Thân Trọng Sơn

 

 

CHIẾC CHUÔNG

Hans Christian Andersen
( 1805 - 1875 )

 


 


          Hans Christian Andersen sinh ngày 2 tháng 4 năm 1805 tại Odense, Đan Mạch, trong một gia đ́nh nghèo khó. Cha ông là một người thợ đóng giày, người đă nuôi dưỡng trí tưởng tượng của con trai bằng những câu chuyện dân gian và tự làm cho ông một sân khấu đồ chơi. Mẹ ông là một người giặt thuê.


Khi cha qua đời vào năm 1816, cậu bé Hans Christian mới 11 tuổi gần như phải tự lập. Năm 14 tuổi, cậu bé cao lớn, vụng về ấy một ḿnh đến Copenhagen, quyết tâm trở nên nổi tiếng — với tư cách là diễn viên, ca sĩ hoặc vũ công. Ông thử giọng tại Nhà hát Hoàng gia Đan Mạch nhưng bị từ chối.


Tài năng thô sơ của Andersen đă thu hút sự chú ư của Jonas Collin, một giám đốc của Nhà hát Hoàng gia Đan Mạch, người sau này trở thành ân nhân suốt đời của ông. Collin sắp xếp để Andersen trẻ tuổi được học tại trường ngữ pháp ở Slagelse và sau đó là Helsingør.


Đó là một trải nghiệm nhục nhă đối với một thiếu niên khi phải học cùng những học sinh nhỏ tuổi hơn nhiều. Ông chịu đựng sự bắt nạt và một hiệu trưởng nổi tiếng khắc nghiệt. Dù trải qua những khó khăn ấy, Andersen vẫn kiên tŕ và vào Đại học Copenhagen năm 1828, mặc dù trước đó ông đă bắt đầu xuất bản thơ và văn xuôi.


Andersen gần như là người đă tạo ra cách viết eventyr — tức truyện cổ tích phiêu lưu hay truyện kỳ ảo — bằng cách phá vỡ mạnh mẽ truyền thống văn học thời đó.


Trong khi anh em nhà Grimm sưu tầm và kể lại những truyện dân gian có sẵn, Andersen sáng tạo ra những câu chuyện cổ tích văn học hoàn toàn mới, được viết bằng ngôn ngữ đời thường, giống như giọng kể của một người kể chuyện đang tṛ chuyện với trẻ em.


Đây là một cuộc cách mạng: trước đó, chưa có một tác giả nghiêm túc nào viết cho trẻ em bằng ngôn ngữ gần gũi, hằng ngày như vậy. Những truyện cổ tích đầu tiên của ông xuất hiện vào năm 1835 gồm: “Hộp quẹt” (The Tinder-Box), “Cô bé Tí hon” (Thumbelina), “Công chúa và hạt đậu” (The Princess and the Pea), và “Claus lớn và Claus nhỏ” (Little Claus and Big Claus).


Trong bốn thập kỷ tiếp theo, ông viết khoảng 156 truyện cổ tích, được dịch ra hơn 125 ngôn ngữ, khiến ông trở thành một trong những tác giả được dịch nhiều nhất trong lịch sử.


Những câu chuyện nổi tiếng nhất của Andersen vẫn là những tác phẩm nền tảng của văn học thế giới.


“Nàng tiên cá” (The Little Mermaid, 1837) — một câu chuyện buồn về sự hy sinh và t́nh yêu đơn phương — đă truyền cảm hứng cho nhiều vở ba lê, phim ảnh và bức tượng đồng nổi tiếng ở Copenhagen.


“Vịt con xấu xí” (The Ugly Duckling, 1843) — thường được xem là câu chuyện mang tính tự truyện — biến những đau khổ thời thơ ấu thành một bài học phổ quát về việc khám phá bản thân.


“Nữ hoàng băng giá” (The Snow Queen, 1844) — truyện cổ tích dài nhất và tham vọng nhất của ông — sau này trở thành nguồn cảm hứng cho bộ phim Frozen của Disney.


