|
Thân Trọng Sơn
GIỮ CẢNH GIÁC
W. W. Jacobs
( 1863 - 1943 )

William Wymark Jacobs là
một tác giả người Anh, nổi tiếng nhất với các truyện ngắn, đặc biệt là
những truyện kinh dị và siêu nhiên. Ông sinh ra ở London, Anh, trong một
gia đ́nh lao động. Cha ông làm công nhân bốc vác và quản lư cầu cảng tại
bến South Devon Wharf. Jacobs dường như đă lấy cảm hứng rất nhiều từ
kinh nghiệm làm việc ở bến cảng của cha ḿnh, và các câu chuyện của ông
thường xoay quanh những cuộc phiêu lưu của những thủy thủ lang bạt, phải
xoay sở để thoát ra (hoặc rơi vào) những t́nh huống éo le. Ông theo học
tại Trường Merchant Taylors, sau đó làm thư kư trong một văn pḥng vận
tải biển.
Jacobs bắt đầu viết trong thời gian rảnh rỗi, và tác phẩm đầu tiên của
ông được xuất bản là một bài phác họa hài hước, đăng trên tạp chí Punch
vào năm 1885. Ông tiếp tục sáng tác và xuất bản truyện ngắn, tiểu phẩm,
và các tác phẩm của ông xuất hiện trên nhiều tờ báo và tạp chí nổi
tiếng. Năm 1902, ông xuất bản tập truyện ngắn đầu tay Many Cargoes,
trong đó có truyện nổi tiếng nhất của ông, “The Monkey’s Paw” (Bàn tay
khỉ).
“The Monkey’s Paw” là một truyện kinh dị về một bùa chú bị nguyền rủa có
khả năng ban cho chủ nhân ba điều ước, nhưng với cái giá vô cùng khủng
khiếp. Câu chuyện đă thành công vang dội và được chuyển thể thành nhiều
vở kịch, phim và các tác phẩm khác. Nó vẫn c̣n được xem là một trong
những tác phẩm kinh dị nổi tiếng và bền vững nhất trong văn học.
Jacobs tiếp tục viết và xuất bản truyện ngắn, tiểu phẩm trong suốt sự
nghiệp của ḿnh, và ông được đánh giá cao nhờ khả năng xây dựng những
câu chuyện vừa hồi hộp, vừa hấp dẫn. Ông qua đời năm 1943, hưởng thọ 80
tuổi.
W.W. Jacobs đă trở thành một trong những nhà văn truyện ngắn yêu thích
nhất của người đọc. Những tác phẩm của Jacobs thường được viết rất trau
chuốt, hấp dẫn, và thường có độ dài vừa đủ — hầu hết chỉ mất khoảng mười
lăm phút để đọc xong.
W.W. Jacobs thường được nhớ đến qua truyện kinh dị nổi tiếng The
Monkey’s Paw, nhưng bên cạnh yếu tố siêu nhiên, phần lớn sự nghiệp văn
học của ông gắn với những truyện ngắn hài hước về đời sống bến cảng và
những thủy thủ vụng về, giàu tính châm biếm. Keeping Watch là một trong
những tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy, nơi Jacobs vừa kể một câu
chuyện giải trí nhẹ nhàng, vừa kín đáo châm biếm bản tính con người.
Trong Keeping Watch, một thủy thủ được giao nhiệm vụ trông coi con tàu
khi mọi người rời đi. Tuy nhiên, thay v́ hoàn thành trách nhiệm, anh ta
bị một cô gái xinh đẹp đánh lừa. Ban đầu, cô tỏ vẻ thân thiện, nhờ anh
cho mượn ch́a khóa để mở ḥm. Nhưng đó chỉ là cái bẫy: khi anh đang tin
tưởng, cô gái liền khóa anh lại trong khoang tàu và bỏ đi cùng người
t́nh của ḿnh. Trong t́nh huống bất lực, người thủy thủ trở thành tṛ
cười, bị sỉ nhục, và cuối cùng phải đối mặt với sự giận dữ của thuyền
trưởng khi trở lại.
