|
Thân Trọng Sơn
CHƠI
"Con người chỉ thực sự là chính ḿnh, khi chơi", Schiller. "Chơi cho lịch mới là chơi, Chơi cho đài các cho người biết tay.
Đó là câu của Nguyễn Công Trứ trong bài hát nói Cầm kỳ thi tửu. C̣n các trường mầm non th́ nêu khẩu hiệu: Chơi mà học, Học bằng chơi.
Vậy, chơi là ǵ?
Những ngộ nhận về chơi
Trong tiếng Việt có nhiều từ, hoặc từ ghép có chứa chữ/tiếng chơi. Như ăn chơi, chơi bời, chơi bạc, chơi đàn, chơi thuốc… Thậm chí chơi trăng (“Ăn như thuyền chở mă, làm như ả chơi trăng” – ca dao), chơi nguyệt (“Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt/ Cho cả cành đa lẫn củ đa” – Hồ Xuân Hương)… Như vậy, phần lớn có nghĩa tiêu cực, chơi đối lập với nghiêm túc.
Đây là hệ quả của lối tư duy lưỡng phân, biện biệt như Lăo Tử đă chỉ ra, hoặc trắng đen rơ ràng như dân gian Việt đ̣i hỏi. Có thể làm với người b́nh dân Việt là một đạo sống (sót), là có ích, nên ít nhiều họ có ác cảm với chơi như một thứ không làm (“tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”).
C̣n trong giới trí thức Nho học, hoặc những người ảnh hưởng Nho học Việt, th́ chơi như một vi phạm đạo đức chính thống của Nho gia. Trong văn chương, Tản Đà thi sĩ, thậm chí, cũng chia thành văn có ích và văn chơi. Chơi, v́ thế, đă đồng nghĩa với không làm, không có ích, không nghiêm túc.
Có một nghiên cứu sinh làm luận án tiến sĩ văn học về tṛ chơi trong thơ hiện đại Việt Nam có sử dụng lư thuyết tṛ chơi để lư giải những hiện tượng cách tân trong thơ Việt hiện đại đă bị hiểu lầm trầm trọng. Một phó giáo sư thành viên của Hội đồng chấm Luận án cấp Nhà nước vẫn coi tṛ chơi là một cái ǵ đó không nghiêm túc, nên không thể áp dụng vào nghiên cứu một đối tượng nghiêm túc như văn học. Một nhà chuyên môn c̣n như vậy, nên không trách được sự hiểu lầm của những người có diễn ngôn quyền lực lại không có chuyên môn. Điều này làm tác giả luận án trên e ngại không dám cho in công tŕnh khoa học của ḿnh.
Rất may, dịch giả Phạm Minh Quân đă bỏ công sức ra dịch cuốn Homo Ludens: A Study of the Play-Element of Culture (Người chơi: Một nghiên cứu sự chơi như là yếu tố của văn hóa) của nhà triết học văn hóa người Hà Lan Johan Huizinga. Công tŕnh nổi tiếng thế giới này hy vọng sẽ tháo gỡ những ngộ nhận, làm thay đổi suy nghĩ của bạn đọc về Chơi/Sự chơi.
Nhân loại là ‘người chơi”
Nhan đề Homo Ludens, một mặt như một kiểu chơi chữ v́ nó tiếp tục các tên gọi của những giai đoạn phát triển khác nhau của loài người như Homo Sapiens (Người khôn), Homo Faber (Người chế tác), Homo Sapiens Sapiens (Người hiện đại), và hiện nay c̣n có thể là Homo Deus (Người – Thượng đế). Mặt khác, Homo Ludens không chỉ phát triển theo thời gian, mà là phi thời gian, bởi đó là một chiều kích bản thể của con người. Nét thứ hai này mới chính là trọng tâm của công tŕnh Người chơi của Huizinga.
Nghiên cứu Người chơi, bao gồm cả chơi, sự chơi (play), tṛ chơi (game), Johan Huizinga nhận thấy rằng chơi là một thuộc tính/chiều kích/bản thể của con người, thậm chí cả trước-người là động vật. Tuy nhiên, chơi ở động vật là thuần túy bản năng, là do thiên nhiên lập tŕnh sẵn. Chỉ có ở con người mới có chơi đúng nghĩa.