“Bộ quần áo mới của Hoàng đế” (The Emperor’s New Clothes, 1837) đă tạo ra một ẩn dụ lâu dài về sự tự lừa dối của cả tập thể.


C̣n “Cô bé bán diêm” (The Little Match Girl, 1845) vẫn là một trong những câu chuyện Giáng sinh cảm động nhất từng được viết.


Những truyện được yêu thích khác gồm: “Đôi giày đỏ” (The Red Shoes, 1845), “Chim họa mi” (The Nightingale, 1843), “Chú lính ch́ dũng cảm” (The Steadfast Tin Soldier, 1838), “Bầy thiên nga hoang dă” (The Wild Swans, 1838), và “Cây thông Noel” (The Fir-Tree, 1844).


Thiên tài của Andersen nằm ở việc sử dụng sự mỉa mai, hài hước, cách tṛ chuyện trực tiếp với người đọc, cũng như khả năng đặc biệt trong việc trao tiếng nói cho những vật vô tri — đồ chơi, hoa cỏ, vật dụng trong nhà — biến chúng thành nhân vật chính trong những câu chuyện có sức lay động với độc giả mọi lứa tuổi.


Truyện cổ tích của ông bề ngoài có vẻ đơn giản nhưng ẩn chứa nhiều tầng ư nghĩa về xă hội, sự châm biếm và những cảm xúc phức tạp.


Khác với truyện của anh em nhà Grimm, nơi kẻ xấu thường bị trừng phạt và người tốt chiến thắng, truyện của Andersen thường kết thúc bằng sự mơ hồ hoặc nỗi buồn.
Nàng tiên cá tan biến thành bọt biển; cô bé bán diêm chết cóng; cây thông bị đốt cháy. Những kết thúc vừa ngọt ngào vừa cay đắng này phản ánh chính những đấu tranh của Andersen với sự cô đơn, địa vị xă hội và những khát khao không được đáp lại.


Andersen chưa từng kết hôn và cũng không có con. Ông từng trải qua một vài mối t́nh mănh liệt nhưng không được đáp lại, và những trải nghiệm ấy đă ảnh hưởng sâu sắc đến các tác phẩm của ông.


Ông có một t́nh cảm gắn bó sâu sắc với Edvard Collin, con trai của ân nhân Jonas Collin, và từng say mê Jenny Lind, nữ ca sĩ nổi tiếng được mệnh danh là “Chim họa mi Thụy Điển” (Swedish Nightingale), người xem ông như một người anh trai.


Những cuốn nhật kư và thư từ của ông cho thấy một con người giàu cảm xúc, luôn phải đấu tranh với sự cô đơn trong suốt cuộc đời.


Năm 1847, trong chuyến thăm Anh lần đầu tiên, Andersen gặp Charles Dickens.


Ông viết trong nhật kư: “Chúng tôi đă bước ra hiên nhà, tôi vô cùng hạnh phúc khi được nh́n thấy và tṛ chuyện với nhà văn c̣n sống của nước Anh mà tôi yêu quư nhất.”


Cả hai tác giả đều lên tiếng bảo vệ những người nghèo khó và những người bị thiệt tḥi, sáng tác những câu chuyện về sự vượt qua nghịch cảnh nhờ nỗ lực, ḷng tốt và may mắn.


Tuy nhiên, t́nh bạn của họ sau đó trở nên không c̣n tốt đẹp khi Andersen ở lại nhà Dickens, Gad’s Hill Place, trong chuyến thăm năm 1857 lâu tới năm tuần — khiến Dickens phải để lại một tờ giấy trong pḥng khách ghi rằng:


“Hans Andersen đă ngủ trong căn pḥng này suốt năm tuần, khoảng thời gian dường như dài bằng cả một thời đại đối với gia đ́nh.”