Nhân vật chính là h́nh ảnh điển h́nh của một người chất phác nhưng vụng
về, dễ bị lừa gạt. Dù ban đầu anh ta được trao trách nhiệm quan trọng –
“keeping watch” (canh giữ) – nhưng sự yếu đuối trước lời ngon ngọt và
sắc đẹp đă khiến anh ta thất bại. Jacobs qua đó mỉa mai sự cả tin, đồng
thời cho thấy con người thường thất bại không v́ kẻ thù mạnh, mà v́
chính sự nhẹ dạ của bản thân.
Cốt truyện được đẩy cao kịch tính bởi sự phản bội: cô gái ban đầu tỏ ra
thân mật với người thủy thủ, khiến anh tin rằng ḿnh được “ưu ái”, nhưng
hóa ra chỉ là màn kịch để che đậy việc cô bỏ trốn cùng t́nh nhân. T́nh
yêu, trong cái nh́n hài hước châm biếm của Jacobs, đôi khi chỉ là công
cụ để lợi dụng, và người mơ mộng quá dễ trở thành nạn nhân của nó.
Điểm đặc trưng của Jacobs không nằm ở bi kịch nặng nề, mà ở tiếng cười
mỉa mai. Cảnh người thủy thủ bị khóa trong khoang, bị cặp đôi chế giễu
qua cửa sổ, hay bị quét mặt bằng cây lau nhà, tất cả đều vừa buồn cười
vừa đáng thương. Jacobs dường như muốn nói rằng cuộc sống, đặc biệt ở
bến cảng, thường là sự pha trộn giữa bi kịch và tṛ hề – và đôi khi
người ta chỉ có thể cười vào nỗi khổ của ḿnh.
Dưới lớp vỏ hài hước, Keeping Watch vẫn chứa đựng giá trị nhân văn sâu
sắc. Truyện phản ánh đời sống lao động b́nh dân, nơi những người như
thủy thủ – chất phác nhưng vụng về – dễ trở thành nạn nhân của sự láu
cá. Đồng thời, Jacobs gợi mở một bài học: trách nhiệm và sự tỉnh táo
luôn cần thiết, bởi sự mất cảnh giác trong khoảnh khắc có thể dẫn đến
hậu quả khó lường.
Keeping Watch không phải là một truyện kinh dị hay siêu nhiên như The
Monkey’s Paw, nhưng nó là minh chứng rơ rệt cho tài năng của W.W. Jacobs
trong việc biến những t́nh huống đời thường thành câu chuyện đầy kịch
tính, hài hước, và mang ư nghĩa châm biếm. Qua h́nh ảnh người thủy thủ
bị lừa, Jacobs phác họa bản chất con người: vừa yếu đuối, cả tin, vừa
đáng thương, khiến độc giả vừa cười, vừa ngẫm ngợi.
* * *
( Câu chuyện giải trí này đưa ta trở lại “chiến
trường muôn thuở” nơi những bậc cha mẹ cảnh giác cố gắng ngăn cách những
đôi t́nh nhân trẻ tuổi. Dù Jacobs nổi tiếng với truyện kinh dị Bàn tay
khỉ (The Monkey’s Paw), phần lớn tác phẩm của ông lại mang tính hài hước
và giàu chất khôi hài. Keeping Watch là một ví dụ khá tiêu biểu cho lối
viết của Jacobs, v́ nó hội tụ những yếu tố thường xuyên xuất hiện trong
các sáng tác của ông: bối cảnh gắn liền với bến cảng; nhân vật là những
con người của biển cả; và ngôn ngữ được viết theo giọng điệu b́nh dân
của thủy thủ và dân bến tàu. Hăy thưởng thức câu chuyện vui nhộn này,
nơi t́nh yêu tuổi trẻ chiến thắng sự kiểm soát gắt gao của một ông bố
cảnh giác và hai “ông dê già” mà ông ta thuê để “trông chừng” con gái
ḿnh.)

“Bản
tính con người đấy!” – bác gác đêm nói, mắt dán chặt vào một cô gái xinh
xắn đang ngồi trên chiếc thuyền chèo của một người lái nước đi ngang
qua. – “Bản tính con người!”
Ông ta thở dài, bật diêm châm vào tẩu thuốc rồi ngồi
đó nhả khói, trầm ngâm.