Huizinga xác lập năm đặc trưng cố hữu của chơi. Đầu tiên, chơi tự do, nên chơi chính là sự tự do. Thứ hai, chơi cũng nằm ngoài đời sống “b́nh thường” hay “thực tế,” bởi vậy dẫn đến đặc trưng thứ ba là chơi bước ra ngoài đời sống thực để bước vào một giới hạn nhất định về thời gian và không gian (thời lượng chơi và sân chơi). Đặc điểm thứ tư là chơi tạo ra một trật tự tuyệt đối và tối thượng (luật chơi). Và cuối cùng, chơi không hề liên hệ tới vụ lợi vật chất.
Johan Huizinga đặt ra một định đề táo bạo và lư thú: Chơi có trước cả văn hóa. Chơi đóng vai tṛ là một điều kiện thiết yếu cho sự khai sinh văn hóa cũng như khai hóa văn minh. Để chứng minh cho tính phổ quát của chơi, ông đưa bạn đọc du hành Đông – Tây cùng với khái niệm chơi và cách nó được diễn đạt ở các ngôn ngữ khác nhau.
Hóa ra, chơi là một mẫu số chung, một gốc từ phổ biến ở nhiều văn hóa. Nh́n từ góc độ từ nguyên và ngữ dụng học, có rất nhiều từ ngữ xuất phát từ chơi, không riêng ǵ chỉ h́nh thức chơi, hay tṛ chơi (ví dụ như chơi kéo co, chơi bóng), mà c̣n nhằm để chỉ vô vàn khía cạnh chức năng khác nhau, và đương nhiên, mang tính liên kết và mở rộng.
Từ đó, Huizinga nhận diện chơi, và địa hạt của chơi, trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống. Từ những lĩnh vực đương nhiên liên hệ với chơi như nghệ thuật (trong thi ca, âm nhạc, khiêu vũ và hội họa…) cho tới những lĩnh vực tưởng như nghiêm túc nhất như nghi lễ tôn giáo, pháp luật, chiến tranh, khoa học, triết học, kinh tế, đều chứa đựng yếu tố chơi.
Ở mỗi lĩnh vực, Huizinga tŕnh bày trước bạn đọc những luận chứng rất tài t́nh và thuyết phục. C̣n đối với phản đề đối lập ngỡ như không thể dung ḥa, giữa chơi và nghiêm túc, th́ Huizinga lại hóa giải bằng lập luận rằng thái độ nghiêm túc cao nhất cũng có thể hiện diện trong chơi, đặc biệt trong những tṛ chơi có tính cạnh tranh cao, như thể thao chẳng hạn. “Chơi biến thành nghiêm túc và nghiêm túc biến thành chơi.”
Chơi, từ chỗ là lẽ thường t́nh tất nhiên của con người, trở thành chiều kích bản thể, chiều kích văn hóa. Nhân loại là Người chơi.
Chơi là hoạt động v́ sự vui thích và sáng tạo hơn là phục vụ một mục đích thực dụng nào đó.
PHÂN LOẠI CHƠI
Có rất nhiều cách phân loại chơi.
Ở đây, là cách phân loại theo MỨC ĐỘ XĂ HỘI HÓA của chơi v́ đa số trẻ tự kỷ hay có rối loạn phát triển gặp khó khăn ở mặt tương tác xă hội. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển kỹ năng chơi ở trẻ.
Chơi khám phá:
Đây là giai đoạn sơ khởi của chơi, khi mà trẻ “khám phá” đồ vật hơn là chơi với chúng.
Chơi khám phá đơn thuần là cách trẻ t́m hiểu về các đặc điểm cơ học của đồ vật bằng cách cầm nắm, ném, đập, hay cho đồ chơi vào miệng. Đây là khi trẻ học được rất nhiều về h́nh dạng, màu sắc, độ nặng nhẹ, kết cấu, cảm giác bề mặt của đồ vật.
Nhiều trẻ có rối loạn phát triển thường “kẹt” ở mức độ chơi này mà không phát triển lên các mức độ chơi cao hơn, đó là một trong các lư do trẻ thích nh́n đồ vật quay ṿng, ánh sáng nhấp nháy, cho đồ vật vào miệng dù là đồ không ăn được hay thích ném đồ tạo tiếng kêu,…
Chơi độc lập :
Đúng như tên gọi của nó mô tả giai đoạn trẻ thích chơi một ḿnh. V́ sao chơi một ḿnh lại quan trọng? V́ nó giúp trẻ h́nh thành sự tự chủ, tự làm ḿnh bận rộn với những điều khiến ḿnh thích thú. Kiểu chơi này đặc biệt phổ biến ở trẻ 2-3 tuổi – độ tuổi mà trẻ vẫn c̣n rất tập trung vào bản thân ḿnh và các kỹ năng tương tác xă hội c̣n chưa phát triển đầy đủ.
