Thân Trng Sơn

 

GIỜ SỐ KHÔNG

Ray Bradbury
( 1920 - 2012 )

 

 

 

           Ray Bradbury sinh ra tại Waukegan, là con trai thứ ba của Leonard Spaulding Bradbury và Esther Marie Moberg. Tuổi thơ của ông ở Waukegan — sau này được hư cấu hóa thành “Green Town” trong các tiểu thuyết của ông — đă để lại dấu ấn sâu đậm trong trí tưởng tượng, làm đầy tác phẩm của ông bằng nỗi hoài niệm về cuộc sống thị trấn nhỏ vùng Trung Tây.

Năm 1934, trong thời kỳ Great Depression, gia đ́nh Bradbury chuyển đến Los Angeles, nơi ông sống suốt phần đời c̣n lại.

Bradbury chưa từng học đại học. Thay vào đó, ông tự học tại các thư viện công cộng, và sau này từng nói: “Chính các thư viện đă nuôi dưỡng tôi.” Ông dành ba ngày mỗi tuần tại Los Angeles Public Library trong khoảng mười năm, đọc ngấu nghiến và tự rèn luyện kỹ năng viết. Nền tự học này đă mang lại cho ông một cảm quan văn học đa dạng, kết hợp giữa chất thơ và yếu tố kỳ ảo.

Ray Bradbury bắt đầu viết từ khi c̣n là thiếu niên, xuất bản truyện đầu tay trên một tạp chí dành cho người hâm mộ vào năm 1938. Ông nhanh chóng bước vào thế giới các tạp chí pulp, bán truyện cho những ấn phẩm như Weird Tales, Planet Stories và Thrilling Wonder Stories. Nhiều tác phẩm đầu tay này — bao gồm The Pendulum (1939), Lazarus Come Forth (1944) và Defense Mech (1946) — hiện đă thuộc phạm vi công cộng và có thể đọc tự do.

Bước đột phá của ông đến với The Martian Chronicles (1950), một tuyển tập truyện ngắn nổi tiếng khắc họa quá tŕnh loài người khai phá Sao Hỏa. Thay v́ tập trung vào hành động kiểu khoa học viễn tưởng truyền thống, Bradbury sử dụng văn xuôi giàu chất trữ t́nh và ẩn dụ để khám phá thân phận con người, xung đột văn hóa và sự tàn phá sinh thái. Tác phẩm được giới phê b́nh ca ngợi v́ sự kết hợp giữa huyền thoại, khoa học viễn tưởng và châm biếm xă hội, đồng thời đưa ông trở thành một tên tuổi nổi bật trên toàn nước Mỹ.

Năm 1947, Bradbury kết hôn với Marguerite “Maggie” McClure, người ông gặp tại một hiệu sách ở Los Angeles. Họ sống bên nhau suốt 56 năm cho đến khi bà qua đời vào năm 2003, và có bốn người con gái: Susan, Ramona, Bettina và Alexandra. Bradbury nổi tiếng là người không bao giờ học lái xe và cũng không đi máy bay, thích đi tàu hỏa và viết lách hơn — một nghịch lư thú vị đối với một người đă tưởng tượng ra việc loài người chinh phục Sao Hỏa.

Những vinh danh ông nhận được bao gồm Giải thưởng Pulitzer đặc biệt (2007), Huân chương Nghệ thuật Quốc gia Hoa Kỳ (2004), và giải Emmy. Ray Bradbury qua đời ngày 5 tháng 6 năm 2012 tại Los Angeles, hưởng thọ 91 tuổi sau một thời gian dài bệnh tật không được công bố.

Di sản của Bradbury vượt xa khuôn khổ văn học thể loại. Ông đă đưa những chủ đề giả tưởng vào ḍng văn học chính thống, ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều thế hệ nhà văn, nhà làm phim và độc giả trên toàn thế giới.

Tác phẩm nổi tiếng nhất của Ray Bradbury, Fahrenheit 451 (1953), là một khám phá lạnh lẽo về kiểm duyệt và sự đồng nhất trong một tương lai phản địa đàng, nơi sách bị cấm và những “lính cứu hỏa” có nhiệm vụ đốt bất kỳ cuốn sách nào bị phát hiện. Những lời cảnh báo mang tính tiên tri của tác phẩm về công nghệ, kiểm duyệt và sự lăng quên văn hóa vẫn c̣n nguyên tính thời sự trong thời đại số. Cuốn tiểu thuyết này được giảng dạy rộng răi trong các trường học và đại học trên toàn thế giới, đồng thời được chuyển thể thành phim, kịch sân khấu và chương tŕnh phát thanh.

The Illustrated Man (1951) là một tuyển tập truyện ngắn đầy ám ảnh, được kết nối với nhau qua h́nh ảnh một người đàn ông xăm ḿnh bí ẩn, nơi mỗi h́nh xăm sống động kể một câu chuyện. Những truyện như The Veldt và Zero Hour khai thác tác động của công nghệ đối với các mối quan hệ con người với một tầm nh́n đáng kinh ngạc.

