|
Thân Trọng
Sơn
CỬA SỔ TÂM HỒN


Đó là cách gọi văn vẻ. C̣n nói theo kiểu đố tục giảng thanh
th́ “ Trên lông dưới lông tối chồng làm một.” Nói thế nào th́ cũng lộ ra
đôi mắt.
Adam Anderson, giáo sư về phát triển
con người tại Đại học Cornell, Mỹ, giải thích lư do khiến đôi mắt thường
được xem là cửa sổ tâm hồn trong bài báo công bố trên tạp chí
Psychological Science hôm 1/2, theo Science Daily. Anderson phát hiện ra
rằng, chúng ta nhận biết cảm xúc của người khác bằng cách phân tích
những biểu hiện trong mắt của họ.
"Khi nh́n vào khuôn mặt, đôi mắt chiếm ưu thế trong giao tiếp t́nh
cảm. Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn do chúng là bộ phận tiếp nhận ánh sáng
đầu tiên của hệ thống thị giác. Những thay đổi cảm xúc nhỏ xung quanh
mắt ảnh hưởng đến cách chúng ta nh́n thấy, và điều này truyền đạt cho
người khác về những ǵ chúng ta đang nghĩ và cảm nhận", Anderson
nói.
Khi đặt tên cho mắt, người ta thường dùng theo h́nh dáng của vật thể hay
của sinh vật nào đó mà gán ghép cho chúng: Mắt to và lộ ra ngoài th́ gọi
là mắt lồi, mắt ốc nhồi hay mắt cá vàng; mắt nhỏ và dài như lá tre hay
lá rau răm th́ gọi là mắt lá răm. Mắt tṛn và đen nháy như mắt chim bồ
câu th́ gọi là mắt bồ câu . . . Và cứ như thế ta có một số tên gọi của
mắt như nào là (ti hí) Mắt lươn, Mắt (bé như) hạt đậu, Mắt cú vọ, Mắt
diều hâu, Mắt dơi (mày chuột), (giương như) Mắt ếch, Mắt lợn luộc, Mắt
rắn ráo, Mắt sắc (như dao cau), Mắt thánh (tai hiền), (lừ lừ) Mắt voi,
(mày ngài) Mắt phượng. . .
Ngoài h́nh dáng ra, mắt c̣n có tên theo màu sắc như mắt đen, mắt nâu,
mắt xanh, mắt long lanh, mắt thủy tinh, mắt đỏ, mắt trắng (môi thâm) . .
.
Cầu đây có gái bán hàng
Có đôi rùa đá có nàng bán cau
Mắt xanh tươi thắm môi trầu,
Miệng cười núm má cho cầu thêm xinh.
Người khôn con mắt đen ś,
Người dại con mắt nửa ch́ nửa than.
Ḥ ơ . . . Phù sa nước đục khó ḍm,
Nhớ anh em khóc... (ờ)
Ḥ ơ... nhớ anh em khóc đỏ ḷm con ngươi.
Mắt không phải chỉ được phân biệt bằng cái tên qua h́nh dáng, màu sắc
không thôi mà mắt c̣n được áp đặt vào chúng bằng những cảm quan, nhận
thức, sinh hoạt, triết lư . . . tùy theo t́nh huống của những cái "nh́n
mắt đặt tên" và "xấu đẹp tùy người đối diện" của mỗi người.
Nghĩa là tên của mắt c̣n được đặt để vào đó một linh hồn vô cùng sống
động.
Người khôn con mắt dịu hiền,
Người dại con mắt láo liên nh́n trời!
Một thương tóc bỏ đuôi gà,
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
. . .
Chín thương em ngủ một ḿnh,
Mười thương con mắt hữu t́nh cho ai.
Chém cha con mắt đa đoan,
Càng lắm nhân ngăi càng mang tiếng thù.
Con mắt trừng trừng,
Thầy bưng cả đĩa.
Chồng em rỗ sứt rỗ ś,
Chân đi chữ bát, mắt th́ ngưỡng thiên.
Hai nách cô thơm như ổ chuột chù,
Mắt th́ dán nhấm, lại gù lưng tôm.
Chả tham nhà ngói anh đâu,
Tham v́ con mắt bồ câu liếc người.
Rạng ngày mai con mắt lim dim,
Chân đi thất thểu như chim tha mồi.
Những người con mắt lá răm,
Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.
Ông già ổng chết đă lâu,
Con mắt thao láo hàm râu vẫn c̣n.
Mắt dùng để NH̀N, để ngó, để trông, để ngắm, để ḍm, để liếc . . .Và để
diễn tả những t́nh cảm vui buồn, tức giận, nghi ngờ, thất vọng hay là
những thông điệp của t́nh thương yêu dùng thay cho lời nói. Nói tóm lại
mắt c̣n có đủ khả năng diễn tả đầy đủ sự "hỷ nộ ái ố" của con người.
Anh thương em không biết để đâu.
Để trong túi áo lâu lâu lại nh́n (ḍm).
Chiều chiều ra chợ Đông Ba,
Ngó về hàng Bột trông ra hàng Đường.