“Cái cậu trai kia th́ giả vờ như cái tay nó đặt phía sau lưng cô ấy là
do t́nh cờ thôi,” ông tiếp tục, “c̣n cô ấy th́ giả vờ không biết ǵ. Rồi
khi nào được thoải mái ôm ngang eo bất cứ lúc nào, đảm bảo hắn sẽ chẳng
c̣n thấy hứng thú làm nữa. Cô gái th́ khéo léo đủ để hiểu chuyện đó, nên
mới cứ giữ ư, xa cách cho tới khi mọi chuyện được quyết định. Chốc nữa
cô ta sẽ nhích lên nửa tấc, rồi lát sau lại ngả người tự nhiên vào hắn
thôi. Cô ấy xinh thật, mà không hiểu sao lại thấy ưa một thằng nhăi như
h́nh nộm thợ may kia.”
Ông ngả lưng trên chiếc ḥm gỗ, khoanh tay lại, nhả một làn khói mờ.
“Con người vốn buồn cười thế đấy. Tôi từng thấy khối rồi, mà nếu cho
sống lại đời nữa, chắc tôi cũng vẫn ngu ngốc như đôi trẻ kia trong
thuyền thôi. Hồi trẻ, tôi từng tiêu tiền cho gái thoải mái chẳng kém ǵ
tiêu cho chính ḿnh. Giá mà bây giờ tôi c̣n số tiền đă bỏ ra mua kẹo bạc
hà cho bọn họ th́ hay biết mấy.”
“Cái cô gái trong thuyền kia làm tôi nhớ tới một người tôi từng quen vài
năm trước. Cũng cái vẻ ngây thơ, nh́n như thể bơ để trong miệng cũng
chẳng tan nổi ấy – mà thực ra lại ranh mănh đến nỗi khiến tôi thấy ái
ngại cho cả phái nữ.”
“Cô ấy thường theo chiếc thuyền buồm Belle cập bến chỗ bến tàu này mỗi
tuần một lần. Cha cô, thuyền trưởng Butt, là một gă góa vợ, ông ta mang
con gái theo vừa để bầu bạn, vừa để tiện mắt mà trông chừng. Mà con mắt
ấy, khi ông ta nổi cáu, th́ thật đáng sợ.”
“Tôi thường chú ư đến cô gái – chỉ là một nụ cười thân thiện mỗi khi cô
ngồi trên boong. Thỉnh thoảng – khi cha cô không nh́n – th́ cô lại mỉm
cười đáp lại. Có lần, lúc ông ta xuống khoang, cô ấy c̣n bật cười thành
tiếng. Nhưng cô sợ ông ta lắm, dần dần tôi để ư thấy cô chẳng dám rời
tàu đi dạo dọc cầu cảng nếu chưa hỏi phép. Mỗi khi cô đi đâu, ông ta đều
theo sát. Và từ vài lần tôi vô t́nh nghe thấy mấy câu cằn nhằn chẳng dễ
chịu ǵ của lăo thuyền trưởng – trong lúc ông ta tưởng tôi c̣n ở xa –
tôi bắt đầu hiểu ra có chuyện ǵ đó đang âm ỉ.”
“Rồi th́ mọi chuyện lộ ra một buổi chiều, mà lộ ra chỉ v́ lăo thuyền
trưởng cần tôi giúp đỡ. Tôi đang đứng dựa vào cán chổi, lấy hơi sau một
hồi quét dọn, th́ ông ta bước đến. Và tôi biết ngay, chỉ nh́n cái cách
ông ta ngọt giọng với tôi thôi, là ông ta muốn nhờ vả điều ǵ đó.”
‘“Đi làm một vại thôi, Bill,” – ông ta nói.’
“Tôi dựng cây chổi dựa vào tường, rồi cả hai chúng tôi đi ṿng qua quán
Bull’s Head như hai anh em ruột. Mỗi người làm hai vại bia, rồi ông ta
đặt tay lên vai tôi và nói chuyện như đàn ông với nhau. ‘Tôi đang gặp
chút rắc rối với con gái tôi,’ ổng nói, đưa cho tôi cái hộp thuốc lá.
‘Sáu tháng trước nó làm rơi một lá thư ra khỏi túi, và, quỷ thần ơi, đó
lại là thư của một gă trai. Một gă trai đấy!’
‘Anh làm tôi ngạc nhiên quá,’ tôi đáp, cố ư mỉa mai.
