Thân Trọng Sơn

 

 

ĐÔI MẮT ĐĂ TIẾT LỘ TẤT CẢ

Philip K. Dick
( 1928 - 1982 )

 

 


          Philip Kindred Dick sinh ngày 16 tháng 12 năm 1928 tại Chicago, tiểu bang Illinois, cùng với người chị em song sinh của ḿnh là Jane Charlotte Dick. Đáng tiếc, Jane qua đời chỉ sáu tuần sau đó, vào ngày 26 tháng 1 năm 1929 — một mất mát ám ảnh Dick suốt cuộc đời và ảnh hưởng sâu sắc đến các chủ đề lặp đi lặp lại trong sáng tác của ông như sự song đôi, sự vắng mặt và những điều vô h́nh. Cha mẹ ông, Joseph Edgar Dick và Dorothy Kindred, ly hôn năm 1933. Sau đó, Dick chuyển đến vùng Vịnh San Francisco cùng mẹ và sống ở đó trong phần lớn cuộc đời.


Dick theo học tại Trường Trung học Berkeley, nơi ông bắt đầu say mê những tạp chí khoa học viễn tưởng b́nh dân (pulp magazines) mà sau này chính ông cũng sẽ đăng truyện trên đó. Năm 1949, ông ghi danh vào Đại học California, Berkeley, nhưng nhanh chóng bỏ học, chọn làm việc tại một cửa hàng đĩa nhạc trong khi đắm ḿnh vào triết học, tâm lư học và âm nhạc cổ điển. Những mối quan tâm trí tuệ đa dạng này — từ Plato đến Carl Jung — đă trở thành nền tảng triết học cho toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông.


Truyện ngắn đầu tiên được xuất bản của Dick, Beyond Lies the Wub, xuất hiện trên tạp chí Planet Stories vào tháng 7 năm 1952. Trong ba thập niên tiếp theo, ông tạo nên một khối lượng tác phẩm đáng kinh ngạc: 44 tiểu thuyết đă xuất bản và khoảng 121 truyện ngắn. Giai đoạn đầu sự nghiệp của ông được đánh dấu bởi năng suất sáng tác phi thường trong các tạp chí khoa học viễn tưởng thập niên 1950 như Galaxy Science Fiction, If, Amazing Stories và Imagination.


Bước đột phá lớn đến với ông qua cuốn The Man in the High Castle (1962), một tiểu thuyết lịch sử giả tưởng mô tả thế giới nơi phe Trục chiến thắng trong Thế chiến II. Tác phẩm này mang về cho ông Giải Hugo cho Tiểu thuyết xuất sắc nhất — một trong những vinh dự cao quư nhất của thể loại khoa học viễn tưởng. Sau đó, Dick tiếp tục cho ra đời hàng loạt tiểu thuyết nổi bật trong thập niên 1960, bao gồm The Three Stigmata of Palmer Eldritch (1965), Do Androids Dream of Electric Sheep? (1968) và Ubik (1969). Trong đó, Ubik được tạp chí Time vinh danh là một trong 100 tiểu thuyết tiếng Anh vĩ đại nhất.


Trong số những truyện ngắn nổi tiếng nhất của ông, Second Variety khám phá các loại vũ khí tự động phát triển vượt khỏi tầm kiểm soát của con người, c̣n The Hanging Stranger kể về một cuộc xâm lược của người ngoài hành tinh đang diễn ra ngay trước mắt mọi người mà không ai nhận ra. Adjustment Team h́nh dung những thế lực bí ẩn thao túng thực tại thường nhật — ư tưởng sau này được chuyển thể thành bộ phim The Adjustment Bureau (2011). Những truyện đáng chú ư khác bao gồm The Eyes Have It, một kiệt tác hài hước ngắn gọn, và The Defenders, câu chuyện lạnh gáy về những người máy âm mưu chấm dứt một cuộc chiến tranh hạt nhân.


Các tiểu thuyết lớn của Dick vẫn là những cột mốc của văn học khoa học viễn tưởng. Do Androids Dream of Electric Sheep? đặt ra câu hỏi điều ǵ phân biệt con người với những sinh thể nhân tạo trong một thế giới nơi sự đồng cảm có thể được sản xuất hàng loạt. A Scanner Darkly (1977), lấy cảm hứng từ chính trải nghiệm của Dick với văn hóa ma túy, kể về một đặc vụ chống ma túy ch́m sâu đến mức không c̣n phân biệt được bản ngă thật với thân phận ngụy trang. VALIS (1981), cuốn tiểu thuyết mang tính tự truyện nhất của ông, làm mờ ranh giới giữa hư cấu và mặc khải tâm linh.