Các tác phẩm quan trọng khác bao gồm The October Country (1955), một tập truyện giả tưởng u tối; Dandelion Wine (1957), cuốn tiểu thuyết hoài niệm dựa trên tuổi thơ của ông ở Illinois; và Something Wicked This Way Comes (1962), một tác phẩm giả tưởng đen tối về một gánh xiếc lưu động đầy hiểm họa. Bradbury cũng viết cho truyền h́nh, đóng góp kịch bản cho Alfred Hitchcock Presents và The Twilight Zone, đồng thời chuyển thể Moby-Dick của Herman Melville cho bộ phim năm 1956 của đạo diễn John Huston.

Văn chương của Bradbury nổi bật bởi chất văn xuôi giàu tính thơ và trữ t́nh — điều khá hiếm trong thể loại khoa học viễn tưởng. Ông mang đến chiều sâu tâm lư và vẻ đẹp văn học cho ḍng văn học giả tưởng, kết hợp những b́nh luận xă hội sắc bén với sự ấm áp cảm xúc, khiến tác phẩm của ông dễ tiếp cận ngay cả với những độc giả không thường đọc sci-fi. Các câu chuyện của ông thường bắt đầu từ những điều b́nh dị rồi dần leo thang đến những điều phi thường, sử dụng h́nh ảnh cảm giác sống động để tạo nên bầu không khí đặc biệt. Ông nổi tiếng với việc viết mỗi ngày trong suốt cuộc đời, sáng tác hơn 600 truyện ngắn, gần 30 tiểu thuyết, cùng hàng chục vở kịch, kịch bản và bài thơ trong sự nghiệp kéo dài hơn 70 năm.

Truyện ngắn “Zero Hour” (1947), in trong tập The Illustrated Man, là một trong những tác phẩm tiêu biểu thể hiện rơ tài năng kết hợp giữa khoa học viễn tưởng và chiều sâu tâm lư – xă hội của Ray Bradbury. Dưới lớp vỏ của một tṛ chơi trẻ con tưởng như vô hại, tác phẩm mở ra một viễn cảnh rùng rợn về sự sụp đổ của thế giới người lớn — không phải bởi chiến tranh hay công nghệ, mà bởi chính sự ngây thơ và trí tưởng tượng của trẻ nhỏ.

Một trong những trục ư nghĩa quan trọng của truyện là sự đối lập sâu sắc giữa hai thế giới:
. Trẻ em: giàu trí tưởng tượng, tin tưởng tuyệt đối, dễ bị ảnh hưởng (impressionable)
. Người lớn: lư trí, tự măn, và… mù quáng

Người lớn trong truyện, tiêu biểu là bà Morris, liên tục xem nhẹ tṛ chơi “Xâm lăng”. Họ cho rằng đó chỉ là một giai đoạn phát triển b́nh thường của trẻ. Ngược lại, trẻ em lại tiếp nhận tṛ chơi này như một thực tại nghiêm túc, thậm chí mang tính sứ mệnh.

Bradbury đă đặt ra một nghịch lư:
Chính điều khiến trẻ em bị xem là “yếu điểm” (trí tưởng tượng) lại trở thành công cụ xâm lược hiệu quả nhất.

Truyện là một lời cảnh báo sắc lạnh về thái độ của người lớn đối với trẻ em.
Người lớn:
-Không lắng nghe
-Không tin tưởng
-Không quan sát kỹ lưỡng

Trong khi đó, lũ trẻ:
-tổ chức
-hợp tác
-hành động có mục đích rơ ràng.

Câu nói của Mink: “We’ll kill them first” không chỉ gây sốc mà c̣n cho thấy một sự đứt găy t́nh cảm gia đ́nh. Trẻ em không c̣n nh́n người lớn như người bảo vệ, mà như chướng ngại cần loại bỏ.

Điều đáng sợ không nằm ở bạo lực, mà ở chỗ: người lớn không nhận ra nguy hiểm cho đến khi quá muộn.

“Zero Hour” (giờ số không) là điểm cao trào mang tính biểu tượng:
• là thời điểm tṛ chơi trở thành hiện thực
• là ranh giới giữa ảo tưởng và sự thật
• là lúc trật tự thế giới bị đảo lộn hoàn toàn

Cảnh kết — khi Mink mở cửa và nói “Peek-a-boo” — vừa mang tính trẻ con, vừa mang ư nghĩa kinh hoàng. Một tṛ chơi ú ̣a đơn giản biến thành: tín hiệu của sự xâm chiếm và kết thúc của quyền lực người lớn.

Khác với các mô-típ xâm lược ngoài hành tinh truyền thống, Bradbury xây dựng một kịch bản tinh vi hơn:
• Người ngoài hành tinh không tấn công trực diện
• Họ khai thác điểm yếu tâm lư của con người
• Họ sử dụng chính trẻ em như “đội quân thứ năm”

Điều này phản ánh một ư niệm rất hiện đại:

mối đe dọa lớn nhất không đến từ bên ngoài, mà từ bên trong xă hội.

Bradbury khắc họa một thế giới:
• ḥa b́nh tuyệt đối
• công nghệ phát triển
• con người tin rằng chiến tranh đă chấm dứt măi măi

Chính sự tự măn này khiến họ:
• mất cảnh giác
• không c̣n khả năng tưởng tượng nguy cơ
• đánh giá thấp những điều “phi lư”

Tác giả ngầm chỉ ra:
Khi con người tin rằng ḿnh bất khả xâm phạm, đó chính là lúc họ dễ bị tổn thương nhất.