Nh́n mai, ngắm liễu, xem hường,
Cô nào đẹp nhất xin nhường cho tôi.
Ra đường con mắt ngó nghiêng,
Về nhà chui chốn buồng riêng vê mồng.
Tóc em như lông con chó xồm,
Xức dầu th́ xức, ai thèm ḍm, bớ em Hai.
Em là con gái cửa dinh,
Qua dinh cụ lớn, cụ ŕnh cụ nom.
Của em chẳng để ai ḍm,
Cáo già hết ngóm, mèo non cũng chừa.
Mẹ em tham thúng xôi rền,
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng.
Em đă bảo mẹ rằng đừng,
Mẹ lườm mẹ nguưt mẹ bưng ngay (xôi) vào.
Bây giờ chồng thấp vợ cao,
Như đôi đũa lệch so sao cho bằng.
Ngó lên chữ ứ,
Ngó xuống chữ ư.
Anh thương em thủng thẳng em ừ,
Anh đừng thương vội, phụ mẫu từ nghĩa em.
Bất b́nh cũng cứ dửng dưng,
Cũng đừng liếc xéo, cũng đừng cười khinh.
Dao cau rọc lá trầu vàng,
Mắt anh anh liếc, mắt nàng nàng đưa.
Ô ḱa con cái nhà ai,
Cái váy th́ dài, áo ngắn ngang hông!
Thấy ai dương mắt ra trông,
Nghề nghiệp chẳng có, chổng mông kêu trời!
Nói đến mắt ta không thể không nhắc đến KHÓC: Khóc oà, Khóc thét, Khóc
gào, Khóc nức nở, Khóc thầm, Khóc thút thít, Khóc vụng trộm, Khóc ti tỉ,
Khóc tỉ tê, Khóc nỉ non, Khóc mùi, Khóc như ri, Khóc như mưa, Khóc như
cha chết, Khóc đứng khóc ngồi . . . Khóc là để diễn tả một trạng thái tự
nhiên của xúc cảm, có thể do vui và cũng có thể do buồn một cách cao độ,
trừ khi khóc "vờ", hoặc để làm "vũ khí" tác động vào ḷng thương của
người khác, hoặc để "ṿi vĩnh":
Cha đời con gái mười ba,
Đêm nằm với mẹ khóc la đ̣i chồng.
Mẹ giận mẹ phát ngang hông,
Đồ con "chết chủ" đ̣i chồng thâu đêm.
Chuối non giú ép chát ngầm,
Trai tơ đ̣i vợ, khóc thầm thâu đêm.
Khóc rồi bị má đánh thêm,
Tiền đâu cưới vợ nửa đêm cho mày?
Anh ở làm sao cho vợ anh thôi,
Bây giờ khóc đứng, than ngồi với ai?
Con c̣ lặn lội bờ sông,
Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non.
Nàng về nuôi cái cùng con,
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.
Đă khóc th́ không thể thiếu NƯỚC MẮT: Khóc hết nước mắt, Đổ mồ hôi sôi
nước mắt, Khóc không ráo nước mắt, Mau nước mắt, Mồ hôi nước mắt, Nước
mắt cá sấu, Nước mắt chảy xuôi, Nước mắt lưng tṛng, Nước mắt nước mũi,
Tuần chay nào cũng có nước mắt, Trai khôn lắm nước đái gái khôn lắm nước
mắt, Cười ra nước mắt . . .
Ai ơi đừng rơi nước mắt ớt,
Đừng rớt nước mắt gừng,
Nhân duyên trời định nửa chừng mà thôi.
Tay chùi nước mắt ướt nhem,
Tại anh chậm bước nên em lấy chồng.
Thôi thôi đừng nhỏ nước mắt hồng,
Đừng pha tiếng ngọc mà cầm duyên em.
Đừng vợ đừng chồng, đừng ǵ hết thảy,
Anh có nơi rồi rún rẩy duyên em.
Năm bảy tháng trước c̣n bưng, c̣n bợ,
Năm bảy tháng sau lỡ bợ, lỡ bưng.
Trực nh́n nước mắt rưng rưng,
Khai hoa nở nhụỵ, khổ quá chừng anh ơi!
Ớ chị em ơi!
Cho tôi xin tí nước mắt thừa,
Tôi về tôi khóc tiễn đưa mẹ chồng.
Anh về em chẳng dám đưa,
Hai hàng nước mắt như mưa tháng mười.