Văn chương của Dick liên tục chất vấn bản chất của thực tại. Các nhân vật của ông sống trong những thế giới nơi nền móng dưới chân luôn dịch chuyển — nơi kư ức có thể bị cấy ghép, danh tính có thể được chế tạo, và lớp vỏ tưởng chừng vững chắc của đời sống thường nhật có thể hóa ra chỉ là một ảo ảnh được duy tŕ cẩn thận. Như chính Dick từng nói:


“Trong các tác phẩm của ḿnh, tôi thậm chí c̣n đặt câu hỏi về chính vũ trụ; tôi tự hỏi thành tiếng liệu nó có thật hay không, và liệu tất cả chúng ta có thật hay không.”


Văn phong của ông tưởng như đơn giản — rơ ràng, gần gũi và giàu nhịp điệu — nhưng lại mang sức nặng triết học sâu sắc. Ông từng được gọi là “nhà thơ của nỗi hoang tưởng”, bởi ông tŕnh bày những kịch bản đáng bất an bằng một giọng điệu b́nh thản đến mức ngay cả độc giả tỉnh táo nhất cũng nhận ra có điều ǵ đó rất thật trong sự lo lắng của các nhân vật. Những chủ đề lặp lại trong tác phẩm của ông gồm có các chính quyền độc đoán, các tập đoàn độc quyền, những trạng thái ư thức biến đổi và ranh giới mong manh giữa trí tuệ con người với trí tuệ nhân tạo.


Cuộc sống riêng của Dick đầy biến động. Ông kết hôn năm lần: với Jeanette Marlin (1948), Kleo Apostolides (1950), Anne Williams Rubenstein (1959), Nancy Hackett (1966) và Leslie “Tessa” Busby (1973). Cả năm cuộc hôn nhân đều kết thúc bằng ly hôn.


Ông có ba người con: Laura, Isolde (Isa) và Christopher.


Trong phần lớn sự nghiệp, Dick phải vật lộn với việc sử dụng amphetamine. Chất kích thích này vừa góp phần vào năng suất sáng tác phi thường của ông, vừa làm sức khỏe suy giảm nghiêm trọng. Tháng 2 năm 1974, ông trải qua một loạt thị kiến mà ông gọi là “2-3-74” — một trải nghiệm thần bí mang tính chuyển đổi đă ám ảnh những năm cuối đời và dẫn đến công tŕnh triết học đồ sộ nhưng chưa hoàn thành mang tên Exegesis, dài hơn 8.000 trang viết tay.


Ngày 18 tháng 2 năm 1982, Dick bị đột quỵ tại nhà riêng ở Santa Ana, California. Sau đó ông tiếp tục bị thêm nhiều cơn đột quỵ khác và được rút hệ thống hỗ trợ sự sống sau khi hoạt động năo bộ chấm dứt. Philip K. Dick qua đời ngày 2 tháng 3 năm 1982, hưởng dương 53 tuổi — chỉ vài tuần trước khi bộ phim Blade Runner, chuyển thể từ Do Androids Dream of Electric Sheep? và do Ridley Scott đạo diễn, được công chiếu.


Sự ghi nhận mà Dick không hoàn toàn nhận được khi c̣n sống đă đến một cách mạnh mẽ sau khi ông qua đời. Nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn của ông được chuyển thể thành các bộ phim và loạt phim truyền h́nh nổi tiếng, bao gồm Blade Runner (1982), Total Recall (1990), Minority Report (2002), A Scanner Darkly (2006), The Man in the High Castle (Amazon, 2015–2019) và Philip K. Dick’s Electric Dreams (Amazon, 2017–2018).


Năm 2007, Thư viện Hoa Kỳ (Library of America) đă đưa Dick vào tuyển tập các tác gia kinh điển của ḿnh — một vinh dự hiếm hoi dành cho một nhà văn khoa học viễn tưởng, đặt ông ngang hàng với những tên tuổi như Herman Melville, Mark Twain và Willa Cather.


Trong lịch sử văn học khoa học viễn tưởng, Philip K. Dick thường được nhớ đến như một nhà văn luôn đặt câu hỏi về bản chất của thực tại. Các tác phẩm nổi tiếng của ông như Do Androids Dream of Electric Sheep?, Ubik hay VALIS đều xoay quanh một câu hỏi trung tâm: điều mà chúng ta cho là “thật” có thực sự tồn tại hay không?