Mink không phải là “ác nhân” theo nghĩa truyền thống. Em:
• không ghét bố mẹ theo cách người lớn hiểu
• không ư thức được hậu quả hành động
• chỉ đơn giản “chơi” một tṛ chơi mà em tin là thật

Điều này làm tăng tính rùng rợn của truyện:

Cái ác không đến từ ư thức, mà từ sự vô tư tuyệt đối.

Bradbury sử dụng nhiều thủ pháp tinh tế:
• Tăng dần căng thẳng: từ tṛ chơi → nghi ngờ → dấu hiệu lạ → thảm họa
• Chi tiết nhỏ mang tính báo hiệu: yo-yo biến mất, “dim-dims”, “impressionable”
• Giọng điệu hai lớp: hồn nhiên của trẻ em bất an của người lớn

Đặc biệt, ông không mô tả trực tiếp người ngoài hành tinh — điều này khiến nỗi sợ trở nên mơ hồ và ám ảnh hơn.

 

“Zero Hour” không chỉ là một truyện khoa học viễn tưởng về xâm lăng, mà c̣n là một ẩn dụ sâu sắc về:
• khoảng cách thế hệ
• sự thất bại của người lớn trong việc hiểu trẻ em
• và nguy cơ tiềm ẩn trong chính những điều bị xem là vô hại

Qua đó, Ray Bradbury gửi gắm một thông điệp đáng suy ngẫm:
Khi con người ngừng lắng nghe, ngừng tưởng tượng, và tin rằng ḿnh an toàn tuyệt đối — th́ chính lúc đó, “giờ số không” đă bắt đầu.

 

 


 

          Ôi, đó sẽ là một cuộc vui thật tuyệt! Một tṛ chơi tuyệt vời! Niềm háo hức đến thế, đă lâu lắm rồi bọn trẻ mới cảm thấy. Chúng lao vút khắp những băi cỏ xanh mướt, gọi nhau ơi ới, nắm tay nhau, xoay ṿng ṿng, trèo cây, cười vang… Trên đầu, những con tàu tên lửa bay vút qua, c̣n những chiếc xe như bọ cánh cứng ŕ rầm lướt trên đường phố, nhưng lũ trẻ vẫn mải mê chơi đùa. Thật vui, thật run rẩy phấn khích, thật những tiếng la hét lăn lộn đầy khoái trá.

Mink chạy vào nhà, người lấm lem đất và mồ hôi. Với cái tuổi bảy của ḿnh, con bé ồn ào, mạnh mẽ và dứt khoát. Mẹ nó, bà Morris, hầu như chẳng kịp để ư khi nó kéo tung các ngăn kéo, lục lọi xoong nồi và dụng cụ, nhét tất cả vào một cái bao lớn.

“Trời ơi, Mink, có chuyện ǵ vậy?”

“Tṛ chơi thú vị nhất từ trước tới giờ!” Mink thở dốc, mặt đỏ bừng.

“Dừng lại, thở cho đàng hoàng đă,” mẹ nó nói.

“Không, con ổn mà,” Mink vừa thở vừa đáp. “Được không nếu con lấy mấy thứ này, mẹ?”

Nhưng đừng làm móp chúng đấy,” bà Morris nói.

“Cảm ơn, cảm ơn mẹ!” Mink reo lên, và vùm!—nó đă biến mất như một quả tên lửa.

Bà Morris nh́n theo cái dáng bé nhỏ đang chạy xa dần. “Tṛ chơi tên là ǵ thế?”

“Xâm lăng!” Mink đáp. Cánh cửa sập lại.

Trong mọi sân vườn trên con phố, bọn trẻ lôi ra dao, nĩa, thanh cời lửa, những ống bếp cũ và cả đồ mở hộp.

Thật kỳ lạ, cơn náo động và hối hả này chỉ xảy ra ở lũ trẻ nhỏ. Những đứa lớn hơn, từ mười tuổi trở lên, tỏ ra khinh thường chuyện ấy và bỏ đi dạo bộ, hoặc chơi một phiên bản trốn t́m trang trọng hơn theo cách riêng của chúng.

Trong khi đó, người lớn ra vào trên những chiếc xe bóng loáng như bọ cánh cứng bằng crôm. Thợ sửa chữa đến để sửa thang máy hút chân không trong nhà, chỉnh lại những chiếc tivi chập chờn, hoặc gơ búa vào những ống dẫn thức ăn cứng đầu. Nền văn minh của người lớn cứ thế qua lại giữa đám trẻ đang bận rộn, vừa ganh tị với nguồn năng lượng dữ dội của lũ trẻ hoang dă, vừa khoan dung thích thú trước những tṛ bày biện của chúng, thầm mong được nhập cuộc.

“Cái này, cái này, rồi cái này nữa,” Mink nói, chỉ huy những đứa khác với đủ loại th́a và cờ lê.

“Làm thế đi, rồi mang cái đó qua đây. Không! Ở đây, đồ ngốc! Đúng rồi. Bây giờ lùi lại để tớ sửa cái này—” Nó cắn đầu lưỡi, mặt nhăn lại v́ suy nghĩ. “Như thế. Thấy chưa?”

“Yeahhhh!” lũ trẻ reo lên.

Joseph Connors, mười hai tuổi, chạy tới.

“Đi chỗ khác đi,” Mink nói thẳng với cậu.

“Tớ muốn chơi,” Joseph nói.

“Không được!” Mink đáp.