MẮT c̣n qua những câu tục ngữ phổ biến trong dân gian như:
Mắt tinh đời, Ăn phùng má trợn mắt, Mắt la mày lét, Mắt hau háu như quạ
thấy gà con, Có mắt không ngươi, Con mắt to hơn cái bụng, Đổ đom đóm
mắt, Đổ mồ hôi sôi nước mắt, Gái một con trông ṃn con mắt, Giàu hai con
mắt khó hai bàn tay, Hai mắt đổ dồn lại một, Mắt lá răm kiêu căng có
tiếng, Mắt lơ mày láo, Bé người to mắt, Rậm râu sâu mắt, Che mắt thế
gian, Cắn răng chăng mắt, Chết không nhắm mắt, Mắt hau háu như quạ thấy
gà con, Chớp mắt bỏ qua, Chướng tai gai mắt, Coi người bằng nửa con mắt,
Mắt thấy tai nghe, Mắt tṛn mắt dẹt, Mắt trợn trừng, Mắt trước mắt sau,
Mắt xanh mỏ đỏ, Lấy vải thưa che mắt thánh, Lựa được con dâu sâu con
mắt, Lúa bông vang th́ vàng con mắt, Mong đỏ con mắt, Móc mắt moi mề,
Múa ŕu qua mắt thợ, Ngang tai trái mắt, Nghe tận tai nh́n tận mắt, Ngủ
ngày quen mắt, Người trần mắt thịt, Nhắm mắt đưa chân, Nhắm mắt làm ngơ,
Nhắm mắt xuôi tay, No bụng đói con mắt, Quạ chẳng mổ mắt quạ, Thấy của
tối mắt, Tai nghe không bằng mắt thấy, Trêu c̣ c̣ mổ mắt, Trời cao có
mắt, Tuần chay nào cũng có nước mắt, Thứ nhất đau mắt thứ nh́ nhức răng,
Tiếc rỏ máu mắt, Tối mắt tối mũi, Trái tai gai mắt, Vừa mắt ta ra mắt
người, Yêu gà gà mổ mắt yêu chó chó liếm mặt . .
Trong tiếng Anh, ta có thể gặp nhiều thành ngữ nói về mắt:
1. apple of one’s eyes: chỉ người mà bạn yêu quư
2. bird’s eye view: cái nh́n toàn cảnh, tổng quan
3. bloodshot eyes: mắt đỏ ngầu v́ say rượu hoặc bụi
4. catch someone’s eyes: thu hút sự chú ư từ người khác
5. cry one’s eyes out: khóc rất nhiều
6. eagle eye: con mắt tinh tường
7. eye – candy: một người hoặc một vật trông rất bắt mắt
8. feast one’s eyes on: ánh nh́n ngạc nhiên, tṛn xoe mắt nh́n
9. get a black eye: mắt bị thâm tím
10. get some shut – eye: chợp mắt một lúc
11. get stars in one’s eyes: ngưỡng mộ, thần tượng ai đó hoặc bị ám ảnh
trở thành ngôi sao
12. have eyes wide open: nh́n toàn diện, đa chiều
13. have eyes bigger than your stomach: mắt to hơn bụng; “đói con mắt”
14. have square eyes: coi truyền h́nh quá nhiều
15. hit the bull’s eyes: đạt kết quả ấn tượng
16. in the public eye: trước ánh nh́n công chúng; nằm trong sự theo dơi
của dư luận
17. in the blink of an eye: trong nháy mắt
18. keep an eye on: quan sát kỹ lưỡng
19. keep one’s eyes peeled: t́m kiếm thứ ǵ có chủ đích
20. one’s eyes pop out of one’s head: bị làm cho ngạc nhiên, bất ngờ
21. open someone’s eyes: làm cho ai đó hiểu
22. out of the corner of one’s eye: vô t́nh trông thấy, nh́n thoáng qua
23. red – eye: chuyến bay xuyên đêm
24. turn a blind eye: giả vờ không để ư
25. see eye to eye: đồng ư với ai đó
26. with one’s eyes shut: thực hiện điều ǵ không cần nỗ lực, “dễ như ăn
cháo”.
27. An eye for an eye, a tooth for a tooth: ăn miếng trả miếng. C̣n nói:
tit for tat.
Và trong tiếng Pháp:
• Avoir, tenir quelqu'un, quelque chose. à l'oeil : cẩn thận trông nom.
• Avoir des yeux de taupe : Nh́n không rơ.
• Ouvrir les yeux comme des soucoupes : Rất ngạc nhiên .
• Avoir la larme à l'oeil : Cảm động.
• Aux yeux de... : Theo ư ai
• Y tenir comme à la prunelle de ses yeux : Rất quan trọng.
• Accepter les yeux fermés : Tin tưởng hoàn toàn
• Pleurer à chaudes larmes : Khóc sướt mướt.
• Avoir le compas dans l'oeil : Có thể đánh giá ngay khi mới nh́n.
• Avoir un œil de lynx : Nh́n rất rơ.
• Avoir les yeux grands comme des trente-sous : Mắt mở to v́ ngạc nhiên
.
• Faire des yeux, des gros yeux à quelqu'un : Nh́n trách móc.
• Jeter un œil sur : Canh chừng.
• Œil pour œil, dent pour dent ... : Ăn miếng trả miếng, vỏ quưt dày có
móng tay nhọn.
• Avoir des peaux de saucisson dans les yeux : Không nh́n thấy một sự
việc rơ ràng, hiển nhiên .
• Se tamponner l’œil de quelque chose. : Không quan tâm điều ǵ.
• C'est la pupille de mes yeux : Điều quan trọng
• N'avoir d'yeux que pour : Hết sức chú ư.
• Crever les yeux : Điều hiển nhiên.
• S'en battre œil : Không có việc ǵ làm .