Những câu chuyện của Andersen đă truyền cảm hứng cho vô số vở kịch, opera, ba lê và phim ảnh — nổi bật nhất là các bộ phim của Disney như “Nàng tiên cá” (The Little Mermaid, 1989, 2023) và “Frozen” (2013).


Những câu chuyện của ông vượt qua ranh giới về tuổi tác và văn hóa, vẫn giữ nguyên sức sống cho đến ngày nay như khi chúng lần đầu được kể lại.


Giải thưởng quốc tế Hans Christian Andersen, do Hội đồng Quốc tế về Sách dành cho Thanh thiếu niên (IBBY) thành lập, là danh hiệu quốc tế cao quư nhất dành cho các tác giả và họa sĩ minh họa sách thiếu nhi.


Ngày sinh của ông, ngày 2 tháng 4, được kỷ niệm trên toàn thế giới là Ngày Sách Thiếu nhi Quốc tế.


Andersen qua đời vào ngày 4 tháng 8 năm 1875 tại Copenhagen, hưởng thọ 70 tuổi. Ông chưa bao giờ hoàn toàn hồi phục sau một chấn thương xảy ra do bị ngă khỏi giường hai năm trước đó. Ông được an táng tại Nghĩa trang Assistens (Assistens Cemetery) ở Copenhagen.


Hans Christian Andersen là một trong những nhà văn cổ tích nổi tiếng nhất thế giới, với nhiều tác phẩm không chỉ dành cho trẻ em mà c̣n chứa đựng những suy ngẫm sâu sắc về con người và cuộc sống. Truyện ngắn “Chiếc chuông “ là một tác phẩm tiêu biểu thể hiện quan niệm của Andersen về khát vọng hướng tới cái đẹp, sự thật và những giá trị tinh thần cao quư. Qua h́nh ảnh một chiếc chuông bí ẩn vang lên giữa thiên nhiên, tác giả gửi gắm nhiều thông điệp về hành tŕnh t́m kiếm ư nghĩa cuộc sống của con người.


Trước hết, h́nh tượng chiếc chuông là biểu tượng trung tâm của tác phẩm. Ban đầu, tiếng chuông vang lên từ một nơi xa xôi, khiến nhiều người ṭ ṃ và muốn t́m kiếm nguồn gốc của nó. Tuy nhiên, không ai biết chính xác chiếc chuông nằm ở đâu, bởi âm thanh của nó dường như vừa gần gũi vừa khó nắm bắt. Chiếc chuông không chỉ là một vật thể thông thường mà trở thành biểu tượng cho những điều cao đẹp mà con người luôn khao khát: chân lư, vẻ đẹp, sự hoàn thiện và lư tưởng sống. Nó đại diện cho tiếng gọi của tâm hồn, thúc đẩy con người vượt qua giới hạn của bản thân để đi t́m những giá trị lớn lao hơn.


Bên cạnh đó, hành tŕnh t́m kiếm chiếc chuông thể hiện khát vọng khám phá và vươn lên của con người. Những người t́m kiếm chiếc chuông xuất phát từ nhiều tầng lớp khác nhau, mỗi người có một cách cảm nhận riêng về âm thanh ấy. Có người t́m kiếm v́ ṭ ṃ, có người v́ mong muốn chứng minh bản thân, nhưng cũng có những người thực sự bị dẫn dắt bởi một niềm tin vào cái đẹp. Andersen cho thấy rằng con người chỉ có thể chạm tới những giá trị cao quư khi họ có sự kiên tŕ, ḷng chân thành và một tâm hồn nhạy cảm.


Một ư nghĩa quan trọng khác của tác phẩm là sự đối lập giữa vẻ đẹp bên ngoài và giá trị bên trong. Nhiều người trong truyện bị hấp dẫn bởi những thứ dễ nh́n thấy, dễ đạt được, nhưng chiếc chuông thật sự lại gắn với một trải nghiệm tinh thần sâu sắc. Qua đó, Andersen phê phán thói quen đánh giá mọi thứ bằng vẻ bề ngoài và nhấn mạnh rằng những điều quư giá nhất thường không dễ dàng nhận ra. Con người cần biết lắng nghe bằng trái tim thay v́ chỉ bằng giác quan.