“Tại sao không?”

“V́ cậu sẽ chỉ chế giễu bọn tớ thôi.”

“Thật mà, tớ sẽ không.”

“Không. Bọn tớ biết cậu mà. Đi đi, không th́ bọn tớ đá đấy.”

Một cậu bé mười hai tuổi khác lướt vèo qua trên đôi giày trượt gắn động cơ nhỏ. “Này, Joe! Đi thôi! Kệ bọn nhóc yếu đuối đó chơi!”

Joseph lộ vẻ chần chừ và có chút bâng khuâng. “Tớ muốn chơi,” cậu nói.

“Cậu già rồi,” Mink nói dứt khoát.

“Cũng chưa già đến thế,” Joe đáp một cách hợp lư.

“Cậu chỉ cười rồi làm hỏng tṛ ‘Xâm lăng’ thôi.”

Cậu bé trên giày trượt phát ra một tiếng bĩu môi thô lỗ. “Đi thôi, Joe! Bọn chúng với mấy tṛ tiên với chả phép! Vớ vẩn!”

Joseph bước đi chậm răi. Cậu cứ ngoái đầu nh́n lại suốt dọc con phố.

Mink th́ đă lại bận rộn. Nó ghép các vật dụng thu nhặt được thành một thứ thiết bị kỳ lạ. Nó chỉ định một bé gái khác cầm sổ và bút ch́ để ghi chép lại bằng những nét chữ chậm chạp, khó nhọc. Giọng nói của chúng lên xuống giữa ánh nắng ấm áp.

Xung quanh, thành phố ngân lên một nhịp điệu đều đều. Hai bên đường là những hàng cây xanh tốt, yên b́nh. Chỉ có gió tạo nên chút xao động, thổi qua thành phố, qua đất nước, qua cả lục địa. Ở hàng ngàn thành phố khác cũng có những hàng cây, những đứa trẻ và những đại lộ như thế; những người đàn ông làm việc trong các văn pḥng yên tĩnh, thu âm giọng nói của ḿnh, hoặc theo dơi màn h́nh truyền h́nh. Những con tàu tên lửa lơ lửng như kim khâu trên nền trời xanh. Một niềm tự măn êm đềm và phổ quát bao trùm con người—những kẻ đă quen với ḥa b́nh, hoàn toàn tin chắc rằng sẽ chẳng bao giờ c̣n rắc rối nữa. Tay trong tay, con người khắp Trái Đất tạo thành một mặt trận thống nhất. Những vũ khí hoàn hảo được các quốc gia cùng nắm giữ trong sự tin cậy ngang bằng. Một trạng thái cân bằng tuyệt đẹp đến khó tin đă được thiết lập. Không có kẻ phản bội nào giữa loài người, không có ai bất hạnh, không có ai bất măn; v́ thế, thế giới được đặt trên một nền tảng vững chắc. Ánh mặt trời chiếu sáng nửa địa cầu, và những hàng cây lặng lẽ thiếp đi trong làn không khí ấm áp dập dềnh.

Mẹ của Mink đứng bên cửa sổ tầng trên, nh́n xuống.

Bọn trẻ.

Bà nh́n chúng rồi lắc đầu. Ừ, rồi chúng cũng sẽ ăn no, ngủ ngon, và đến trường vào thứ Hai. Phúc lành cho những thân thể nhỏ bé đầy sức sống ấy. Bà lắng nghe. Mink đang nói chuyện rất nghiêm túc với ai đó bên bụi hoa hồng—nhưng chẳng có ai ở đó cả.

Lũ trẻ kỳ quặc này. C̣n con bé kia tên ǵ nhỉ? Anna chăng? Anna đang ghi chép vào một cuốn sổ. Trước hết, Mink hỏi bụi hoa hồng một câu, rồi gọi câu trả lời cho Anna ghi lại.

“Tam giác,” Mink nói.

“Tam… cái ǵ cơ,” Anna nói khó nhọc, “giác?”

“Kệ đi,” Mink đáp.

“Đánh vần thế nào?” Anna hỏi.

“T-A-M—” Mink đánh vần chậm răi, rồi bực bội nói, “Ôi, tự mà đánh vần đi!” Nó chuyển sang những từ khác. “Chùm tia,” nó nói.

“Tớ c̣n chưa ghi xong ‘tam… giác’!” Anna nói.

“Th́ nhanh lên, nhanh lên!” Mink kêu.

Mẹ Mink nghiêng người ra ngoài cửa sổ tầng trên. “G-I-Á-C,” bà đánh vần xuống cho Anna.

“Ồ, cảm ơn bà Morris!” Anna nói.

“Được thôi,” mẹ Mink nói rồi cười, rút vào trong để phủi bụi hành lang bằng chiếc máy hút bụi điện từ.

Những giọng nói dao động trong làn không khí lấp lánh. “Chùm tia,” Anna nói, giọng nhỏ dần.

“Bốn-chín-bảy-A-và-B-và-X,” Mink nói từ xa, rất nghiêm túc. “Và một cái nĩa, và một sợi dây, và một… lục—lục—đau… lục giác!”

Đến bữa trưa, Mink tu cạn ly sữa trong một hơi rồi đă lao ra cửa. Mẹ nó đập tay xuống bàn.