• Ne pas quitter quelqu'un des yeux : Chú ư quan sát ai.
• Rire aux larmes : Cười nắc nẻ.
• Fermer les yeux à quelqu'un : Vuốt mắt người sắp chết
• Ne pas fermer l’ œil ou ne pas fermer l’ œil de la nuit : Không ngủ
được .
• En un clin d’œil : Rất nhanh chóng.
• Regarder quelqu'un d'un œil noir : Nh́n ai giận dữ.
• Être au bord des larmes : Rất buồn.
• Ne pas en croire ses yeux : Khó chấp nhận một điều hiển nhiên .
• Regarder quelque chose, quelqu'un d'un œil sec : Nh́n không cảm xúc.
• Avoir les yeux qui sortent de la tête : Rất giận.
• Écraser une larme : Rất cảm động.
• Pour les beaux yeux de : Để vừa ḷng ai.
• Avoir des yeux tout le tour de la tête : Chú ư tất cả những ǵ xảy ra
chung quanh .
• Couver quelqu'un des yeux : Âu yếm nh́n ai.
• Jeter un coup d’œil : Liếc nh́n .
• Loin des yeux, loin du coeur : Xa mặt , cách ḷng.
• Rougir jusqu'aux yeux, jusqu'au blanc des yeux : Đỏ mặt
• Je l'ai vu, de mes yeux vu : Tận mắt nh́n thấy .
• Avoir des yeux de chat : Nh́n rơ vào ban đêm.
• Fondre en larmes : Khóc oà.
• Ne pas avoir froid aux yeux : Không sợ.
• Ouvrir les yeux comme des ronds de flanc : Ngạc nhiên hay làm bộ ngạc
nhiên .
• Fermer les yeux : nghĩa bóng: làm bộ không thấy.
• Sauter aux yeux : Điều rơ ràng, hiển nhiên .
• Des yeux de braise : Mắt đen, long lanh.
• Avoir du sable dans les yeux : Muốn ngủ.
• Avoir les yeux plus grands que la panse : Con mắt to hơn cái bụng.
• Fermer les yeux sur quelque chose. : Giả bộ không biết .
• Faire de l’ œil à quelqu'un : Cố quyến rũ ai.
• Faire les yeux doux à quelqu'un, lui faire des yeux de velours : Nh́n
ai một cách âu yếm.
• Ne pas avoir les yeux dans sa poche : Ṭ ṃ.
• Être tout yeux tout oreilles : Chú ư đến điều người khác nói.
• Un œil qui regarde à Caën, l'autre à Bayeux : Người mắt lé.
• Bon pied, bon œil : Tự tin.
• Avoir les yeux rouges de colère : Tức giận.
• N'avoir plus que les yeux pour pleurer : Mất tất cả .
. Jeter de la poudre aux yeux : làm lóa mắt ai đó, khiến họ không tỉnh
táo
. Avoir le compas dans l’œil : Đánh giá tỷ lệ hoặc khoảng cách với độ
chính xác cao
. Avoir un œil au beurre noir : mắt bầm tím do bị đánh
. Taper dans l’œil : làm vừa mắt ai đó
. Agir les yeux fermés : nhắm mắt nhắm mũi mà làm
. Avoir bon pied, bon œil : rất khỏe mạnh
. Les yeux lui sortent de la tête : rất giận dữ và kích động
. Coûter les yeux de la tête : vô cùng đắt đỏ
. À l’œil : miễn phí
. Sauter aux yeux : điều hiển nhiên
. Faire les gros yeux : mắt nh́n chừng chừng (có ư trách móc, không hài
ḷng)
. Les yeux dans les yeux : đôi mắt nh́n nhau âu yếm
. Sortir pas les yeux : không vừa mắt, nh́n khó chịu.
. En un clin d’œil: trong nháy mắt.
. Les yeux lui sortent de la tête : rất giận dữ và kích động
. Coûter les yeux de la tête : vô cùng đắt đỏ
. À l’œil : miễn phí
. Sauter aux yeux : điều hiển nhiên
. Faire les gros yeux : mắt nh́n chừng chừng (có ư trách móc, không hài
ḷng)
. Les yeux dans les yeux : đôi mắt nh́n nhau âu yếm
. Sortir pas les yeux : không vừa mắt, nh́n khó chịu.
Trong thơ ca, h́nh ảnh con mắt cũng muôn màu muôn vẻ.
Đây là Mắt biếc của TUỆ SỸ trong bài
Một Thoáng Chiêm
Bao
“ Người mắt biếc ngây thơ ngày hội
lớn
Khóe môi cười nắng quái cũng gầy hao
Như c̣ trắng giữa đồng xanh bất tận
Ta yêu người v́ khoảnh khắc chiêm bao. “
(Rừng Vạn Giă 1976)
Xưa nhất ( 1932 ) có bài
T́nh già
của PHAN KHÔI
Hai mươi bốn năm xưa,
một đêm vừa gió lại vừa mưa,
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
hai cái đầu xanh kề nhau than thở:
- “Ôi đôi ta, t́nh thương nhau th́ vẫn nặng,
mà lấy nhau hẳn đà không đặng:
Để đến nỗi t́nh trước phụ sau,
chi bằng sớm liệu mà buông nhau!”