Ngoài ra, “Chiếc chuông ” c̣n thể hiện tư tưởng nhân văn của Andersen về sự trưởng thành. Hành tŕnh đi t́m tiếng chuông cũng là hành tŕnh con người khám phá chính ḿnh. Khi vượt qua khó khăn, họ không chỉ đến gần hơn với mục tiêu mà c̣n trở nên tốt đẹp hơn. Chiếc chuông v́ thế không chỉ nằm ở một nơi cụ thể mà c̣n tồn tại trong tâm hồn mỗi người, như một lời nhắc nhở về việc luôn hướng tới điều thiện và cái đẹp.


Về nghệ thuật, Andersen sử dụng lối kể chuyện giàu tính biểu tượng và chất thơ. Tiếng chuông trong truyện vừa có tính hiện thực vừa mang màu sắc huyền ảo, tạo nên không khí đặc trưng của truyện cổ tích. Cách xây dựng h́nh ảnh biểu tượng giúp tác phẩm vượt ra ngoài một câu chuyện đơn giản để trở thành một bài học về đời sống tinh thần.


Tóm lại, “Chiếc chuông ” của Andersen là câu chuyện về hành tŕnh con người đi t́m cái đẹp và ư nghĩa đích thực của cuộc sống. Chiếc chuông không chỉ là một âm thanh bí ẩn mà là biểu tượng của lư tưởng, niềm tin và khát vọng hoàn thiện bản thân. Qua tác phẩm, Andersen nhắn gửi rằng những giá trị cao quư không phải lúc nào cũng hiện hữu trước mắt; chúng chỉ được t́m thấy bởi những người có ḷng kiên tŕ, sự trong sáng và khả năng cảm nhận bằng tâm hồn.


 


 

          Chiếc Chuông (1845) là một câu chuyện cổ tích mang tính suy ngẫm về hành tŕnh t́m kiếm cái đẹp và sự thật, khi một âm thanh chuông bí ẩn trong khu rừng thu hút những người t́m kiếm từ mọi tầng lớp. “Chiếc chuông ấy treo ở đâu, và ai là người rung nó?”
 


          Người ta nói: “Tiếng Chuông Chiều đang vang lên, mặt trời đang lặn.”
Bởi v́ một âm thanh kỳ lạ, tuyệt diệu đă được nghe thấy trong những con phố chật hẹp của một thành phố lớn. Nó giống như tiếng chuông nhà thờ, nhưng chỉ vang lên trong chốc lát, v́ tiếng xe cộ lăn bánh và tiếng nói chuyện ồn ào của đám đông đă át mất âm thanh ấy.


Những người đang đi bộ ở bên ngoài thành phố, nơi những ngôi nhà nằm cách xa nhau hơn, có những khu vườn hoặc cánh đồng nhỏ xen kẽ, có thể nh́n thấy bầu trời buổi chiều rơ hơn, và nghe tiếng chuông vang lên rơ ràng hơn nhiều.


Dường như những âm thanh ấy phát ra từ một nhà thờ nằm trong khu rừng yên tĩnh; mọi người hướng mắt về phía đó, và cảm thấy tâm hồn ḿnh trở nên lắng đọng, trang nghiêm.


Thời gian dài trôi qua, người ta nói với nhau:
Ta tự hỏi liệu có một nhà thờ nào đó trong rừng không nhỉ? Tiếng chuông ấy có âm thanh kỳ diệu và ngọt ngào biết bao; hăy đi dạo đến đó và t́m hiểu kỹ hơn xem.