“Ngồi lại ngay,” bà Morris ra lệnh. “Súp nóng sắp có đây.” Bà nhấn một nút đỏ trên chiếc tủ bếp tự động, và mười giây sau, một vật rơi “bịch” vào ngăn nhận bọc cao su. Bà Morris mở ra, lấy một cái lon bằng kẹp nhôm, bật nắp nhanh gọn rồi đổ súp nóng vào bát.

Trong suốt lúc đó, Mink cứ nhấp nhổm không yên. “Nhanh lên, mẹ! Đây là chuyện sống c̣n đấy! Ôi—!”

“Mẹ hồi bằng tuổi con cũng thế. Lúc nào cũng là chuyện sống chết. Mẹ biết mà.”

Mink húp súp ừng ực.

“Chậm thôi,” mẹ nó nói.

“Không được,” Mink đáp. “Drill đang chờ con.”

“Drill là ai? Cái tên ǵ mà lạ thế,” mẹ nó nói.

“Mẹ không biết đâu,” Mink đáp.

“Có phải một cậu bé mới trong khu không?” mẹ hỏi.

“Th́ mới thật,” Mink nói. Nó bắt đầu bát thứ hai.

“Drill là đứa nào?” mẹ hỏi.

“Nó ở đâu đó quanh đây,” Mink nói lảng tránh. “Mẹ sẽ cười thôi. Ai cũng chế giễu. Chán thật.”

“Drill nhút nhát à?” “Có. Không. Đại khái vậy. Trời ơi, mẹ, con phải chạy đi nếu tụi con muốn chơi ‘Xâm lăng’!”

“Ai xâm lăng ai?”

“Người Sao Hỏa xâm lăng Trái Đất—à, không hẳn là người Sao Hỏa. Họ là—con không biết. Từ trên kia.” Nó chỉ lên bằng chiếc th́a.

“Và từ trong này nữa,” mẹ nó nói, chạm vào trán nóng hổi của Mink.

Mink phản ứng ngay. “Mẹ đang cười! Mẹ sẽ giết Drill và tất cả mọi người đấy.”

“Mẹ không cố ư,” mẹ nó nói. “Drill là người Sao Hỏa à?”

“Không. Nó—ờ—có thể từ Sao Mộc, hoặc Sao Thổ, hay Sao Kim. Dù sao th́ nó cũng đă gặp nhiều khó khăn.”

“Mẹ đoán vậy,” bà Morris nói, che miệng lại.

“Họ không t́m ra cách nào để tấn công Trái Đất.”

“Chúng ta bất khả xâm phạm,” mẹ nó nói, nửa đùa nửa thật.

“Đúng từ đó Drill dùng! Bất khả—Đúng từ đó, mẹ!”

“Chà chà. Drill là một cậu bé rất thông minh. Toàn từ cao siêu.”

“Họ không nghĩ ra cách tấn công, mẹ. Drill nói—nó nói muốn đánh giỏi th́ phải có cách mới để làm người ta bất ngờ. Như thế mới thắng. Và nó c̣n nói là phải có sự giúp đỡ từ chính kẻ thù của ḿnh.”

“Một đội quân nội gián,” mẹ nó nói.

“Đúng vậy. Drill nói thế. Và họ không t́m ra cách nào để làm Trái Đất bất ngờ hay có được sự giúp đỡ.”

“Cũng phải thôi. Chúng ta mạnh lắm mà,” mẹ nó cười, vừa dọn dẹp. Mink ngồi đó, nh́n chằm chằm xuống mặt bàn, như đang h́nh dung những ǵ ḿnh nói.

“Cho đến một ngày,” Mink th́ thầm, đầy kịch tính, “họ nghĩ đến trẻ con!”

“Ồ!” bà Morris nói vui vẻ.

“Và họ nghĩ đến việc người lớn bận rộn đến mức chẳng bao giờ nh́n dưới bụi hoa hồng hay trên băi cỏ!”

“Chỉ khi t́m ốc sên hay nấm thôi.”

“Và c̣n có ǵ đó về… dim-dims nữa.”

“Dim-dims?”

“Chiều… kích.”

“Chiều không gian?”

“Có bốn cái! Và c̣n chuyện ǵ đó về trẻ con dưới chín tuổi với trí tưởng tượng. Nghe Drill nói buồn cười lắm.”

Bà Morris đă thấy mệt. “Ừ, chắc là buồn cười. Nhưng con đang để Drill chờ đấy. Trời cũng đă xế chiều rồi, nếu con muốn chơi ‘Xâm lăng’ trước khi đi tắm tối, th́ tốt hơn hết là chạy đi.”

“Con phải tắm à?” Mink càu nhàu.

“Phải. Sao mà trẻ con ghét nước thế không biết? Dù sống ở thời đại nào th́ trẻ con cũng ghét rửa sau tai!”

“Drill nói con sẽ không phải tắm nữa,” Mink nói.

“Ồ, vậy cơ à?” mẹ nó nói.

“Nó nói với tất cả tụi con như thế. Không phải tắm nữa. Và tụi con có thể thức đến mười giờ, rồi xem hai chương tŕnh truyền h́nh vào thứ Bảy thay v́ một!”