- “Hay nói mới bạc làm sao chớ!
buông nhau làm sao cho nỡ?
Thương được chừng nào hay chừng ấy,
chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngăi, đâu phải vợ chồng,
mà tính chuyên thuỷ chung!”
*
Hai mươi bốn năm sau,
t́nh cờ đất khách gặp nhau:
Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung,
đố có nh́n ra được?
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi,
con mắt c̣n có đuôi.
XUÂN DIỆU có bài
Hoa đẹp là hoa
nh́n với mắt em:
Hoa đẹp là hoa nh́n với mắt em
Cửa sổ là khung có h́nh em ở giữa
Tách nước – là ngón tay em cầm,
Quyển sách chao đèn là bóng em đọc mở…
Đường nhựa là đường in dấu vạn chân,
Duy có một dấu chân – em yêu dấu.
Tàu điện là tàu một đêm anh tiễn em đi –
Em có nhớ một buổi chiều
ta dạo trong Văn Miếu?
Vũ trụ là chốn anh được gặp em
Thời gian là nơi anh với em sinh cùng thời đại.
Em ơi! Em đă mở cho anh
Cánh cửa vô cùng xin chớ bao giờ khép lại.
NGUYÊN SA
Tương Tư
Tôi đă gặp em từ bao giờ
Kể từ nguyệt bạch xuống đêm khuya
Kể từ gió thổi trong vừng tóc
Hay lúc thu về cánh nhạn kia?
Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay?
Có phải mùa xuân sắp sửa về
Hay là gió lạnh lúc đêm khuya
Hay là em chọn sai màu áo
Để nắng thu vàng giữa lối đi?
Có phải rằng tôi chưa được quen
Làm sao buổi sáng đợi chờ em
Hay từng hơi thở là âm nhạc
Đàn xuống cung trầm, mắt nhớ thương
Buổi tối tôi ngồi nghe sao khuya
Đi về bằng những ngón chân thưa
Và nghe em ghé vào giấc mộng
Vành nón nghiêng buồn trong gió đưa
Tôi không biết rằng lạ hay quen
Chỉ biết em mang theo nghê thường
Cho nên cặp mắt mờ hư ảo
Cả bốn chân trời chỉ có em
BÙI GIÁNG
Mắt Buồn
Dặm khuya ngắt tạnh mù khơi
(Nguyễn Du )
Bóng mây trời cũ hao ṃn
Chiêm bao náo động riêng c̣n hai tay
Tấm thân với mảnh h́nh hài
Tấm thân thể với canh dài băo giông
Cá khe nước cơng lên đồng
Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một giêng
Tạ từ tháng chạp quay nghiêng
Âm trang sử lịch thu triền miên trôi
Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa
Bỏ người yêu bỏ bóng ma
Bỏ h́nh hài của tiên nga trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
C̣n hai con mắt khóc người một con.
Sinh thời, nhà thơ Bùi Giáng với nhạc sĩ TRỊNH CÔNG SƠN là hai người bạn
khá thân thiết, từng nhiều lần đối ẩm, bàn luận văn chương, và Trịnh là
người có thể hiểu rơ Bùi Giáng hơn ai hết, khi mà trong sổ tang Bùi
Giáng, tại chùa Vĩnh Nghiêm năm 1998, nhạc sĩ viết: “Bùi Giáng Bàng
Dúi Búi Giàng/ Ô hay trăm ngơ bàng hoàng lỗ không/ Lỗ không trời đất ngỡ
ngàng/ Hoá ra th́ thể là ngàn hư vô/ Nhớ thương vô cùng là từ/ Là từ vô
tận ứ ừ viễn vông”. Song khi mượn ư từ câu thơ C̣n hai con mắt
khóc người một con, để sáng tác ca khúc Con mắt
c̣n lại từ năm 1992, Trịnh đă đưa những suy nghĩ của ḿnh
vào thành ca từ:
“C̣n hai con mắt khóc người một
con.
C̣n hai con mắt một con khóc người.
Con mắt c̣n lại nh́n cuộc đời tôi.
Nh́n tôi lên cao nh́n tôi xuống thấp.
Con mắt c̣n lại nh́n cuộc t́nh phai….”
TẾ HANH
Hờ hững
Anh tưởng chỉ cần trông thấy thôi,
Là em hiểu rơ ḷng anh rồi.
Mối t́nh chan chứa trong đôi mắt,
Anh biết làm sao nói những lời.
Không có khi nào gặp gỡ em,
Mà anh giữ được vẻ điềm nhiên:
Dáng anh bẽn lẽn, lời anh ngượng;
Em thử đôi lần nhớ lại xem.
Anh tưởng là em đă biết rồi,
Những câu tṛ chuyện, giọng đùa chơi,
Những thư thăm hỏi, lời vơ vẩn,
Những sách anh đưa nói chuyện đời,
Những bữa trời mưa, những buổi chiều,
Ḷng nghe rưng rức nỗi đ́u hiu,
Những khi trăng sáng, khi hơi gió
Nhẹ thổi vào ḷng cơn mến yêu.
