi, lại
bị trừ tiền v́ những “khoản phạt” để tăng lợi nhuận cho cửa hàng; rồi
thời gian nghỉ việc do ốm đau; tiếp đến là mất việc, mất hy vọng — và
rồi, là tiếng gơ cửa của một kẻ phiêu lưu nơi cánh cửa xanh.
Nhưng với Rudolf, câu chuyện ấy vang lên vĩ đại như Iliad hay như chương
gay cấn nhất trong “Thử thách t́nh yêu của Junie.”
“Thật không thể tin nổi là em đă phải trải qua tất cả chuyện đó,” anh
thốt lên.
“Nó… khủng khiếp lắm,” cô gái nghiêm nghị nói.
“Và em không có họ hàng hay bạn bè nào trong thành phố sao?”
“Không một ai cả.”
“Tôi cũng cô đơn trên đời này,” Rudolf nói sau một khoảng lặng.
“Thế th́ tốt quá,” cô gái đáp ngay; và không hiểu sao điều đó khiến
chàng trai cảm thấy vui — như thể việc cô tán thành hoàn cảnh đơn độc
của anh là một niềm an ủi ngọt ngào.
Bất chợt, mí mắt cô khép xuống và cô thở dài.
“Em buồn ngủ kinh khủng,” cô th́ thầm, “và cảm thấy dễ chịu quá chừng.”
Rudolf liền đứng dậy, cầm lấy mũ. “Anh xin chào tạm biệt. Một giấc ngủ
dài sẽ tuyệt vời cho em.”
Anh đưa tay ra, cô bắt lấy và nói “Chúc ngủ ngon.” Nhưng đôi mắt cô hỏi
một điều ǵ đó — một cách tha thiết, thẳng thắn và đầy khẩn cầu đến mức
anh phải đáp lời bằng tiếng nói:
“Ồ, mai anh sẽ quay lại xem em thế nào. Em không dễ ǵ tống khứ được anh
đâu.”
Rồi, khi đă đứng ở cửa, như thể cách anh đến đây chẳng quan trọng bằng
việc anh đă đến, cô hỏi:
“Sao anh lại gơ đúng cửa pḥng em?”
Anh nh́n cô một lúc, nhớ đến hai tấm thiệp, và bỗng cảm thấy một nỗi
ghen tuông xé ḷng. Lỡ như thiệp rơi vào tay ai đó cũng liều lĩnh như
anh th́ sao? Anh lập tức quyết định rằng cô không bao giờ được biết sự
thật. Anh sẽ không để cô hay rằng anh biết đến cách tuyệt vọng mà cô
từng phải dùng để t́m sự cứu giúp.
“Một người lên dây đàn piano của chỗ anh sống ở ṭa nhà này,” anh nói.
“Anh gơ nhầm cửa thôi.”
Thứ cuối cùng anh thấy trong căn pḥng trước khi cánh cửa xanh khép lại
là nụ cười của cô.
Trên chiếu nghỉ cầu thang, Rudolf dừng lại và ṭ ṃ nh́n quanh. Rồi anh
đi đến đầu kia hành lang; và, sau đó, lại leo tiếp lên tầng trên, tiếp
tục cuộc khám phá đầy bối rối của ḿnh. Mỗi cánh cửa anh thấy trong ṭa
nhà đều sơn màu xanh lục.
Vừa băn khoăn, anh bước xuống vỉa hè. Gă người Phi kỳ lạ vẫn đứng ở đó.
Rudolf tiến lại gần, tay cầm hai tấm thiệp.
“Ông có thể nói cho tôi biết v́ sao ông đưa tôi những tấm này, và chúng
có ư nghĩa ǵ không?” anh hỏi.
Người da đen nở nụ cười tươi rói, để lộ một hàm răng trắng bóng — một
quảng cáo tuyệt vời cho nghề của chủ hắn.
“Nó kia ḱa, ông chủ,” hắn nói, chỉ xuống cuối phố. “Nhưng tôi đoán chắc
là ngài đến hơi trễ cho màn đầu rồi.”
Rudolf nh́n theo hướng hắn chỉ và thấy phía trên lối vào một nhà hát
đang rực sáng biển hiệu điện tử: “Cánh Cửa Xanh”, vở kịch mới của rạp.
“Tôi nghe nói nó là một vở diễn xuất sắc, thưa ngài,” người da đen nói.
“Người đại diện của vở đó có tặng tôi một đô la để phát vài tấm thiệp
của họ chung với thiệp của ông bác sĩ. Ngài có muốn một tấm thiệp của
ông bác sĩ không ạ?”
Khi đến góc phố nơi ḿnh ở, Rudolf dừng lại, vào quán gọi một ly bia và
một điếu x́ gà. Khi bước ra ngoài, tay châm điếu x́ gà, anh cài khuy áo
khoác, đẩy ngược mũ lên và nói một cách quả quyết với cột đèn ở góc
đường:
“Dù sao đi nữa, tôi tin đó là bàn tay của Định Mệnh đă bày ra con đường
để tôi t́m thấy cô ấy.”
Và với kết luận ấy — trong hoàn cảnh ấy — Rudolf Steiner xứng đáng được
ghi tên vào hàng ngũ những tín đồ chân chính của Lăng mạn và Phiêu lưu.
THÂN TRỌNG SƠN
Dịch và giới thiệu
Tháng 6 / 2025
Nguồn
https://americanliterature.com/author/o-henry/short-story/the-green-door/

Trang Thân Trọng
Sơn
art2all.net |