“Chà, cậu Drill này tốt hơn nên biết điều. Mẹ sẽ gọi cho mẹ nó và—”

Mink đi ra cửa. “Tụi con đang gặp rắc rối với mấy đứa như Pete Britz và Dale Jerrick. Chúng nó đang lớn lên. Chúng nó chế giễu. C̣n tệ hơn cả người lớn. Chúng nó chẳng chịu tin vào Drill. Chúng nó kiêu căng lắm, v́ đang lớn lên. Tưởng như phải biết hơn chứ. Mới vài năm trước chúng cũng c̣n bé xíu thôi. Con ghét chúng nhất. Tụi con sẽ giết chúng trước.”

“C̣n bố mẹ con th́ để sau cùng à?”

“Drill nói bố mẹ nguy hiểm. Biết v́ sao không? V́ bố mẹ không tin vào người Sao Hỏa! Họ sẽ để tụi con điều hành thế giới. À, không chỉ tụi con đâu, mà cả lũ trẻ ở dăy phố bên kia nữa. Có khi con sẽ làm nữ hoàng.” Nó mở cửa. “Mẹ?”

“Ǵ vậy con?”

“‘Lô-gic’ là ǵ?”

“Logic à? À, con yêu, logic là biết điều ǵ là đúng và điều ǵ là không đúng.”

“Nó có nhắc tới cái đó,” Mink nói. “C̣n ‘dễ bị… ảnh… hưởng’ là ǵ?” Nó mất một lúc mới nói được.

“À, nó có nghĩa là—” Mẹ nó nh́n xuống sàn, khẽ cười. “Nghĩa là—là một đứa trẻ đấy, con yêu.”

“Cảm ơn mẹ v́ bữa trưa!” Mink chạy vọt ra ngoài, rồi lại tḥ đầu vào. “Mẹ ơi, con sẽ cố để mẹ không bị đau nhiều đâu, thật đấy!”

“Ồ, cảm ơn con,” mẹ nó nói.

Cánh cửa đóng sầm lại.

Bốn giờ chiều, chiếc máy truyền thanh-h́nh ảnh kêu vo vo. Bà Morris gạt cần. “Chào Helen!” bà nói, giọng niềm nở.

“Chào Mary. Ở New York mọi thứ thế nào?”

“Ổn cả, c̣n ở Scranton th́ sao? Trông cậu có vẻ mệt.”

“Cậu cũng thế. Lũ trẻ. Lúc nào cũng quẩn quanh,” Helen nói.

Bà Morris thở dài. “Con Mink nhà tớ cũng vậy. Cái tṛ ‘Xâm lăng’ siêu cấp.”

Helen bật cười. “Bọn trẻ nhà cậu cũng chơi tṛ đó à?”

“Ôi trời, có chứ. Ngày mai chắc lại đến ‘nhảy ô h́nh học’ hay ‘nhảy ḷ c̣ có động cơ’. Hồi nhỏ năm ’48 tụi ḿnh có tệ thế không nhỉ?”

“C̣n tệ hơn. Nhật với Đức quốc xă. Không hiểu sao bố mẹ tớ chịu nổi. Hồi đó tớ nghịch như quỷ.”

"Cha mẹ rồi cũng học cách bịt tai lại thôi.”

Một khoảng im lặng.

“Có chuyện ǵ vậy, Mary?” Helen hỏi.

Mắt bà Morris khép hờ; đầu lưỡi bà chậm răi, trầm ngâm lướt qua môi dưới. “À…” Bà giật ḿnh. “Ồ, không có ǵ. Chỉ là nghĩ về chuyện đó thôi. Bịt tai các thứ ấy mà. Thôi bỏ đi. Ḿnh đang nói tới đâu rồi?”

“Thằng Tim nhà tớ đang mê một đứa tên là—Drill, h́nh như thế.”

“Chắc là mật khẩu mới. Con Mink nhà tớ cũng thích nó.”

“Không ngờ lan tới tận New York. Chắc truyền miệng thôi. Trông cứ như phong trào quyên góp phế liệu vậy. Tớ nói chuyện với Josephine, cô ấy bảo lũ trẻ nhà cô ấy—ở Boston ấy—phát cuồng v́ tṛ mới này. Nó đang lan khắp cả nước.”

Đúng lúc ấy, Mink lóc cóc chạy vào bếp để tu một cốc nước. Bà Morris quay lại. “Mọi chuyện thế nào rồi?”

“Gần xong rồi,” Mink nói.

“Tuyệt,” bà Morris đáp. “Cái ǵ thế kia?”

“Yo-yo,” Mink nói. “Xem này.”

Nó thả yo-yo xuống theo sợi dây. Chạm đến cuối—
Nó biến mất.

“Thấy chưa?” Mink nói. “Úi!” Nó chấm ngón tay vào, làm chiếc yo-yo hiện lại và vút lên theo dây.

“Làm lại lần nữa đi,” mẹ nó nói.

“Không được. Giờ số không là năm giờ! Chào mẹ.”

Mink chạy ra, vừa đi vừa tung yo-yo.

Trên máy truyền thanh-h́nh ảnh, Helen cười. “Sáng nay Tim cũng mang một cái yo-yo như thế về, nhưng khi tớ ṭ ṃ th́ nó bảo không cho xem, rồi khi tớ cố thử dùng th́ cuối cùng nó lại chẳng hoạt động.”

“Cậu không dễ bị ảnh hưởng,” bà Morris nói.

“Cái ǵ cơ?”

“Không có ǵ. Tớ vừa nghĩ ra thôi. Tớ giúp ǵ được cho cậu, Helen?”