Và những đêm khuya giấc mộng đào,
Mơ màng trên gối gặp chiêm bao,
Anh yêu, anh nhớ, anh thầm trách:
Em chẳng lần nào cảm động sao?
Sao em hờ hững thế cho đành,
Duyên mới cùng người hất hủi anh.
Tội nghiệp cho đời anh biết mấy!
Trăm năm chưa chắc vết thương lành.
BÍCH KHÊ
Cặp Mắt
Ôi! cặp mắt của người trong tơ
ngọc,
Sáng như gươm và chấp choá kim cương!
Mỗi cái ngó là một v́ sao mọc!
Mỗi liếc yêu là phảng phất mùi hương.
Hai mắt ấy chói hào quang sáng ngợp
Dẫn hồn ta vào thế giới thiêng liêng,
Hớp nhiều trăng cho niềm trinh rất ngớp
Say nhạc hường nổi bổng giữa đào nguyên.
Người ở đâu? Người ở đâu? Người hỡi!
Hai mắt người sao cứ hiện bên ta?
Ta mơ màng và run lên khấp khởi!
Ta ngỡ là uống cạn suối bao la!
Hơn một bận ta đi vào cơi chết
Cạy nắp ḥm t́m thi vị cao sang,
Ôi mắt người! mắt người! hiện rơ rệt:
Ta gào lên… chấn động cả vùng tang.
QUANG DŨNG
Mắt Người Sơn Tây
Em ở thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba V́
Vừng trán em vương trời quê hương
Mắt em d́u dịu buồn Tây Phương
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương?
Từ độ thu về hoang bóng giặc
Điêu tàn thôi lại nối điêu tàn
Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ
Em có bao giờ lệ chứa chan
Mẹ tôi em có gặp đâu không
Những xác già nua ngập cánh đồng
Tôi nhớ một thằng con bé nhỏ
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông
Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều lưu lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây
Tôi gửi niềm nhớ thương
Em mang giùm tôi nhé
Ngày trở lại quê hương
Khúc hoàn ca rớm lệ
Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng
Bao giờ tôi gặp em lần nữa
Chắc đă thanh b́nh rộn tiếng ca
Đă hết sắc mùa chinh chiến cũ
Em có bao giờ em nhớ ta?
* * *
Điều cần nhớ là đôi mắt không phải lúc nào cũng là h́nh ảnh thơ mộng để
làm thơ. Mắt cũng có lúc gây khó chịu v́ tật bệnh.
Một số bệnh về mắt thường gặp như sau :
1. Mỏi mắt
T́nh trạng mỏi mắt xảy ra khi bạn đọc sách, làm việc trên máy tính quá
lâu hay lái xe đường dài, khiến mắt hoạt động quá mức. Dù gây khó chịu
nhưng mỏi mắt không nghiêm trọng và giảm sau khi nghỉ ngơi.
Triệu chứng của mỏi mắt: Đau mắt, mắt nóng rát, chảy nước mắt, nh́n mờ,
đau đầu, đau cổ, vai, lưng, nhạy cảm với ánh sáng, khó tập trung và khó
mở mắt.
2. Đỏ mắt
Đỏ mắt xuất hiện khi các mạch máu nhỏ giữa màng cứng và kết mạc giăn nở
khi bị kích thích hoặc nhiễm trùng. Các dấu hiệu đi kèm gồm: Mắt rát,
ngứa, khô, đau, tiết dịch, chảy nước mắt, nh́n mờ và nhạy cảm với ánh
sáng.
Thức khuya, thiếu ngủ, dị ứng, căng thẳng, viêm kết mạc, tổn thương mắt
do ánh nắng mặt trời và chấn thương là những nguyên nhân gây ra đau mắt
đỏ. Nếu sử dụng thuốc nhỏ mắt và nghỉ ngơi không làm giảm đau, bạn nên
thăm khám bác sĩ để được điều trị kịp thời.
3. Mắt lười (nhược thị)
Mắt lười xảy ra khi một bên mắt không phát triển b́nh thường, thị lực
yếu hơn và có xu hướng “lười biếng” di chuyển trong khi mắt bên kia vẫn
ổn định. T́nh trạng này gặp ở trẻ sơ sinh, trẻ em, người lớn và hiếm khi
mắt lười ở cả 2 mắt.
Mắt lười không ảnh hưởng đến thị lực nếu được phát hiện và chữa trị từ
khi c̣n nhỏ. Phương pháp điều trị bao gồm: Đeo kính điều chỉnh hoặc kính
áp tṛng và sử dụng băng dính để khuyến khích trẻ hoạt động bên phía mắt
lười.
4. Mắt lác
Nếu hai mắt của bạn không cùng hướng khi nh́n về một điểm, bạn có thể bị
mắt lác hay c̣n gọi với tên mắt cá ch́nh.
Có nhiều phương pháp điều trị trường hợp này như: Liệu pháp thị lực để
làm cho đôi mắt của bạn khỏe hơn hay chỉnh sửa bằng cách phẫu thuật. Bác
sĩ sẽ tiến hành kiểm tra mắt và đưa ra phương án phù hợp nhất với bạn.