Truyện ngắn The Eyes Have It (1953) là một phiên bản hài hước và súc tích của chính mối bận tâm triết học ấy. Thông qua câu chuyện về một người đàn ông hiểu theo nghĩa đen những thành ngữ thông thường trong tiếng Anh, Dick đă tạo nên một tác phẩm vừa gây cười vừa khiến người đọc suy ngẫm về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và nhận thức.


Toàn bộ truyện được xây dựng trên một nguyên tắc đơn giản: nhân vật kể chuyện không hiểu khái niệm nghĩa bóng.


Những cụm từ quen thuộc như: “his eyes roved about the room” (mắt anh ta đảo quanh căn pḥng) “he put his arm around Julia” (anh ta ṿng tay ôm Julia) “we split up” (chúng tôi chia ra) “he lost his head” (anh ta mất b́nh tĩnh), “she gave him her heart” (cô trao trái tim ḿnh cho anh ấy) đều được nhân vật hiểu theo nghĩa vật lư tuyệt đối. Kết quả là một thế giới kỳ quái hiện ra trước mắt anh ta: những sinh vật có thể tháo rời mắt, tay, tim, năo và nội tạng; những cơ thể có thể tự phân đôi; những cá thể vẫn tiếp tục sống b́nh thường dù không c̣n đầu hay trái tim. Tiếng cười của truyện xuất hiện từ khoảng cách giữa điều người đọc biết và điều nhân vật kể chuyện tin tưởng. Người đọc nhận ra đây chỉ là các thành ngữ thông thường, trong khi người kể chuyện lại xem chúng như bằng chứng khoa học về một cuộc xâm lăng của người ngoài hành tinh. Bên dưới lớp vỏ hài hước, Dick đang châm biếm một kiểu tư duy rất phổ biến: xu hướng diễn giải mọi thứ một cách cứng nhắc và máy móc.


Nhân vật kể chuyện liên tục thu thập “bằng chứng” để chứng minh giả thuyết của ḿnh. Tuy nhiên, thay v́ kiểm tra giả thuyết, anh ta chỉ chọn những chi tiết phù hợp với niềm tin sẵn có. Đây chính là hiện tượng mà ngày nay tâm lư học gọi là “thiên kiến xác nhận” (confirmation bias): con người thường chỉ chú ư đến những dữ kiện củng cố điều họ đă tin, đồng thời bỏ qua mọi bằng chứng ngược lại.


Một khi đă tin rằng người ngoài hành tinh đang trà trộn vào xă hội loài người, anh ta lập tức diễn giải mọi câu văn theo hướng đó.


Mỗi chi tiết mới không làm anh ta nghi ngờ giả thuyết của ḿnh mà ngược lại, càng khiến anh ta tin tưởng hơn.


Qua đó, Dick cho thấy cách những hệ thống niềm tin cực đoan có thể được xây dựng từ các dữ kiện hoàn toàn b́nh thường.


Ư nghĩa sâu sắc nhất của truyện nằm ở vấn đề ngôn ngữ.


Ngôn ngữ con người hoạt động dựa trên vô số phép ẩn dụ và thành ngữ. Chúng ta nói: “trao trái tim cho ai đó” “theo dơi bằng ánh mắt” “mất đầu” “không có ruột gan” mà không hề nghĩ đến nghĩa đen của các từ này. Nhân vật kể chuyện thất bại v́ anh ta không hiểu rằng ngôn ngữ không phải là bản sao hoàn hảo của thực tại. Con người không giao tiếp bằng nghĩa đen tuyệt đối; chúng ta giao tiếp bằng quy ước văn hóa. Dick đặt ra một câu hỏi thú vị: điều ǵ sẽ xảy ra nếu một người hoàn toàn mất khả năng nhận biết phép ẩn dụ? Câu trả lời là người đó sẽ sống trong một thực tại hoàn toàn khác. Nói cách khác, thực tại mà chúng ta nhận thức được không chỉ được h́nh thành từ những ǵ mắt thấy tai nghe mà c̣n từ cách chúng ta diễn giải ngôn ngữ.


Điều đặc biệt là The Eyes Have It tuy là truyện hài nhưng lại chứa đựng hầu hết các chủ đề lớn trong sáng tác của Philip K. Dick.