Là khi trẻ quan sát bạn hay các anh chị lớn hơn chơi với nhau mà không thực sự “hành động” để tham gia vào cùng tṛ chơi. Đây là cơ hội để trẻ phát triển ngôn ngữ (bằng cách nghe từ trẻ khác) và ngấm dần các quy tắc xă hội được thể hiện trong các tṛ chơi. Kiểu chơi này thường thấy ở những trẻ nhỏ tuổi hơn trong nhóm chơi của các trẻ lớn hoặc một trẻ mới tham gia vào nhóm chơi. Lúc này, trẻ cần quan sát để hiểu quy luật chơi và các tương tác giữa các thành viên nhóm trước khi tham gia vào cùng.
Chơi song song :
Là khi hai trẻ ngồi cạnh nhau, có thể cùng chơi một tṛ chơi (xếp h́nh, vẽ tranh,…) nhưng hai trẻ chơi một cách độc lập theo kiểu “việc ai người nấy làm”. Đừng hiểu nhầm là trẻ không thích với nhau nhé! Đây là một kiểu chơi rất phổ biến ở trẻ tầm 3 tuổi. Dù hai trẻ trông như “không quan tâm” đến nhau nhưng các bé thường quan sát và bắt chước hành động của nhau. Đây là nền tảng cho các mức độ chơi cao hơn sau này.
Khá tương đồng với chơi song song ngoại trừ việc trẻ đang chia sẻ và thực hiện cùng hành động mà bạn ḿnh đang làm như hai ba trẻ cùng chơi xếp ṭa tháp từ một bộ xếp h́nh. Mặc dù mỗi trẻ tự xây ṭa tháp của riêng ḿnh, các bé nói chuyện với nhau và hỗ trợ nhau khi có thể. Kiểu chơi này đặt nền tảng cho một loạt các kỹ năng quan trọng trong sự phát triển tư duy (làm sao để xây ṭa tháp với chỉ ngần này mảnh ghép khi mà bạn ḿnh đă lấy phần c̣n lại?), xă hội hóa (thương thuyết để có mảnh ḿnh cần và đổi lại cho bạn mảnh ghép bạn muốn) và ngôn ngữ của trẻ (qua tṛ chuyện, trẻ học từ vựng và các cách diễn đạt từ nhau).
Chơi hợp tác :
Là mức phát triển cao của chơi, khi mà trẻ phối hợp tất cả các kỹ năng từ các giai đoạn trước để cùng tham gia vào một tṛ chơi và sáng tạo những cách chơi/quy luật chơi mới cho tṛ chơi đó tùy theo t́nh huống cụ thể. Đó có thể là tṛ xếp h́nh khi mỗi trẻ tham gia vào xây dựng một hợp phần khác nhau – bạn xây nhà, bạn xếp ô-tô, bạn lát đường…- và trao đổi với nhau cũng như phân vai rơ ràng để cả nhóm cùng chung sức tạo nên một “thành phố tương lai”. Hoặc, khi trẻ tham gia vào các tṛ chơi vận động thể chất có quy luật – bịt mắt bắt dê, đồ cứu,…
Thường các trẻ có rối loạn phát triển sẽ dừng ở mức độ chơi khám phá hoặc cao hơn một bậc là chơi một ḿnh v́ các con gặp nhiều khó khăn trong việc bắt chước, chia sẻ chú ư và đợi tới lượt chơi.
Nắm vững được các kiểu chơi sẽ giúp phụ huynh nh́n ra được con ḿnh đang ở mức độ nào và hỗ trợ con để con phát triển kỹ năng chơi lên mức cao hơn.
Chơi có thể hiểu rộng hơn:
( Khẩu ngữ) hành động gây hại cho người khác, nhưng lại xem như tṛ vui. - hoạt động giải trí hoặc nghỉ ngơi : trẻ con chơi ngoài sân đi chơi phố chơi bài ăn tuỳ nơi, chơi tuỳ lúc
-hoạt động (dùng một đối tượng nào đó) để tiêu khiển, để làm thú vui: chơi tem chơi cây cảnh
-quan hệ với nhau trên cơ sở quen biết, gần gũi hoặc v́ cùng chung thú vui, thú tiêu khiển: chơi thân với nhau từ nhỏ chọn bạn mà chơi
-hoạt động chỉ nhằm cho vui mà thôi, không có mục đích ǵ khác đùa một tí chơi thử chơi cho biết chứ không định làm thật
(Khẩu ngữ) (trẻ con) tỏ ra khoẻ mạnh, không đau ốm: cháu nó vẫn chơi Ngược lại là nhác chơi.