5. Mù màu
Khi bạn không nh́n thấy một số màu nhất định hoặc không phân biệt được
sự khác biệt giữa chúng (thường là màu đỏ và xanh lá cây), bạn có thể bị
mù màu. Khi bệnh diễn biến nặng, chỉ nh́n thấy được màu xám nhưng trường
hợp này rất hiếm. Mù màu xảy ra khi các tế bào ở mắt (tế bào nón) không
có hoặc không hoạt động.
Hầu hết những người mắc bệnh này chủ yếu do bẩm sinh, nhưng có nguy cơ
mắc phải sau này trong đời do từ 1 số loại thuốc và bệnh. Khả năng mắt
mù màu ở nam giới nhiều hơn phụ nữ.
Lưu ư, khi bị mù màu do bẩm sinh th́ không có cách điều trị. Tuy nhiên,
kính áp tṛng sẽ giúp phân biệt được 1 số màu sắc.
6. Viêm màng bồ đào
Viêm màng bồ đào được hiểu là viêm mống mắt, thể mi, hắc mạc. Bệnh làm
tổn thương mô mắt và gây ra các biến chứng có thể gây mù.
Mọi lứa tuổi đều có nguy cơ mắc bệnh này, người có hệ thống miễn dịch
yếu như: AIDS, viêm khớp dạng thấp hoặc viêm loét đại tràng dễ mắc viêm
màng bồ đào hơn. Xuất hiện các triệu chứng như sau:
• Thị lực mờ.
• Đau mắt.
• Mắt đỏ.
• Nhạy cảm với ánh sáng.
Nếu các triệu chứng không biến mất sau vài ngày, hăy đến bệnh viện thăm
khám. Có nhiều phương phương pháp điều trị viêm màng bồ đào, tùy thuộc
vào loại bạn mắc phải.
7. Lăo thị
Lăo thị xảy ra khi bạn mất khả năng nh́n rơ các vật thể gần và chữ
nhỏ, mặc dù thị lực xa vẫn tốt. Sau tuổi 40 hoặc lớn hơn, cần giữ sách ở
vị trí xa hơn so với mắt để đọc dễ dàng hơn. Kính đọc, kính áp tṛng
được sử dụng để khôi phục thị lực đọc tốt.
8. Ruồi bay
Bệnh “ruồi bay” c̣n được gọi với tên “vẩn đục dịch kính” là hiện tượng
người bệnh thấy những đốm đen hoặc dải màu xám lơ lửng trước mắt, giống
như có ruồi bay qua lại. Tuy nhiên, bệnh sẽ biến mất khi bạn cố gắng
nh́n chúng. Điều này xảy ra do sự thay đổi trong dịch kính, chất lỏng
trong mắt, tạo ra các mảnh vụn.
9. Khô mắt
Hội chứng mắt khô xảy ra khi các tuyến lệ không thể sản xuất đủ nước mắt
hoặc tiết ra nước mắt kém chất lượng, không thể bôi trơn đủ bề mặt mắt.
Các phương pháp điều trị bao gồm sử dụng nước mắt nhân tạo hoặc cắm ống
dẫn lệ để ngăn chặn việc thoát lệ. Có 2 nguyên nhân chính gây khô mắt:
• Sản xuất nước mắt không đủ.
• Chất lượng nước mắt kém, khi các thành phần như mỡ, nước và nhầy không
hoạt động hiệu quả để bảo vệ mắt.
Các dấu hiệu của bệnh khô mắt bao gồm: Cảm giác mắt khô, cảm giác có vật
lạ trong mắt, đỏ mắt, chảy nước mắt và thị lực giảm. Ngoài ra, bệnh
không có khả năng lây nhiễm từ người này sang người khác.
Dù bệnh khô mắt không gây nguy hiểm, nhưng nếu không được điều trị, có
thể chuyển thành khô mắt măn tính và dần dần làm giảm thị lực nghiêm
trọng.
10. Chảy nước mắt
Chảy nước mắt xảy ra khi mắt bạn tiết ra nhiều nước mắt hơn so với thông
thường. Nguyên nhân do mắt nhạy cảm với các yếu tố khí hậu như gió,
nắng, thay đổi nhiệt độ, nhiễm trùng mắt hoặc tắc ống dẫn lệ.
11. Đục thủy tinh thể
Đục thủy tinh thể (đục nhân mắt hoặc cườm đá) là t́nh trạng thủy tinh
thể trong mắt trở nên mờ. Thủy tinh thể, một loại thấu kính trong suốt
có hai mặt lồi, nằm sau mống mắt. Khi nó bị đục, ánh sáng không thể đi
qua và hội tụ tại vơng mạc, làm cho h́nh ảnh trở nên mờ.
Lăo hóa tự nhiên là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra t́nh trạng này. Tuy
nhiên, nhiều yếu tố khác cũng gây ra đục thủy tinh thể, bao gồm: Stress,
tia tử ngoại, vi khuẩn, ô nhiễm môi trường, viêm mắt, nhiễm trùng mắt và
chấn thương.