“Tớ muốn xin công thức bánh đen-trắng—”
Thời gian lặng lẽ trôi. Ngày dần tàn. Mặt trời hạ thấp trên bầu trời xanh yên b́nh. Bóng đổ dài trên những băi cỏ xanh. Tiếng cười và sự náo nhiệt vẫn tiếp diễn. Một bé gái nhỏ chạy đi, khóc nức nở.

Bà Morris bước ra cửa trước.

“Mink, có phải Peggy Ann vừa khóc không?”

Mink đang cúi gập người ngoài sân, gần bụi hoa hồng. “Vâng. Nó nhát gan lắm. Tụi con không cho nó chơi nữa. Nó lớn quá rồi để chơi tṛ này. Chắc tự nhiên nó lớn lên thôi.”

“V́ thế mà nó khóc à? Vớ vẩn. Trả lời tử tế cho mẹ, cô bé, không th́ vào nhà ngay!”

Mink quay phắt lại, vừa hoảng hốt vừa bực bội. “Con không thể nghỉ bây giờ. Sắp đến giờ rồi. Con sẽ ngoan. Con xin lỗi.”

“Con có đánh Peggy Ann không?”

“Không, thật mà. Mẹ hỏi nó đi. Chỉ là—ừm, nó nhát cáy thôi.”

Ṿng tṛn lũ trẻ khép lại quanh Mink, khi nó cau có nh́n công việc của ḿnh với những chiếc th́a và một kiểu sắp xếp vuông vức bằng búa và ống. “Ở đây và ở đây,” Mink lẩm bẩm.

“Có chuyện ǵ vậy?” bà Morris hỏi.

“Drill bị kẹt. Mới được nửa chừng. Nếu tụi con có thể đưa nó qua hết th́ sẽ dễ hơn. Rồi những đứa khác sẽ theo sau.”

“Mẹ giúp được không?”

“Dạ không, cảm ơn. Con sẽ sửa được.”

“Được rồi. Nửa tiếng nữa mẹ gọi con vào tắm. Mẹ xem con măi cũng mệt rồi.” Bà quay vào trong, ngồi xuống chiếc ghế thư giăn điện, nhấp một ngụm bia từ chiếc ly c̣n dở. Chiếc ghế xoa bóp lưng bà. Trẻ con, trẻ con. Trẻ con với t́nh yêu và sự thù ghét, kề cận nhau. Có lúc chúng yêu bạn, rồi ghét bạn, chỉ trong nửa giây. Những đứa trẻ kỳ lạ—liệu chúng có bao giờ quên hay tha thứ những trận đ̣n và những lời mắng mỏ nghiêm khắc không? Bà tự hỏi. Làm sao người ta có thể quên hay tha thứ cho những kẻ ở trên ḿnh, những kẻ cao lớn và ngớ ngẩn như những tên độc tài?
Thời gian trôi qua. Một sự im lặng kỳ lạ, như đang chờ đợi, phủ xuống con phố, mỗi lúc một sâu hơn.
Năm giờ. Một chiếc đồng hồ đâu đó trong nhà khẽ cất tiếng, dịu dàng như âm nhạc: “Năm giờ… năm giờ. Thời gian đang trôi đi. Năm giờ…” rồi lịm dần vào im lặng.

Giờ số không.

Bà Morris khẽ bật cười trong cổ họng. Giờ số không.

Một chiếc xe h́nh bọ cánh cứng ŕ rầm chạy vào lối xe. Ông Morris. Bà Morris mỉm cười. Ông Morris bước ra khỏi xe, khóa lại rồi gọi chào Mink đang mải làm việc. Mink không để ư. Ông cười, đứng một lúc nh́n lũ trẻ bận rộn với công việc của chúng. Rồi ông bước lên bậc thềm trước nhà.

“Chào em, em yêu.”

“Chào anh, Henry.”

Bà nghiêng người về phía trước mép ghế, lắng nghe. Lũ trẻ im lặng. Im lặng quá mức.

Ông đổ tàn thuốc trong tẩu, rồi nhồi lại. “Ngày đẹp thật. Khiến người ta thấy vui v́ c̣n sống.”

Vo vo.

“Cái ǵ vậy?” Henry hỏi.

“Em không biết.” Bà đứng bật dậy, mắt mở to. Bà định nói ǵ đó, rồi lại thôi. Thật ngớ ngẩn. Thần kinh bà căng lên. “Mấy đứa trẻ ngoài kia không có thứ ǵ nguy hiểm chứ?” bà nói.

“Chỉ có mấy cái ống và búa thôi. Sao vậy?”

“Không có ǵ chạy điện chứ?”

“Trời, không,” Henry nói. “Anh kiểm tra rồi.”

Bà đi vào bếp. Tiếng vo vo vẫn tiếp tục. “Dù sao th́ anh cũng nên ra bảo tụi nó dừng lại. Qua năm giờ rồi. Bảo tụi nó—” Mắt bà mở to rồi lại nheo lại. “Bảo tụi nó hoăn tṛ ‘Xâm lăng’ đến ngày mai.” Bà cười, đầy lo lắng.

Tiếng vo vo lớn dần.

“Chúng đang làm ǵ vậy? Tốt hơn anh ra xem thử.”

Vụ nổ!