‘Tôi th́ làm nó ngạc nhiên,’ ông gầm gừ. ‘Tôi lục ḥm của nó và thấy cả
một xấp—cả một xấp thư—buộc lại bằng dải ruy-băng hồng. Với cả ảnh thằng
cha đó. Và trong số những thằng ẻo lả, ngực lép, mắt lờ đờ, lưng cong,
chân cẳng lêu nghêu mà anh từng thấy trong đời, th́ nó là đứa tệ nhất.
Nếu tôi mà tóm được nó, tôi sẽ bóp cổ cho đến khi nó nuốt luôn cả bàn
chân ḿnh.’
Ông ta súc miệng bằng một ngụm bia rồi đứng lườm sàn nhà.
‘Sau khi bóp cổ nó xong tôi sẽ vặn cổ nó,’ ổng tiếp. ‘Chỉ tiếc là nó
không để địa chỉ trên thư, chứ không tôi đă ṃ tới đó ngay rồi. C̣n con
gái tôi—đứa con gái duy nhất của tôi—nó nhất quyết không chịu nói cho
tôi biết thằng đó ở đâu.’
‘Nó đáng lẽ phải biết điều hơn,’ tôi nói.
Ông ta nắm chặt tay tôi và lắc. ‘Anh khôn ngoan hơn vẻ ngoài nhiều đấy,
Bill,’ ổng nói, chẳng buồn nghĩ ḿnh vừa lỡ lời. ‘Anh thấy tôi khốn khổ
thế nào rồi đấy.’
‘Ừ,’ tôi gật.
‘Tôi chẳng khác nào một bà vú em,’ ông ta gầm gừ. ‘Chỉ là một bà vú
thôi. Không nhúc nhích nổi tay chân mà không có con bé kè kè bên. Bill,
thử đặt ḿnh vào tôi xem, chịu nổi không?’
‘Chắc khó chịu lắm,’ tôi nói. ‘Khó chịu vô cùng.’
‘Khó chịu à!’ ổng quát; ‘chữ đó c̣n nhẹ đấy Bill. Tôi chẳng khác nào
thầy giáo dạy trường Chúa Nhật, buồn chết đi được. Chưa bao giờ tôi thấy
đời ḿnh tẻ nhạt đến thế. Chưa bao giờ. Và khổ nỗi nó đang làm tôi mất
tính. Mà tất cả cũng chỉ v́ cái thằng ngực lép, mắt xếch—anh hiểu tôi
muốn nói ǵ chứ!’
Ông ta làm thêm một ngụm bia, rồi nắm lấy cánh tay tôi. ‘Bill,’ ổng nói,
rất nghiêm trọng, ‘tôi muốn nhờ anh một việc.’
‘Cứ nói,’ tôi bảo.
‘Tối nay tôi hẹn một thằng bạn ở Charing Cross lúc bảy giờ rưỡi,’ ông
nói; ‘tụi tôi sẽ đi chơi tới sáng. Tôi đă để Winnie cho thằng bếp trông,
và dặn rơ nếu con bé không có mặt khi tôi quay lại, tôi sẽ lột da nó
sống. Giờ tôi muốn anh cũng canh giùm. Khóa cổng lại, đừng cho ai lạ
vào. Nhất là cái thằng mặt khỉ giả làm người kia. Đây này, h́nh nó đây.’
Ông lôi từ túi áo ra một tấm h́nh và đưa cho tôi.
‘Nó đấy,’ ông nói. ‘Thử tưởng tượng một cô gái lại nhận thư t́nh từ thứ
như thế! Mà nó mới tṛn hai mươi sinh nhật vừa rồi. Trông chừng nó kỹ
vào, Bill, đừng rời mắt khỏi nó. Anh c̣n đáng tin hơn gấp đôi thằng
bếp.’
Ông ta uống nốt bia, rồi ôm lấy tay tôi, cùng quay lại bến tàu. Cô Butt
ngồi trên mui tàu đọc sách, c̣n lăo Joe, thằng bếp, đứng gần đó giả vờ
lau sàn bằng cây chổi lau.
‘Bố phải ra ngoài một lúc—có việc,’ thuyền trưởng nói. ‘Chắc không lâu
đâu, trong khi bố vắng nhà, Bill và thằng bếp sẽ trông chừng con.’
Cô Butt nhún vai.