Triệu chứng của bệnh đục thủy tinh thể được phát triển chậm và không gây
đau. Thường thấy hiện tượng ruồi bay, chấm đen hay đốm đen xuất hiện
trước mắt. Khi bệnh tiến triển, thấy mắt nh́n mờ, khó nh́n và mỏi mắt
khi tập trung vào tivi hay đọc sách báo. Nếu bệnh tiếp tục phát triển,
có thể cần phẫu thuật để khôi phục lại thị lực.
12. Tăng nhăn áp
Bệnh tăng nhăn áp hay cườm nước, xảy ra khi áp lực của thủy dịch trong
nhăn cầu tăng cao, gây áp lực lên mắt, làm tổn thương cho dây thần kinh
và dẫn đến mù ḷa. Bệnh được chia thành 4 loại, bao gồm: Tăng nhăn áp
góc mở, góc đóng, bẩm sinh và thứ cấp.
Bệnh có các triệu chứng như: Đau mắt, nh́n mờ, quầng sáng xung quanh và
buồn nôn. Tăng nhăn áp thường không được phát hiện, cho đến khi đă gây
tổn thương không thể phục hồi đến dây thần kinh thị giác. Nếu bệnh không
xử lư kịp thời, có thể gây mù hoàn toàn.
13. Rối loạn vơng mạc
Vơng mạc là lớp mô thần kinh mỏng nằm ở phía sau mắt, chịu trách nhiệm
ghi lại h́nh ảnh và gửi chúng lên năo. Bệnh rối loạn vơng mạc là tên gọi
chung của một số chứng bệnh về mắt do rối loạn trong vơng mạc (đáy mắt)
gây ra.
Có nhiều nguyên nhân gây rối loạn vơng mạc, dẫn đến thị lực bị ảnh
hưởng. Cần điều trị sớm, nếu không sẽ gây mù ḷa. 2 bệnh thường gặp nhất
là bệnh bong vơng mạc và bệnh vơng mạc tiểu đường.
• Bệnh bong vơng mạc: Khi vơng mạc bị rách, dịch kính trong mắt
chảy qua và tách vơng mạc ra khỏi lớp mô dưới.
• Bệnh vơng mạc tiểu đường: Gặp ở người bị đái tháo đường, phát
triển chậm và có hai giai đoạn: giai đoạn không tăng sinh (mạch máu bị
tổn thương, dẫn đến suy giảm thị lực) và giai đoạn tăng sinh (mạch máu
phát triển bất thường, có thể gây mù ḷa).
Tất nhiên, khi có tật bệnh th́ sẽ có người chữa. Trong y học, có một
chuyên khoa về việc này. Đó là nhăn khoa.
Thuật ngữ Nhăn khoa có nguồn gốc từ chữ “ophthalmos” trong
tiếng Hy Lạp, nghĩa là các chứng bệnh về mắt. Bác sĩ nhăn khoa đóng vai
tṛ quan trọng trong việc ngăn ngừa các bệnh về mắt thông qua việc phát
hiện và quản lư sớm, giảm nguy cơ mất thị lực và mù ḷa. Trong đó, bác
sĩ mắt sẽ phải chịu trách nhiệm cung cấp dịch vụ chăm sóc mắt toàn diện
bao gồm khám mắt định kỳ, điều chỉnh thị lực, chẩn đoán và điều trị các
t́nh trạng về mắt như tật khúc xạ, đục thủy tinh thể, cườm nước, thoái
hóa điểm vàng, vơng mạc tiểu đường, nhiễm trùng và viêm mắt cũng như
bệnh giác mạc.
Bên cạnh sự kết hợp giữa kỹ thuật quang học và nhăn khoa hiện đại, ngành
này sử dụng các trang thiết bị, phương pháp khoa học công nghệ khám mắt
tiên tiến nhất nhằm điều trị, phục hồi hiệu quả các chấn thương về mắt
và thị giác. Bác sĩ nhăn khoa sẽ được đào tạo để sử dụng công nghệ trong
kiểm soát cận thị giúp tăng độ chính xác trong quá tŕnh điều trị hay
máy mổ Laser thuộc công nghệ mới nhất về phẫu thuật không dùng dao, hỗ
trợ tối ưu trong phẫu thuật đục thủy tinh thể.
Cũng như các chuyên khoa khác trong ngành y tế, nhăn khoa cũng được chia
thành nhiều chuyên khoa phụ khác nhau, cho phép các bác sĩ tập trung vào
các lĩnh vực chăm sóc mắt cụ thể, chẳng hạn như nhi, chuyên gia vơng
mạc, chuyên gia bệnh tăng nhăn áp, chuyên gia giác mạc, nhăn khoa thần
kinh hay phẫu thuật tạo h́nh mắt…
Từ chuyện con mắt suy cho cùng, cũng nhiều chuyện để nói. Mà cũng phải
thôi, “ giàu hai con mắt, khó hai bàn tay “ !
Tháng mười 2024
THÂN TRỌNG SƠN

art2all.net |