Trong nhiều tác phẩm khác của ông, nhân vật thường: hiểu sai bản chất thế giới; tin vào những âm mưu khổng lồ; không thể phân biệt thật và giả; sống trong một thực tại do chính nhận thức của ḿnh tạo ra.Người kể chuyện trong The Eyes Have It cũng như vậy. Anh ta tin rằng ḿnh đă khám phá ra một bí mật kinh hoàng về sự xâm lược của người ngoài hành tinh. Thực chất, thứ anh ta khám phá chỉ là những thành ngữ tiếng Anh thông thường. Bi kịch hài hước ở đây là nhân vật hoàn toàn không nhận ra sai lầm của ḿnh. Đến cuối truyện, anh ta vẫn tin chắc rằng cuộc xâm lăng đang diễn ra và quyết định không can dự v́ “không có dạ dày cho chuyện đó” — một câu thành ngữ mà chính anh ta cũng vô t́nh sử dụng, trong khi toàn bộ câu chuyện tồn tại nhờ việc hiểu sai các thành ngữ tương tự.


The Eyes Have It là một tác phẩm ngắn nhưng cực kỳ tinh tế. Bề mặt, đây là một truyện hài dựa trên lối chơi chữ và sự hiểu lầm. Tuy nhiên, bên dưới tiếng cười là một suy tư triết học về ngôn ngữ, nhận thức và khả năng con người tự giam ḿnh trong những diễn giải sai lầm.


Thông qua nhân vật kể chuyện hoang tưởng nhưng hoàn toàn chân thành, Philip K. Dick nhắc nhở người đọc rằng điều nguy hiểm nhất không phải là thế giới bí ẩn đến đâu, mà là việc chúng ta có thể diễn giải thế giới theo cách sai lầm mà vẫn tin ḿnh đă hiểu rơ sự thật.


Chính v́ vậy, The Eyes Have It không chỉ là một truyện cười về thành ngữ tiếng Anh. Nó c̣n là một bài học sâu sắc về giới hạn của nhận thức con người — một chủ đề sẽ theo đuổi Philip K. Dick trong suốt toàn bộ sự nghiệp văn chương của ông.


* * *

ĐÔI MẮT ĐĂ TIẾT LỘ TẤT CẢ (1953) là một truyện khoa học viễn tưởng ngắn đầy thông minh của Philip K. Dick, sử dụng dày đặc các thành ngữ và lối chơi chữ.

Thỉnh thoảng, một chút dí dỏm cũng giúp cuộc sống cân bằng hơn. Về lư thuyết, kiểu hài hước này có thể xuất hiện ở bất cứ đâu. Nhưng chúng tôi cho rằng chỉ một nhà văn khoa học viễn tưởng xuất sắc hàng đầu mới có thể viết nên câu chuyện này theo đúng cách như thế….

 

 

          Tôi hoàn toàn t́nh cờ phát hiện ra cuộc xâm lăng đáng kinh ngạc của Trái Đất bởi những sinh vật đến từ một hành tinh khác. Cho đến nay, tôi vẫn chưa làm ǵ về chuyện đó; tôi không nghĩ ra được ḿnh có thể làm ǵ. Tôi đă viết thư cho Chính phủ, và họ gửi lại cho tôi một cuốn sách hướng dẫn về việc sửa chữa và bảo dưỡng nhà khung gỗ. Dù sao th́ toàn bộ sự việc này cũng đă được biết đến; tôi không phải là người đầu tiên phát hiện ra nó. Có lẽ nó thậm chí c̣n đang nằm trong tầm kiểm soát.
 

Tôi đang ngồi trên chiếc ghế bành yêu thích, lơ đăng lật những trang của một cuốn sách b́a mềm mà ai đó bỏ quên trên xe buưt, th́ bắt gặp chi tiết đầu tiên đưa tôi lần theo dấu vết này. Thoạt đầu tôi không phản ứng ǵ. Phải mất một lúc tôi mới thấm hết ư nghĩa của nó. Sau khi hiểu ra, tôi thấy thật lạ là ḿnh đă không nhận ra ngay từ đầu.


Chi tiết ấy rơ ràng ám chỉ đến một loài phi nhân loại với những đặc tính phi thường, không có nguồn gốc từ Trái Đất. Tôi xin nhấn mạnh, đó là một loài thường ngụy trang thành những con người b́nh thường. Tuy nhiên, lớp ngụy trang của họ trở nên trong suốt trước những nhận xét sau đây của tác giả. Rơ ràng ngay lập tức là tác giả biết tất cả. Biết tất cả — và vẫn thản nhiên coi như không có ǵ đặc biệt. Câu văn đó (và đến giờ nhớ lại tôi vẫn c̣n rùng ḿnh) viết:


“…đôi mắt của anh ta chậm răi đảo quanh căn pḥng.”