(Khẩu ngữ) hành động gây hại cho người khác, nhưng lại xem như tṛ vui: bị nó chơi cho một vố đau điếng.
Đi mua dâm c̣n được gọi là "đi chơi gái". Chơi khăm ( hay chơi xỏ ) là bày tṛ ác ngầm để hại người khác.
Chơi thơ
Chơi thơ rất phổ biến ở Trung Quốc và Việt Nam từ xưa đến nay.
"Chơi thơ (trong sáng tác) là tṛ chơi trí tuệ và là thú vui tao nhă lúc trà dư tửu hậu. Muốn chơi thơ, người chơi phải rành luật thơ, lại phải thâm thúy, nhạy cảm mới ứng đối được.
Chơi chữ, chơi thơ có lẽ là thú chơi tao nhă và thú vị nhất. Chơi thơ là chơi chữ với lối hồi văn liên hoàn, họa vần, họa chữ, nói lái, độc vận, điệp từ, hay chơi cấu trúc thơ. Sách "Chơi chữ Hán Nôm" (NXB Thuận Hóa, 2002) của Hải Trung giới thiệu hàng chục cách chơi cấu trúc thơ của Trung Quốc, Việt Nam xưa như dạng "thuận nghịch độc", hay "Thuận Hán, nghịch Nôm", cấu trúc ṿng tṛn, xoắn ốc, h́nh Hà Đồ, thơ h́nh núi...
Ví dụ bài thơ "Vũ Trung Sơn Thủy" của vua Thiệu Trị chỉ 56 chữ Hán, mà có thể đọc đến 64 bài thất ngôn bát cú, 64 bài thất ngôn tứ tuyệt. Nhưng chơi thơ như vua Thiệu Trị là cực khó, phải thâm thúy chữ Hán và rất sành thơ mới làm được. Đa số các cụ đồ hay chữ thường chơi thơ thuận nghịch độc.
Hàn Mặc Tử từ nhỏ đă có bài thơ "Cửa sổ đêm khuya", có thể đọc ngược xuôi theo 6 cách: Hoa cười nguyệt rọi cửa lồng gương/ Lạ cảnh buồn thêm nỗi vấn vương/ Tha thiết liễu in hồ gợn sóng/ Hững hờ mai thoảng gió đưa hương/ Xa người nhớ cảnh t́nh lai láng/ Vắng bạn thơ ngâm rượu bẽ bàng/ Qua lại yến ngàn dâu ủ lá/ Ḥa đàn sẵn có dế bên tường".
Đọc ngược: "Tường bên dế có sẵn đàn ḥa/ Lá ủ dâu ngàn yến lại qua... "
Bỏ hai chữ đầu mỗi câu sẽ có bài thơ ngũ ngôn, rồi lại đọc xuôi, đọc ngược: "Nguyệt rọi cửa ḷng gương/ Buồn thêm nỗi vấn vương...).
Rồi bỏ hai chữ cuối mỗi câu lại có bài thơ mới, đọc xuôi đọc ngược...
Có lần nhà văn Trần Dần kể về người bạn thơ ở Hà Nội, ông gọi là "thi sĩ Chúc Bờ sông" v́ ông ấy ở bên bờ Sông Hồng. Thi sĩ Chúc có nhiều bài thơ cực ngắn, viết xong rồi cất vào ḥm, bạn bè tới vui chén rượu th́ lấy ra "ngắm". Ví dụ có bài có cái nhan đề là "Vợ chồng". C̣n cả bài thơ chỉ có một chữ: Xong! Trần Dần b́nh: "Vợ chồng - Cái mớ ḅng bong ấy gọi là xong!". Nhưng Phùng Quán lại chê là lời b́nh quá dài ḍng! Đó là một cách chơi thơ rất tài tử. Thơ Bút Tre cũng là một thứ thơ chơi thâm hậu. Với cách ngắt vần lục bát trái khoáy, nhà thơ đă biến mọi thứ nghiêm túc thành tṛ cười: "Con ruồi là giống hiểm nguy/ Một chân của nó rất vi trùng nhiều"... Nhưng ông đă làm nên một trường phái thơ mới nổi tiếng ở Việt Nam: Trường Phái Bút Tre! Thơ Bút Tre :
"Hoan hô Đại tướng Vơ Nguyên/ Giáp ta thắng trận Điện Biên trở về... " là cách chơi vắt ḍng lục bát tài hoa, tạo ra nhịp điệu mới trong lục bát Việt Nam.