Ngôi nhà rung lên với một âm thanh trầm đục. Những vụ nổ khác vang lên từ các sân nhà, từ các con phố khác.

Bất giác, bà Morris hét lên. “Lên đây!” bà kêu, vô thức, chẳng c̣n lư trí hay suy nghĩ. Có lẽ bà đă thoáng thấy ǵ đó nơi khóe mắt, hoặc ngửi thấy một mùi lạ, hay nghe một âm thanh mới. Không c̣n thời gian để tranh căi với Henry hay thuyết phục ông. Cứ để ông nghĩ bà điên. Đúng, điên! Gào lên, bà chạy lên lầu. Ông chạy theo sau để xem chuyện ǵ. “Lên gác mái!” bà hét. “Nó ở đó!” Chỉ là một cái cớ tồi để kéo ông lên gác kịp lúc—trời ơi, kịp lúc!

Một vụ nổ nữa bên ngoài. Lũ trẻ hét lên thích thú, như đang xem pháo hoa lớn.

“Nó không ở trên gác!” Henry kêu. “Nó ở ngoài kia!”

“Không, không!” Thở hổn hển, bà lóng ngóng với cánh cửa gác. “Em sẽ cho anh thấy. Nhanh lên! Em sẽ cho anh thấy!”

Họ nhào vào gác mái. Bà đóng sầm cửa, khóa lại, lấy ch́a rồi ném vào một góc xa đầy đồ đạc lộn xộn.

Giờ đây bà nói năng mê sảng. Tất cả tuôn ra khỏi bà. Mọi nghi ngờ và nỗi sợ âm ỉ trong tiềm thức suốt cả buổi chiều, ủ lại như rượu, giờ bùng lên. Tất cả những linh cảm, hiểu biết mơ hồ đă khiến bà băn khoăn suốt ngày—những điều mà bà đă cố gắng hợp lư hóa, gạt bỏ, kiểm duyệt—giờ nổ tung trong bà và làm bà tan vỡ.

“Đây rồi, đây rồi,” bà nói, nức nở tựa vào cánh cửa. “Chúng ta an toàn cho đến tối. Có thể chúng ta sẽ lẻn ra, có thể chúng ta sẽ trốn thoát!”

Henry cũng nổi giận, nhưng v́ lư do khác. “Em điên à? Sao em lại ném cái ch́a khóa đi! Chết tiệt, em yêu!”

“Đúng, đúng, em điên, nếu như thế giúp được, nhưng hăy ở đây với em!”

“Anh không biết làm sao mà ra khỏi đây!”

“Im đi. Họ sẽ nghe thấy. Ôi trời, họ sẽ t́m ra chúng ta thôi—”

Bên dưới, giọng Mink vang lên. Người chồng khựng lại. Một âm thanh rền rĩ lan khắp nơi—tiếng vo vo, tiếng xèo xèo, tiếng cười ré lên và khúc khích. Dưới nhà, chiếc máy truyền thanh-h́nh ảnh kêu inh ỏi, dồn dập, đầy báo động, dữ dội. Có phải Helen đang gọi không? bà Morris nghĩ. Và có phải cô ấy đang gọi về chính điều mà ḿnh đang nghĩ đến không?

Tiếng bước chân vang vào nhà. Những bước chân nặng nề.

“Ai đang vào nhà tôi vậy?” Henry quát lớn, giận dữ. “Ai đang đi lại dưới kia thế?”

Những bước chân nặng. Hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi… Năm mươi con người chen vào nhà. Tiếng vo vo. Tiếng cười khúc khích của lũ trẻ. “Lối này!” Mink gọi từ dưới.

“Ai ở dưới đó?” Henry gầm lên. “Ai đấy!”

“Suỵt, đừng, đừng, đừng…” vợ ông nói yếu ớt, giữ ông lại. “Làm ơn, im đi. Có khi họ sẽ bỏ đi.”

“Mẹ?” Mink gọi. “Bố?” Một khoảng dừng. “Bố mẹ đâu rồi?”

Những bước chân nặng nề, rất nặng, Cực kỳ nặng nề bắt đầu đi lên cầu thang. Mink dẫn đầu.

“Mẹ?” Một chút ngập ngừng. “Bố?” Một sự chờ đợi, một khoảng lặng.

Tiếng vo vo. Những bước chân tiến về phía gác mái. Mink đi đầu.

Hai vợ chồng ông bà Morris run rẩy đứng sát bên nhau trong im lặng trên gác. V́ một lư do nào đó, tiếng vo vo điện tử ấy, ánh sáng lạnh lẽo kỳ quái bỗng rọi qua khe cửa, mùi lạ và âm điệu háo hức xa lạ trong giọng nói của Mink—tất cả cuối cùng cũng khiến Henry Morris nhận ra. Ông đứng đó, run rẩy, trong bóng tối tĩnh lặng, bên cạnh vợ ḿnh.

“Mẹ! Bố!”

Những bước chân. Một tiếng vo vo khe khẽ. Ổ khóa gác mái tan chảy. Cánh cửa mở ra. Mink tḥ đầu nh́n vào, phía sau nó là những bóng xanh cao lớn.

“Ú ̣a,” Mink nói.


THÂN TRỌNG SƠN
Dịch và giới thiệu
Tháng 3/ 2026

 

Nguồn:
https://americanliterature.com/author/ray-bradbury/short-story/zero-hour
 

 


 

art2all.net