Một cảm giác lạnh sống lưng mơ hồ xâm chiếm tôi. Tôi cố h́nh dung đôi mắt ấy. Chúng có lăn như những đồng xu không? Đoạn văn cho thấy là không; chúng dường như di chuyển trong không khí chứ không phải trên một bề mặt nào đó. Có vẻ c̣n khá nhanh nữa. Không một nhân vật nào trong truyện tỏ ra ngạc nhiên. Chính điều đó khiến tôi cảnh giác. Không hề có dấu hiệu kinh ngạc nào trước một chuyện kỳ quái đến thế. Sau đó, vấn đề này c̣n được làm rơ hơn:


“…đôi mắt của anh ta chuyển từ người này sang người khác.”


Mọi chuyện đă rơ như ban ngày. Đôi mắt ấy hẳn đă tách rời khỏi phần c̣n lại của cơ thể và tự hoạt động độc lập. Tim tôi đập th́nh thịch, hơi thở nghẹn lại nơi cổ họng. Tôi đă t́nh cờ bắt gặp một lời nhắc đến một chủng loài hoàn toàn xa lạ. Rơ ràng không phải người Trái Đất. Thế nhưng đối với các nhân vật trong cuốn sách, điều đó hoàn toàn tự nhiên — điều này cho thấy họ cũng thuộc cùng một loài. C̣n tác giả th́ sao? Một mối nghi ngờ âm ỉ bùng lên trong tâm trí tôi. Tác giả tỏ ra quá đỗi b́nh thản trước chuyện này. Hiển nhiên ông ta cho rằng đây là điều hết sức b́nh thường. Ông ta hoàn toàn không cố che giấu hiểu biết đó. Câu chuyện tiếp tục:


“…rồi đôi mắt của anh ta dừng lại trên Julia.”


Julia, là một quư cô, ít nhất cũng đủ giáo dưỡng để cảm thấy phẫn nộ. Cô được mô tả là đỏ mặt và cau mày tức giận. Đến đây tôi thở phào nhẹ nhơm. Không phải tất cả đều là sinh vật ngoài Trái Đất. Câu chuyện tiếp tục:


“…chậm răi, điềm tĩnh, đôi mắt của anh ta xem xét từng tấc trên cơ thể cô.”


Lạy Chúa! Nhưng rồi cô gái quay người, dậm chân bỏ đi, và sự việc chấm dứt tại đó. Tôi ngả người ra ghế, thở hổn hển v́ kinh hoàng. Vợ con tôi nh́n tôi đầy kinh ngạc.


“Có chuyện ǵ vậy anh?” vợ tôi hỏi.


Tôi không thể nói cho cô ấy biết. Một kiến thức như thế này vượt quá sức chịu đựng của những người b́nh thường. Tôi phải giữ nó cho riêng ḿnh.


“Không có ǵ,” tôi thở hổn hển.


Tôi bật dậy, chộp lấy cuốn sách rồi vội vă ra khỏi pḥng.


Trong nhà để xe, tôi tiếp tục đọc. C̣n nhiều điều nữa. Run rẩy, tôi đọc đoạn tiết lộ tiếp theo:


“…anh ta ṿng tay ôm lấy Julia. Một lúc sau cô hỏi liệu anh có thể tháo cánh tay của ḿnh ra không. Anh lập tức làm theo, mỉm cười.”


Không hề nói cánh tay ấy được làm ǵ sau khi gă kia tháo nó ra. Có lẽ nó được dựng đứng ở góc pḥng. Có lẽ nó bị vứt đi. Tôi không quan tâm. Dù thế nào đi nữa, ư nghĩa đầy đủ của chuyện đó đă hiện ra sờ sờ trước mắt tôi.


Đây là một chủng loài có khả năng tháo rời các bộ phận cơ thể theo ư muốn. Mắt, tay — và có thể c̣n nhiều thứ khác nữa. Mà chẳng hề chớp mắt lấy một cái.


Kiến thức sinh học của tôi lúc này trở nên hữu ích. Rơ ràng chúng là những sinh vật đơn giản, đơn bào, một dạng sinh vật nguyên thủy chỉ gồm một tế bào. Những sinh vật không tiến hóa hơn sao biển là bao. Sao biển cũng làm được như vậy, bạn biết đấy.