Những người giàu có th́ đi xe ra đó, c̣n người nghèo th́ đi bộ, nhưng con đường dường như dài một cách kỳ lạ đối với họ. Khi họ đến một bụi cây liễu mọc ở ŕa khu rừng, họ ngồi xuống, ngước nh́n những cành cây dài, và tưởng tượng rằng ḿnh đă ở sâu trong khu rừng xanh thẳm.


Người thợ làm bánh kẹo trong thành phố đi ra đó và dựng một quầy bán hàng; ngay sau đó một người bán bánh kẹo khác cũng đến, treo một chiếc chuông phía trên quầy như một dấu hiệu hoặc vật trang trí. Nhưng chiếc chuông ấy không có quả lắc, và được phủ nhựa đường để tránh bị mưa làm hỏng.


Khi mọi người trở về nhà, họ nói rằng chuyến đi ấy thật lăng mạn, và hoàn toàn khác với một buổi dă ngoại hay tiệc trà thông thường.


Có ba người khẳng định rằng họ đă đi đến tận cuối khu rừng, và rằng họ luôn nghe thấy âm thanh kỳ diệu của chiếc chuông, nhưng đối với họ, dường như tiếng chuông lại phát ra từ phía thành phố. Một người trong số đó đă viết hẳn một bài thơ dài về điều này, nói rằng tiếng chuông giống như giọng nói của một người mẹ dành cho đứa con ngoan yêu quư, và rằng không có giai điệu nào ngọt ngào hơn âm thanh của chiếc chuông ấy.


Nhà vua của đất nước cũng chú ư đến chuyện này, và tuyên bố rằng ai có thể t́m ra nơi phát ra âm thanh ấy sẽ được phong danh hiệu “Người Rung Chuông Toàn Cơi”, ngay cả khi thứ đó thực sự không phải là một chiếc chuông.


Từ đó, rất nhiều người đi vào rừng chỉ để t́m kiếm nơi ấy, nhưng chỉ có một người trở về với một lời giải thích nào đó; dù thực ra người này cũng không đi xa hơn những người khác.


Tuy nhiên, anh ta nói rằng âm thanh ấy phát ra từ một con cú rất lớn sống trong một thân cây rỗng; đó là một con cú có vẻ rất uyên bác, luôn đập đầu vào những cành cây. Nhưng liệu âm thanh phát ra từ đầu nó hay từ thân cây rỗng th́ không ai có thể khẳng định chắc chắn.


V́ vậy, người này được trao danh hiệu “Người Rung Chuông Toàn Cơi”, và hằng năm anh ta viết một bài luận ngắn với tựa đề “Về Loài Cú”; nhưng mọi người cũng chẳng hiểu biết hơn trước là bao.


Đó là ngày lễ thêm sức (lễ xác nhận đức tin). Vị mục sư đă nói những lời đầy xúc động, và những đứa trẻ được làm lễ đều vô cùng cảm động; đó là một ngày trọng đại đối với chúng. Từ những đứa trẻ, chúng bỗng chốc trở thành những người trưởng thành; cứ như thể tâm hồn trẻ thơ của chúng giờ đây lập tức bay vào những con người có nhiều hiểu biết hơn.


Mặt trời tỏa sáng rực rỡ. Những đứa trẻ vừa làm lễ xong đi ra khỏi thành phố, và từ khu rừng vọng lại âm thanh của chiếc chuông bí ẩn, rơ ràng và kỳ diệu hơn bao giờ hết.


Tất cả bọn trẻ lập tức muốn đi đến đó, ngoại trừ ba đứa.


Một đứa phải về nhà để thử bộ váy dạ hội, v́ chính bộ váy và buổi khiêu vũ là lư do khiến cô bé tham dự lễ thêm sức lần này; nếu không th́ cô bé đă chẳng đến.


Đứa thứ hai là một cậu bé nghèo, đă mượn áo khoác và đôi ủng của con trai ông chủ quán trọ để mặc trong lễ thêm sức, và cậu phải trả lại chúng đúng giờ.