‘Cổng sẽ khóa lại, và con không được rời bến. Nghe chưa?’ Cô gái lại
nhún vai và tiếp tục đọc, nhưng đồng thời liếc thằng bếp bằng đôi mắt
ngây thơ đến nỗi suưt nữa làm nó rơi cả cây chổi.
‘Đấy là lệnh của tôi,’ thuyền trưởng nói, ưỡn ngực nh́n quanh, ‘cho tất
cả mọi người. Joe, mày biết chuyện ǵ sẽ xảy ra với mày nếu tao về mà
không vừa ư. Đi nào, Bill, khóa cổng sau tao. Và nhớ, v́ cái thân mày,
đừng để có chuyện ǵ xảy ra với con bé trong lúc tao đi vắng.’
‘Mấy giờ anh về?’ tôi hỏi, khi ông ta bước qua cổng con.
‘Không trước mười hai giờ, có khi muộn hơn nhiều,’ ông đáp, cười sảng
khoái. ‘Nhưng cái thằng ngực lép kia đâu biết tôi đi, c̣n Winnie th́
nghĩ tôi chỉ ra ngoài nửa tiếng, thế nên ổn cả. Tạm biệt.’
Tôi nh́n theo ông ta đi lên con đường, và thú thật là tôi bắt đầu hối v́
đă nhận cái việc này. Rốt cuộc tôi chỉ được hai vại bia với một chút
nịnh nọt, trong khi tôi biết rơ chuyện ǵ sẽ xảy ra nếu có trục trặc.
Ông ta th́ như con ḅ mộng, lại thích dùng sức mạnh. Tôi cẩn thận khóa
cổng, nhét ch́a vào túi, rồi bắt đầu đi tới đi lui trên bến.
Khoảng mười phút, cô gái vẫn ngồi đọc, không ngẩng lên một lần. Rồi, khi
tôi đi ngang, cô mỉm cười dịu dàng và giơ nắm tay bé nhỏ chọc thằng bếp,
lúc đó đang quay lưng lại. Tất nhiên tôi cũng cười đáp, và chẳng bao lâu
sau, cô gấp sách lại, trèo lên thành tàu, ch́a tay ra nhờ tôi đỡ xuống
bờ.
‘Tôi chán con tàu này lắm rồi,’ cô nói giọng mềm mại; ‘nó giống như nhà
tù. Anh có bao giờ chán cái bến này không?’
‘Thỉnh thoảng,’ tôi đáp; ‘nhưng đó là bổn phận của tôi.’
‘Ừ, phải rồi,’ cô nói. ‘Nhưng anh là người đàn ông khỏe mạnh, anh chịu
đựng được.’
Cô thở dài khẽ, rồi chúng tôi cùng đi dọc bến, im lặng một hồi.
‘Mà tất cả cũng chỉ tại bố tôi ngốc nghếch thôi,’ cuối cùng cô nói; ‘đó
mới là cái khó chịu. Tôi nào có lỗi nếu một đám đàn ông rỗi hơi cứ viết
thư cho tôi, đúng không?’
‘Không, chắc không,’ tôi đáp.
“Cảm ơn anh,” cô ấy nói, đặt bàn tay nhỏ nhắn của ḿnh lên tay tôi. “Tôi
biết rằng anh là người sáng suốt. Tôi thường nh́n anh khi ngồi một ḿnh
trên con thuyền buồm, khao khát có ai đó để tṛ chuyện. Và tôi là người
rất giỏi nh́n người. Tôi có thể đọc anh như đọc một cuốn sách vậy.”
Cô quay sang nh́n tôi. Đôi mắt xanh tuyệt đẹp, với hàng mi dài cong vút,
và hàm răng trắng như ngọc trai.
“Cha tôi thật ngốc nghếch,” cô nói, lắc đầu nh́n xuống; “thật vô lư, bởi
lẽ thực ra, tôi chẳng hề thích đàn ông trẻ. Ôi, xin lỗi, tôi không cố ư
nói thế. Tôi không có ư thô lỗ.”
“Thô lỗ à?” tôi hỏi, nh́n chằm chằm vào cô.
“Tất nhiên đó là lời nói thô lỗ,” cô mỉm cười. “Bởi v́ chính anh cũng
c̣n trẻ.”
Tôi lắc đầu. “Trẻ vừa vừa thôi,” tôi đáp.