Tôi đọc tiếp. Và rồi bắt gặp một tiết lộ kinh hoàng khác, được tác giả thản nhiên ném ra mà không hề run rẩy:


“…bên ngoài rạp chiếu phim, chúng tôi tách ra. Một phần chúng tôi đi vào trong, phần c̣n lại sang quán cà phê ăn tối.”


Rơ ràng là sinh sản phân đôi. Tách làm hai và tạo thành hai cá thể. Có lẽ mỗi nửa dưới đi đến quán cà phê v́ ở xa hơn, c̣n các nửa trên th́ vào xem phim.


Tôi tiếp tục đọc, hai tay run bần bật. Tôi thực sự đă phát hiện ra điều ǵ đó. Đầu óc tôi quay cuồng khi đọc đến đoạn này:


“…tôi e là không c̣n nghi ngờ ǵ nữa. Tội nghiệp Bibney, anh ta lại mất đầu rồi.”


Tiếp theo là:


“…và Bob nói rằng anh ta hoàn toàn không có ruột gan ǵ cả.”


Vậy mà Bibney vẫn đi lại b́nh thường như bất kỳ ai khác. Người tiếp theo, tuy nhiên, cũng kỳ lạ không kém. Chẳng bao lâu sau anh ta được mô tả là:


“…hoàn toàn không có năo.”


Đến đoạn tiếp theo th́ không c̣n nghi ngờ ǵ nữa. Julia, người mà tôi từng nghĩ là người b́nh thường duy nhất, cũng tự bộc lộ là một dạng sinh vật ngoài hành tinh giống hệt những kẻ c̣n lại:


“…Julia đă cố ư trao trái tim ḿnh cho chàng trai trẻ.”


Không hề nói rơ cơ quan đó cuối cùng ra sao, nhưng tôi cũng chẳng quan tâm nữa. Rơ ràng Julia vẫn tiếp tục sống như thường lệ, giống như tất cả những kẻ khác trong cuốn sách. Không có tim, không có tay, không có mắt, không có năo, không có nội tạng, thỉnh thoảng c̣n tách đôi khi cần thiết. Mà chẳng hề bận tâm.


“…rồi cô trao cho anh ta bàn tay của ḿnh.”


Tôi thấy buồn nôn. Tên vô lại đó giờ đă có cả bàn tay lẫn trái tim của cô. Tôi rùng ḿnh khi nghĩ đến những ǵ hắn đă làm với chúng cho đến lúc này.


“…anh ta nắm lấy cánh tay cô.”


Không chịu chờ đợi, hắn c̣n tự ḿnh bắt đầu tháo dỡ cô gái.


Mặt đỏ bừng, tôi sập cuốn sách lại và bật dậy. Nhưng không kịp để thoát khỏi lời nhắc cuối cùng về những bộ phận cơ thể vô tư ấy, những kẻ lang thang đă khiến tôi lần đầu phát hiện ra tất cả:


“…đôi mắt của cô dơi theo anh suốt con đường và băng qua cánh đồng.”


Tôi lao khỏi nhà để xe, chạy trở lại ngôi nhà ấm áp như thể những thứ đáng nguyền rủa ấy đang đuổi theo ḿnh.


Vợ và các con tôi đang chơi Monopoly trong bếp. Tôi nhập cuộc cùng họ, chơi với một sự cuồng nhiệt gần như hoảng loạn, trán nóng bừng, răng va vào nhau lập cập.


Tôi đă quá đủ với chuyện này rồi. Tôi không muốn nghe thêm ǵ nữa. Cứ để chúng kéo đến. Cứ để chúng xâm lược Trái Đất.


Tôi không muốn dính dáng ǵ đến chuyện đó.


Tôi hoàn toàn không c̣n chút “dạ dày” nào cho việc ấy nữa.

( Trong tiếng Anh, thành ngữ “to have no stomach for something” có nghĩa là: không muốn đối mặt với điều ǵ đó; không đủ can đảm hoặc hứng thú để tham gia; cảm thấy ghê sợ hoặc không chịu nổi.)


THÂN TRỌNG SƠN
Dịch và giới thiệu
Tháng 6 / 2026


Nguồn:
https://americanliterature.com/author/philip-k-dick/short-story/the-eyes-have-it

 

 

Trang Thân Trng Sơn

art2all.net