Đứa thứ ba nói rằng cậu chưa bao giờ đến một nơi xa lạ nếu không có cha mẹ đi cùng; cậu luôn là một cậu bé ngoan cho đến nay, và sẽ vẫn như vậy sau khi làm lễ thêm sức. Cậu nói rằng mọi người không nên chế giễu cậu v́ điều đó. Tuy nhiên, những đứa khác cuối cùng vẫn trêu chọc cậu. V́ vậy có ba đứa không đi; những đứa c̣n lại vội vàng tiến vào rừng.


Mặt trời chiếu sáng, chim chóc hót vang, và bọn trẻ cũng hát theo. Chúng nắm tay nhau, bởi v́ lúc ấy chưa đứa nào có địa vị cao sang hay chức tước ǵ, và trong mắt Chúa, tất cả đều b́nh đẳng.


Nhưng chẳng bao lâu, hai đứa nhỏ nhất cảm thấy mệt và quay trở lại thành phố. Hai bé gái ngồi xuống để kết ṿng hoa, nên cũng không đi tiếp.


Khi những đứa c̣n lại đến cây liễu nơi người bán bánh kẹo đă dựng quầy, chúng nói:
Chúng ta đến rồi! Thật ra chiếc chuông không hề tồn tại; đó chỉ là một điều tưởng tượng mà mọi người đă tự nghĩ ra thôi!


Ngay lúc đó, tiếng chuông vang lên sâu trong khu rừng, trong trẻo và trang nghiêm đến mức năm hoặc sáu đứa trẻ quyết định đi sâu hơn một chút để t́m kiếm.


Khu rừng rất rậm rạp, cây cối um tùm, khiến việc đi lại vô cùng mệt nhọc. Cây mao lương và hoa hải quỳ mọc cao gần đến mức khó đi qua; những dây hoa b́m b́m đang nở và những bụi mâm xôi rủ xuống thành những ṿng dây dài nối từ cây này sang cây khác. Chim họa mi hót vang, những tia nắng nhảy múa xuyên qua kẽ lá.


Nơi ấy thật đẹp, nhưng không phải chỗ dành cho các cô gái đi vào; quần áo của họ sẽ bị rách hết.


Những tảng đá lớn nằm rải rác ở đó, phủ đầy rêu với đủ màu sắc. Ḍng suối trong lành trào lên, tạo ra một âm thanh róc rách kỳ lạ.


“Chắc chắn đó không thể là tiếng chuông được,” một đứa trẻ nói, nằm xuống và lắng nghe. “Chuyện này cần phải được xem xét.” V́ vậy, cậu bé ở lại, để những người khác tiếp tục đi mà không có ḿnh.


Sau đó, những đứa trẻ c̣n lại đến một ngôi nhà nhỏ làm bằng cành cây và vỏ cây. Một cây táo dại lớn nghiêng ḿnh che phủ phía trên, như thể muốn trút tất cả những phước lành của ḿnh xuống mái nhà, nơi những bông hồng đang nở rộ. Những thân dây dài quấn quanh đầu hồi, và trên đó có treo một chiếc chuông nhỏ.


Có phải đó là thứ mà mọi người đă nghe thấy không? Đúng vậy, tất cả mọi người đều đồng ư như thế, ngoại trừ một người. Người này nói rằng chiếc chuông ấy quá nhỏ và quá tinh tế để có thể được nghe thấy từ một khoảng cách xa như vậy; hơn nữa, âm thanh của nó cũng rất khác với thứ âm thanh có thể lay động trái tim con người mạnh mẽ đến thế. Người lên tiếng là một hoàng tử. V́ vậy, những người khác nói:
“Những người như thế lúc nào cũng muốn tỏ ra thông minh hơn tất cả mọi người.”


Giờ đây họ để hoàng tử đi tiếp một ḿnh.