“Trẻ chứ!” cô nói, dậm bàn chân nhỏ xuống. Cô lại nh́n tôi lần nữa, và
lần này đôi mắt xanh trở nên sâu thẳm và nghiêm trang. Cô bước đi như kẻ
mơ mộng, và hai lần vấp vào những tấm ván, suưt ngă nếu tôi không ṿng
tay ôm ngang hông đỡ lại.
“Cảm ơn anh,” cô nói. “Tôi thật vụng về. Cánh tay anh mạnh mẽ quá!”
Chúng tôi lại đi dạo qua lại, và mỗi lần đến gần mép cầu cảng, cô lại
bám lấy tay tôi, sợ bị trượt ngă lần nữa. Và c̣n lăo đầu bếp ngớ ngẩn
kia th́ đứng trên boong thuyền, nhón chân vươn cổ ḍm ngó, đến nỗi tôi
lấy làm lạ là cái cổ ông ta không găy quách đi.
“Thật là một buổi tối tuyệt đẹp!” cuối cùng cô nói khẽ. “Tôi mong cha
đừng về sớm. Anh có biết ông sẽ về lúc mấy giờ không?”
“Khoảng mười hai giờ,” tôi đáp. “Nhưng đừng nói với ông là tôi đă nói.”
“Tất nhiên là không rồi,” cô nói, khẽ siết tay tôi. “Tội nghiệp cha! Tôi
hy vọng ông đang vui vẻ như tôi lúc này.”
Sau đó chúng tôi lại đi xuống cuối cầu cảng và ngồi cạnh nhau nh́n sang
bờ bên kia sông. Rồi cô bắt đầu nói về Cuộc đời, và nó thật kỳ lạ thế
nào; và con sông này sẽ vẫn chảy ra biển hàng ngàn, hàng vạn năm sau khi
cả hai chúng tôi đă chết và bị lăng quên. Nếu không có cái đầu nhỏ bé
của cô tựa vào vai tôi, hẳn là tôi đă rùng ḿnh.
“Xuống cabin đi,” cuối cùng cô nói, khẽ rùng ḿnh; “ngồi đây khiến tôi
buồn bă, cứ nghĩ măi về những ‘điều có thể đă xảy ra’.”
Tôi đứng lên trước, đỡ cô bước dậy, và sau khi cả hai nh́n chằm chằm vào
lăo đầu bếp—kẻ rơ ràng là không biết giữ đúng chỗ của ḿnh—chúng tôi
cùng xuống cabin. Đó là một căn pḥng nhỏ ấm cúng, và sau khi cô rót cho
tôi một ly whisky của cha ḿnh, rồi châm tẩu thuốc cho tôi, tôi cảm thấy
ḿnh chẳng muốn đổi chỗ với bất kỳ ông vua nào. Ngay cả khi tẩu thuốc
không chịu cháy, tôi cũng chẳng bận tâm.
“Anh cho tôi viết một lá thư nhé?” cô hỏi cuối cùng.
“Tất nhiên rồi,” tôi đáp.
Cô lấy bút mực và giấy ra, rồi viết. “Tôi sẽ không lâu đâu,” cô nói, vừa
ngẩng đầu lên vừa gặm cây bút. “Đây là thư gửi cho thợ may. Cô ấy hứa
giao váy cho tôi lúc sáu giờ chiều nay, và tôi chỉ viết để bảo rằng nếu
đến mười giờ sáng mai mà tôi chưa nhận được, th́ khỏi cần gửi nữa.”
“Rất đúng,” tôi nói. “Đó là cách duy nhất để công việc chạy trơn tru.”
“Đó là cách của tôi,” cô nói, cho lá thư vào phong b́ và liếm dán lại.
“Cái tên hay nhỉ?”
Cô đưa tôi xem, và tôi đọc tên và địa chỉ: “Cô Minnie Miller, số 17,
đường John, Mile End Road.”
“Chắc chắn sẽ làm cô ấy tỉnh táo hơn,” cô cười nói. “Anh nhờ Joe mang
giúp tôi nhé?”
“Hắn—hắn đang canh gác mà,” tôi vừa cười vừa lắc đầu.
“Tôi biết,” cô nói khẽ. “Nhưng tôi chẳng cần gác—chỉ cần anh thôi. Tôi
không thích những kẻ gác ŕnh ṃ qua cửa sổ trời.”