Sau này trường phái Bút Tre trẻ phát triển liên tục: Núi Voi trông thật giống con voi/ Có cả đầu đuôi có cả ṿi / Núi cũng như người hăng sản xuất/ Đầu th́ trồng sắn đít trồng khoai...
Đa số thơ chơi là thơ xướng họa. Nhà thơ Lư Hoài Xuân kể, hồi chung tỉnh B́nh Trị Thiên, một hôm trong một cuộc họp có cả vợ chồng Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ cùng dự, nhà thơ Văn Lợi liền ứng tác viết vào mảnh giấy bài thơ bốn câu, rồi chuyền cho Mỹ Dạ:
"Lâm vào cảnh sắc ngàn xưa/ Thị vàng rơi xuống ngẩn ngơ ḷng người/ Mỹ nhân sắc nước hương trời/ Dạ nào chẳng muốn trao lời tri âm".
Bốn câu thơ những chữ đầu mỗi câu kết thành tên Lâm Thị Mỹ Dạ. Mỹ Dạ chưa kịp đọc xong, Hoàng Phủ Ngọc Tường ngồi cạnh, liếc đọc rồi làm ngay bài thơ họa chuyển cho Văn Lợi, cũng bốn chữ đầu thành tên Lâm Thị Mỹ Dạ:
"Lâm ly kẻ mặt chau mày/ Thị thành son phấn làm bay hương đồng/ Mỹ miều má thắm môi hồng/ Dạ c̣n trong sáng như ḍng sông quê".
Văn Lợi liền ứng tác tiếp bài thơ khác. Lần này bốn chữ đầu bốn câu thành tên Hoàng Phủ Ngọc Tường:
"Hoàng hôn về lối xóm/ Phủ bóng người gái quê/ Ngọc ngà nơi thôn dă/ Tường tận càng đam mê".
Hoàng Phủ đọc xong, nhẹ nhàng đưa cho Lâm Thị Mỹ Dạ. Mỹ Dạ đỏ mặt, rồi ứng tác ngay bài họa:
Hoàng cung xưa vẫn c̣n đây Phủ rêu năm tháng xanh dày thời gian Ngọc kia lũ đă cuốn tràn Tường giăng kín mít bóng hoàng hôn buông.
Chơi thơ là sinh hoạt lư thú của làng thơ, làm cho người nghe sảng khoái và yêu thêm sự bí ẩn và kỳ diệu của thơ!
Chơi chữ là lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước,...làm câu văn hấp dẫn và thú vị. Các lối chơi chữ thường gặp là:
Dùng từ đồng âm : Biện pháp này sử dụng các từ giống nhau về cách phát âm hoặc đồng âm. Thường được gọi là đồng âm nhưng có nghĩa hoàn toàn khác nhau. Cách chơi chữ này thường mang hàm ư và nghĩa thương châm biếm, đả kích là chính.
Anh Hươu đi chợ Đồng Nai Bước qua bến Nghé, ngồi nhai thịt ḅ Đây là câu thơ sử dụng cách chơi chữ dùng từ đồng âm. Đủ tên 4 con vật lớn: hươu, nại, nghé, ḅ. Hai địa danh được lấy ra phần sau (thành tố sau của một từ gồm hai thành tố) đồng âm với tên hai con vật nai và nghé.
Cô Xuân đi chợ Hạ, mua cá thu về, chợ hăy c̣n đông... .... Bà già đi chợ cầu Đông Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng? Thầy bói xem quẻ nói rằng. Lợi th́ có lợi, nhưng răng không c̣n. - Từ lợi mà bà già dùng (lợi chăng) nghĩa là lợi ích, thuận lợi - Từ lợi trong câu nói của thầy bói nghĩa là phần thịt bao quanh chân răng.
Lối nói trại âm ( gần âm ) Là lối chơi chữ sử dụng các từ gần giống nhau, chỉ khác nhau về dấu câu, nhưng ư nghĩa hoàn toàn khác nhau.