Khi chàng bước đi, ḷng chàng ngày càng tràn đầy cảm giác về sự cô tịch của khu rừng; nhưng chàng vẫn nghe thấy tiếng chiếc chuông nhỏ mà những người khác rất hài ḷng. Thỉnh thoảng, khi gió thổi qua, chàng c̣n nghe thấy tiếng những người đang ngồi uống trà ở nơi người bán bánh kẹo dựng lều hát lên.


Nhưng âm thanh trầm sâu của chiếc chuông vẫn vang lên lớn hơn; gần như thể có một cây đàn organ đang ḥa cùng nó, và những âm thanh ấy dường như phát ra từ phía bên trái — nơi trái tim được đặt.


Một tiếng xào xạc vang lên trong bụi cây, và một cậu bé nhỏ xuất hiện trước mặt hoàng tử. Cậu bé đi đôi giày gỗ, mặc một chiếc áo khoác ngắn đến mức có thể nh́n thấy đôi cổ tay dài của cậu.


Hai người nhận ra nhau: cậu bé chính là một trong những đứa trẻ đă không thể đi cùng lúc trước v́ phải về nhà trả áo khoác và đôi ủng cho con trai ông chủ quán trọ.


Cậu đă làm xong việc đó, và giờ đang tiếp tục đi với đôi giày gỗ cùng bộ quần áo giản dị của ḿnh, bởi v́ tiếng chuông vang lên với một âm thanh sâu thẳm và sức mạnh kỳ lạ đến mức cậu nhất định phải tiến bước.


“Vậy th́ chúng ta có thể đi cùng nhau,” hoàng tử nói.


Nhưng cậu bé nghèo vừa làm lễ thêm sức cảm thấy rất xấu hổ; cậu nh́n xuống đôi giày gỗ của ḿnh, kéo kéo đôi tay áo ngắn của chiếc áo khoác, rồi nói rằng cậu e ḿnh không thể đi nhanh như hoàng tử được. Hơn nữa, cậu nghĩ rằng chiếc chuông cần phải được t́m về phía bên phải; bởi v́ đó là nơi có đủ loại điều tuyệt đẹp.


“Nhưng nếu vậy th́ chúng ta sẽ không gặp nhau đâu,” hoàng tử nói, đồng thời gật đầu chào cậu bé nghèo.


Cậu bé đi vào phần tối tăm và rậm rạp nhất của khu rừng, nơi những bụi gai xé rách bộ quần áo giản dị của cậu, cào xước mặt, tay và chân cậu đến chảy máu.


Hoàng tử cũng bị vài vết xước, nhưng ánh mặt trời chiếu sáng trên con đường của chàng, và chúng ta sẽ đi theo chàng, bởi v́ chàng là một chàng trai xuất sắc và đầy quyết tâm. “Ta nhất định phải và sẽ t́m ra chiếc chuông,” chàng nói, “dù ta có phải đi đến tận cùng thế giới.”


Những con khỉ xấu xí ngồi trên cây, nhe răng cười nhạo.


“Chúng ta có nên đánh cho hắn một trận không?” chúng nói. “Có nên đánh cho hắn một trận không? Hắn là con trai của nhà vua đấy!”


Nhưng chàng vẫn tiếp tục đi, không hề nản ḷng, càng lúc càng tiến sâu hơn vào khu rừng, nơi những loài hoa kỳ diệu nhất đang mọc.


Ở đó có những bông huệ trắng với nhị hoa đỏ như máu, những bông tulip xanh như bầu trời tỏa sáng khi đung đưa trong gió, và những cây táo có quả trông giống hệt như những bong bóng xà pḥng khổng lồ. Hăy thử tưởng tượng xem những cái cây ấy phải lấp lánh dưới ánh mặt trời đến mức nào!