Tôi vừa ngước lên th́ kịp thấy cái đầu Joe thụt xuống. Thế là tôi vội
chạy lên, và sau khi mắng cho hắn một trận, tôi đưa hắn bức thư và bảo
hắn đi ngay. “Thuyền trưởng bảo tôi ở lại đây,” hắn nói, ĺ lợm.
“Anh cứ làm theo lệnh đi,” tôi đáp. “Tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn. Tôi
sẽ khóa cổng sau khi anh đi. Anh c̣n lo lắng cái ǵ?”
“Và đây là một đồng shilling tiền xe buưt cho anh,” cô gái mỉm cười, nói
thêm. “Anh có thể giữ tiền thừa.”
Joe tháo mũ, găi cái đầu trọc ngớ ngẩn.
“Đi đi,” tôi giục. “Đây chỉ là thư gửi thợ may. Một bức thư cần đi tối
nay.”
“Nếu không th́ vô ích,” cô gái nói thêm. “Anh không biết nó quan trọng
thế nào đâu.”
“Được rồi,” Joe nói. “Cứ để các người theo ư. Miễn là đừng mách thuyền
trưởng. Nếu có chuyện ǵ xảy ra th́ anh cũng bị vạ lây, Bill.”
Hắn leo lên bờ, tôi đi theo mở cổng cho hắn. Hắn đang nháy mắt, nhưng
tôi trừng cho một cái khiến hắn đổi ư, chỉ dụi mắt như thể có bụi bay
vào. Rồi hắn bỏ đi.
Tôi khóa cổng lại rồi quay về cabin. Chúng tôi ngồi tṛ chuyện thêm về
những ông bố và những ư nghĩ kỳ cục mà họ hay ôm trong đầu. H́nh như tôi
uống thêm hai ly whisky nữa và hút một điếu x́ gà của thuyền trưởng, và
tôi đang nghĩ rằng thật là hạnh phúc khi được sống khỏe mạnh, vui tươi,
tṛ chuyện với một cô gái dễ thương hiểu ḿnh đến mức gần như đoán được
lời ḿnh định nói, th́ bỗng tôi nghe thấy ba hồi c̣i.
“Cái ǵ thế?” tôi giật nảy, hỏi. “C̣i cảnh sát à?”
“Tôi không nghĩ vậy,” cô Butt nói, đặt tay lên vai tôi. “Ngồi xuống đi,
đừng nhúc nhích. Tôi không muốn anh gặp nguy hiểm, nếu đúng là thế. Để
một kẻ tôi không ưa gánh lấy.”
Tôi ngồi xuống lại và lắng nghe, nhưng không c̣n tiếng c̣i nào nữa.
“‘Chắc chỉ là một thằng bé ngoài phố thôi,’ cô gái nói, rồi bước vào
buồng nhỏ. ‘Ồ, tôi có cái này muốn cho anh xem. Đợi một chút.’
Tôi nghe tiếng cô ấy loay hoay, rồi lát sau quay lại cabin.
‘Không t́m thấy ch́a khoá rương của tôi,’ cô nói, ‘mà thứ đó lại nằm
trong ấy. Không biết anh có cái ch́a nào mở được không. Nó khoá bằng ổ
khoá rời.’
Tôi tḥ tay vào túi và lấy ra chùm ch́a. ‘Để tôi thử nhé?’ tôi nói.
‘Không cần, cảm ơn,’ cô nói, rồi lấy chùm ch́a khóa từ tay tôi. ‘Cái này
có vẻ vừa. Ch́a ǵ vậy?’
‘Ch́a cổng,’ tôi nói, ‘nhưng tôi không nghĩ nó sẽ khớp đâu.’
Cô đi trở lại buồng nhỏ, tôi nghe tiếng cô lục lọi khoá. Rồi cô trở ra,
thở hơi gấp, đứng lặng nghĩ ngợi.
‘Vừa nhớ ra,’ cô nói, bấm bấm cằm. ‘Đúng rồi!’