Sánh với Na Va "ranh tướng" Pháp Tiếng tăm nồng nặc ở Đông Dương - Dựa vào hiện tượng gần âm: ranh tướng gần với danh tướng nhưng nghĩa hoàn toàn khác nhau. - Danh tướng là vị tướng giỏi được lưu danh, c̣n ranh tướng là kẻ ranh ma. Tác dụng: mang ư mỉa mai - chế giễu .
Dùng cách điệp âm: Cách chơi chữ này cố ư lặp lại một số yếu tố ngữ âm nào đó (phụ âm đầu, vần hoặc thanh) để tạo sự cộng hưởng ư nghĩa, có tác dụng tô đậm thêm h́nh tượng hoặc xúc cảm, gợi liên tưởng, đồng thời giúp cho lời văn, lời thơ thêm nhạc tính.
Mênh mông muôn mẫu một màu mưa Mỏi mắt miên man măi mịt mờ. - Mượn cách nói điệp âm: hai câu thơ điệp âm "m" tới 14 lần. Tác dụng: diễn tả sự mịt mờ của không gian đầy mưa.
-Duyên duyên ư ư t́nh t́nh Đây đây đó đó t́nh t́nh ta
-Năm năm tháng tháng ngày ngày Chờ chờ đợi đợi, rày rày mai mai
-Thẳng thắn, thật thà thường thua thiệt Lọc lừa, lươn lẹo lại lên lương
Dùng lối nói lái: Nói lái hay c̣n gọi là cách nói ngược câu chữ, có tác dụng châm biếm, mỉa mai hoặc bông đùa... Loại này không phải người đọc, người nghe nào cũng hiểu được hàm ư của tác giả nếu như không suy luận hay phân tích từng từ một. Chơi chữ bằng cách nói lái quen thuộc và dễ gặp nhất khi đọc văn thơ, tục ngữ.
- Thầy giáo tháo giày đi dép lốp Nhà trường nhường trà uống nước trong. - Khi đi cưa ngọn, khi về cũng cưa ngọn - Ḅ lang chạy vào làng Bo - Leo thang tất phải theo lang - Con cá đối nằm trên cối đá. - Con mỏ kiến đậu trên miếng cỏ - Chim vàng lông đậu cạnh vồng lang. - Con mèo cái nằm trên mái kèo Trách cha mẹ nghèo, anh nỡ phụ duyên em. Cá đối nói lái thành cối đá - Mèo cái nói lái thành mái kèo Tác dụng: diễn tả sự trái khoáy, sự hẩm hiu của duyên phận
- Bật mí bí mật bị mất - Mấy đứa mỏ nhọn th́ hay nhỏ mọn - Công với rùa chính là cua với rồng - Con dế con sâu - con sấu con dê - Cáo với sóc là cóc với sáo - Đơn giản như đang giỡn - Người sáng chói chính là người sói trán - Hiện đại nhưng không hại điện - Hương qua đèo - heo qua đường - Kia mấy cây mía - Có vài cái ṿ - Ban lănh đạo - bao lănh đạn - Mơ hăo cho hao mỡ - Càng nặng kư th́ càng kỵ nắng - Ra bờ hồ kiếm bồ hờ. - Đấu tranh là đánh trâu/ - Đánh trâu mà bị trâu đánh th́ biết tránh đâu
Dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa: Loại này chỉ giống nhau phụ âm đầu, giúp tạo điểm nhấn cho toàn bộ bài thơ.
Ngọt thơm sau lớp vỏ gai, Quả ngon lớn măi cho ai đẹp ḷng Mời cô mời bác ăn cùng Sầu riêng mà hóa vui chung trăm nhà
- Sầu riêng - danh từ ⇒ chỉ một loại trái cây ở Nam Bộ Sầu riêng - tính từ ⇒ chỉ sự phiền muộn riêng của con người.
Giới trẻ có lối chơi chữ đầy sáng tạo. Điều thú vị của lối chơi chữ này nằm ở những t́nh huống bất ngờ, cách lí giải gây ngạc nhiên, thử thách trí thông minh và khả năng tưởng tượng.