Xung quanh những đồng cỏ xanh tươi tuyệt đẹp, nơi những con nai đang vui đùa trong cỏ, mọc những cây sồi và cây dẻ gai hùng vĩ. Và nếu vỏ của một cái cây nào đó bị nứt ra, th́ trong những khe nứt ấy lại mọc lên những đám cỏ và những dây leo dài ḅ lan.


Ở đó cũng có những hồ nước lớn, yên b́nh, nơi những con thiên nga trắng đang bơi lội và vỗ cánh làm rung chuyển không khí.


Hoàng tử nhiều lần dừng lại và lắng nghe. Chàng nghĩ rằng tiếng chuông phát ra từ sâu trong những hồ nước tĩnh lặng ấy; nhưng rồi chàng lại nhận ra rằng âm thanh ấy không đến từ đó, mà từ một nơi xa hơn nữa, sâu thẳm hơn trong khu rừng.


Mặt trời lúc này đă lặn; bầu không khí rực sáng như lửa. Trong khu rừng vẫn yên tĩnh, tĩnh lặng đến lạ thường; và chàng quỳ xuống, hát bài thánh ca buổi tối của ḿnh, rồi nói:
“Ta không thể t́m thấy điều ta đang t́m kiếm; mặt trời đang lặn, và màn đêm đang đến — một đêm tối tăm, tối tăm. Nhưng có lẽ ta vẫn c̣n có thể nh́n thấy mặt trời tṛn đỏ một lần nữa trước khi nó hoàn toàn biến mất. Ta sẽ trèo lên tảng đá kia.”


Chàng nắm lấy những dây cây leo và rễ cây, trèo lên những tảng đá ẩm ướt nơi những con rắn nước đang uốn ḿnh và những con cóc đang kêu vang. Chàng lên được đỉnh đá trước khi mặt trời hoàn toàn khuất bóng.


Cảnh tượng từ trên cao thật hùng vĩ biết bao!


Biển cả — biển cả rộng lớn, tráng lệ, nơi những con sóng dài đập vào bờ — trải rộng trước mắt chàng. Và ở nơi xa kia, nơi biển và bầu trời gặp nhau, mặt trời đứng đó như một bàn thờ lớn đang tỏa sáng, tất cả ḥa tan trong những sắc màu rực rỡ nhất.


Khu rừng và biển cả cùng cất lên một bài ca vui mừng, và trái tim chàng cũng ḥa chung với tất cả: toàn bộ thiên nhiên là một nhà thờ linh thiêng rộng lớn, nơi những hàng cây và những đám mây nhẹ bay là những cây cột, hoa cỏ là tấm thảm nhung mềm mại, c̣n chính bầu trời là mái ṿm khổng lồ.


Những sắc đỏ phía trên dần phai nhạt khi mặt trời biến mất, nhưng hàng triệu v́ sao được thắp sáng, hàng triệu ngọn đèn bắt đầu lung linh.


Hoàng tử dang rộng ṿng tay hướng về bầu trời, khu rừng và biển cả; th́ đúng lúc đó, từ một con đường bên phải xuất hiện cậu bé nghèo đă làm lễ thêm sức cùng chàng, vẫn đi đôi giày gỗ và mặc chiếc áo khoác cũ.


Cậu đă đi theo con đường riêng của ḿnh, và cũng đến nơi này đúng lúc hoàng tử vừa tới.


Hai người chạy về phía nhau, rồi đứng cạnh nhau, nắm tay nhau giữa nhà thờ bao la của thiên nhiên và thi ca.


Trên đầu họ, tiếng chiếc chuông thánh vô h́nh vang lên. Những linh hồn phước lành bay lượn quanh họ, và cất cao giọng hát trong niềm vui sướng:
“Hallelujah!” (Ngợi ca Chúa!)


THÂN TRỌNG SƠN
Dịch và giới thiệu
Tháng 6 / 2026

 


Nguồn:
https://americanliterature.com/author/hans-christian-andersen/short-story/the-bell

 

 

Trang Thân Trng Sơn

art2all.net