- Trái bắp khờ dại th́ gọi là ǵ? - Ngây ngô. - Tại sao người béo lại hay buồn? - V́ họ quá khổ. - Trang trại ḅ sữa đặt ở đâu là tốt nhất? Cao nguyên ( cow = con ḅ )
Cách chơi chữ trong ca dao cũng rất đa dạng và tài t́nh, thể hiện trí tuệ dân gian: Dùng hiện tượng đồng âm khác nghĩa giữa từ đơn tiết với một tiếng trong từ đa tiết:
- “Một trăm thứ dầu, dầu chi là dầu không thắp? Một trăm thứ bắp, bắp chi là bắp không rang? ... Trai nam nhi đối đặng, gái bốn mùa xin theo” - “Một trăm thứ dầu, nắng giải mưa dầu là dầu không thắp. Một trăm thứ bắp, lắp ba lắp bắp là bắp không rang. Trai nam nhi đà đối đặng, gái bốn mùa tính răng
- "Mùa xuân em đi chợ Hạ Mua cá thu về, chợ hăy c̣n đông. Ai nói với anh em đă có chồng? Bực ḿnh đổ cá xuống sông em về”
Dùng các từ trái nghĩa trong cùng một câu: - "Bánh cả thúng sao gọi là bánh ít Trầu cả khay, răng lại gọi trầu không?
Dùng cách nói lái: “Có cá đâu mà anh ngồi câu đó Biết có không mà công khó anh ơi?”
Dùng các từ cùng trường nghĩa: - “Giả đ̣ neo chiếc thuyền t́nh Bạn bè mối lái, tơ mành gấp ghe”
- "Cha chài, mẹ lưới, con câu Chàng rể đi tát, con dâu đi ṃ”
Dùng các từ đồng nghĩa, trái nghĩa: - "Đi tu Phật bắt ăn chay Thịt chó ăn được thịt cầy th́ không” - "Rắn hổ đất leo cây thục địa Ngựa nhà trời ăn cỏ chỉ thiên”
- Đôi đũa lệch: Gái trẻ hân hoan chờ phối ngẫu Trai già thấp thỏm đợi giao bôi
- Tố nữ thời @: “ Quần may ngắn ngủn phô đùi nơn
(Về Miền Trung- Blog tiếng Việt) Chơi chữ trong thơ Chơi chữ trong lời nói hằng ngày, trong ca dao đă khó, chơi chữ trong thơ lại khó hơn v́ niêm luật, nhịp điệu, âm điệu và nhạc điệu của các thể loại thơ đ̣i hỏi người sáng tác phải công phu t́m ṭi và sáng tạo. Tuy vậy, chơi chữ trong thơ rất đa dạng, độc đáo và có hiệu quả nghệ thuật cao.
Chơi chữ bằng phương tiện ngữ âm Trước hết, phải kể đến chơi chữ bằng phương tiện ngữ âm. Đây là kiểu chơi chữ bằng cách lặp lại một bộ phận của các tiếng trong toàn bài thơ (hoặc một số ḍng thơ, một số tiếng liền nhau). Kiểu chơi chữ này gồm các dạng:
- Lặp phụ âm đầu: “Mênh mông muôn mẫu một màu mưa Mỏi mắt miên man măi mịt mờ Mộng mị mỏi ṃn mai một một Mỹ miều may mắn mấy mà mơ” (Mưa - Tú Mỡ)
- Lặp cùng một thanh điệu trên cả ḍng thơ hoặc trong toàn bài thơ:
T́nh hoài Trời buồn làm ǵ trời rầu rầu Anh yêu em xong anh đi đâu? Lắng tiếng gió, suối, thấy tiếng khóc Một bụng một dạ một nặng nhọc Ảo tưởng chỉ để khổ để tủi Nghĩ măi gỡ măi lỗi vẫn lỗi Thương thay cho em căm thay anh T́nh hoài càng ngày càng tày đ́nh.
Tiếng vọng Mùa thu ngang qua sương nương chiều tà T́nh em ngang qua bàng hoàng trong ta Thời gian ngang qua âm thầm chia xa Ḍng sông âm vang ngân vàng câu ca Mong manh t́nh em, dày thêm đêm sương Mong manh đi t́m hồn ta tha hương Mong manh mong chờ, chiều buồn vương vương Mùa thu đi rồi! C̣n đâu trăng buông C̣n ǵ trong em? C̣n ǵ trong ta? C̣n đâu mây mơ, c̣n đâu mong chờ C̣n đâu kiêu sa! Ngày tàn đang qua Ḍng sông âm thầm trầm dần câu ca.” (Tiếng vọng- Trần Đ́nh Nhân- )
Chơi chữ bằng nói lái Chơi chữ bằng cách nói lái là kiểu chơi chữ rất khó v́ thế ít gặp trong thơ. Hồ Xuân Hương- Bà chúa thơ Nôm, có nhiều bài chơi chữ theo kiểu này:
Chùa Quán Sứ Quán Sứ sao mà khách vắng teo Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo Chày ḱnh tiểu để suông không đấm Tràng hạt văi lần đếm lại đeo” (Hồ Xuân Hương)
Chơi chữ bằng chiết tự Dựa vào sự gần dạng của một số chữ Hán, những người uyên thâm Hán tự đă thực hiện chơi chữ theo lối chiết tự. Ví dụ:
Không chồng mà chửa Cả nể cho nên hoá dở dang, Nỗi niềm nàng có biết chăng chàng. Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc, Phận liễu sao đà nảy nét ngang Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa? Mảnh t́nh một khối thiếp xin mang. Quản bao miệng thế lời chênh lệch, Không có, nhưng mà có, mới ngoan! ( Hồ Xuân Hương)
Chiết tự Tù nhân xuất khứ hoặc vi quốc, Hoạn quá đầu th́ thủy kiến trung; Nhân hữu ưu sầu ưu điểm đại, Lung khai trúc sản, xuất chân long. ( Nhật kí trong tù- Hồ Chí Minh)
Chơi chữ trong thơ bằng xếp chữ Trong kiểu chơi chữ này, thông tin gián tiếp được tác giả kín đáo đưa ra qua các tiếng đứng ở vị trí nào đó của câu thơ. Ví dụ:
Cụ Hồ muôn tuổi Cụ già thong thả buông cần câu, Hồ rộng trời trong mặt nước sâu. Muôn dặm đài sen thơm bát ngát, Tuổi già vui thú với non sông.
Chơi chữ trong câu đối Ngoài cách chơi chữ trong lời nói hằng ngày và trong ca dao, chơi chữ c̣n là một biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu đối. Trong văn chương cổ điển Việt Nam, câu đối là một thể loại phổ biến, người Việt viết câu đối với nhiều nội dung và mục đích khác nhau: để thử tài ứng đối và chơi chữ, để chúc tết, hiếu hỉ, để nơi đến chùa… Câu đối được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ; với các kiểu chơi chữ như: đồng âm, gần âm, đồng nghĩa…
Chơi chữ trong câu đối Nôm và chữ chữ Quốc ngữ là cách chơi chữ phổ biến trong tầng lớp nhân dân, cụ thể:
Chơi chữ bằng cách dùng các tiếng cùng phụ âm đầu: “Thật thà thẳng thắn thường thua thiệt Lươn lẹo lọc lừa lại lên lương”
Chơi chữ đồng âm: đây là kiểu chơi chữ phổ biến, với những mục đích khác nhau, chẳng hạn:
+ Tạo ra các chuỗi tiếng đồng âm khác nghĩa: “Vũ cậy mạnh vũ ra vũ múa, vũ gặp mưa vũ ướt cả lông Thị phải chầu thị đứng thị xem, thị cũng thèm thị không có ấy”
+ Tạo ra trường từ vựng các nghề nghiệp: Câu đối Nguyễn Khuyến làm giúp cho vợ người thợ rèn khóc chồng: “Tưởng cơ đồ thiếp phải lầm than, con thơ dại lấy ai rèn cặp; Thôi công việc chàng đành bỏ bễ, vợ trẻ trung lắm kẻ đe loi.”
+ Tạo ra trường từ vựng các từ gần nghĩa: “Bà Đồ Nứa đi vơng đ̣n tre, đến khóm trúc thở dài hi hóp Trời mưa đất thịt trơn như mỡ, ḍ đến hàng nem chả muốn ăn.”
+ Tạo ra khó khăn khi ngắt giọng cho đúng nghĩa: “Con ngựa đá con ngựa đá con ngựa đá không đá con ngựa Thằng mù nh́n thằng mù nh́n thằng mù nh́n không nh́n thằng mù”
- Chơi chữ bằng nói lái: “Cô gái Củ Chi chỉ cu hỏi củ chi; Chàng trai Ḥn Đất hất đ̣n trúng ḥn đất”….
Như vậy, chơi có nhiều điều để nói. Nhưng không phải nói chơi mà năy giờ nói thật cả đó.
Tháng mười 2024 THÂN TRỌNG SƠN
|