Cô bước đến cửa, leo lên cầu thang, và ngay sau đó tôi nghe tiếng trượt
và tiếng khoá xoay. Tôi lao đến chân thang, và khó mà tin nổi mắt ḿnh:
nắp hầm đă bị đóng. Khi phát hiện nó c̣n bị khoá chặt, hẳn anh có thể hạ
gục tôi chỉ bằng một chiếc lông chim. Tôi quay lại cabin, trèo lên ghế
dài, đội đầu vào cửa sổ trần để cố ngó ra ngoài. Tôi không thấy được
cổng, nhưng nghe tiếng bước chân và giọng nói, rồi chẳng bao lâu sau tôi
thấy cô gái đang khoác tay đi dọc bến cùng chàng trai mà trước đó cô
khẳng định không ưa, cả hai mừng rỡ như điên. Họ trèo lên thuyền, cúi
xuống, chống tay lên đầu gối mà nh́n tôi.
‘Ǵ thế kia?’ chàng trai cười toe.
‘Người gác,’ cô gái nói. ‘Anh ta ở đây để trông bến, không cho ai vào.’
‘Lẽ ra ta nên mang ít bánh cho nó,’ chàng trai nói; ‘nh́n ḱa, nó há
miệng ra kia ḱa.’
Cả hai cười đến chảy nước mắt, c̣n tôi th́ không động đậy lấy một lần.
‘Mở cửa hầm ngay,’ tôi quát, ‘không th́ hậu quả sẽ chẳng hay đâu. Nghe
rơ chưa? Mở ngay!’
‘Ôi, Alfred,’ cô gái nói, ‘anh ta bắt đầu nổi nóng rồi. Ta phải làm sao
bây giờ?’
‘Tôi không muốn thêm tṛ hề nào nữa,’ tôi nói, cố ghim mắt vào cô ta.
‘Nếu không thả tôi ra th́ đừng trách.’
‘Đừng có nói với bạn gái tôi bằng cái giọng đó,’ chàng trai gắt.
‘Bạn gái cậu?’ tôi nói. ‘Hừm! Lẽ ra cậu nên thấy cô ta cách đây nửa
tiếng!’
Cô gái nh́n tôi chăm chăm một lúc.
‘Hắn cho cái cánh tay to bè gớm ghiếc của hắn ôm ngang eo tôi, Alfred,’
cô nói.
‘Cái ǵ!’ chàng trai hét the thé. ‘Cái ǵ cơ !’
Hắn chộp lấy cái chổi lau sàn mà lăo đầu bếp luộm thuộm để dựa đó, và
trước khi tôi kịp hiểu hắn định làm ǵ th́ đă dí thẳng cái thứ ghê tởm
ấy vào mặt tôi.
‘Lần sau,’ hắn nói, ‘tao sẽ xé xác mày thành từng mảnh!’
Tôi không thể thốt nên lời một lúc, và khi vừa mở miệng th́ hắn lại dí
chổi vào. Thật chẳng khác nào một con sư tử bị xích đang bị một con khỉ
trêu chọc. Tôi bước xuống sàn cabin, rồi dồn hết những ǵ tôi nghĩ về
hai kẻ ấy mà nói cho họ nghe.
‘Đi thôi, Alfred,’ cô gái nói, ‘nếu không lăo đầu bếp sẽ quay lại trước
khi ta đi mất.’
‘Hắn ổn cả thôi,’ chàng trai nói. ‘Minnie đang lo cho hắn. Lúc tôi đi
hắn c̣n có nửa chai whisky trước mặt.’
‘Dù sao th́ ta cũng nên đi,’ cô Butt nói. ‘Thật tội cho cỗ xe ngồi chờ.’
‘Được rồi,’ hắn đáp. ‘Chỉ thêm một cú chổi vào mặt lăo già này nữa là ta
đi.’
Hắn ngó xuống qua cửa sổ trần và chờ, nhưng tôi đứng im, quay lưng lại.
‘Đi nào,’ cô Butt nói.
‘Đến đây,’ hắn nói. ‘Này! Lăo dưới kia! Khi thuyền trưởng về th́ nói với
ông ta rằng tôi đang đưa cô Butt tới chỗ bà d́ tôi ở quê. Và bảo ông ta
là chỉ một hai tuần nữa ông sẽ được nếm miếng bánh cưới to và ngon nhất
đời. Tạm biệt!’
‘Tạm biệt, ông gác,’ cô gái nói.
Họ rời đi, không nói thêm ǵ - ư tôi là không nói với tôi. Tôi nghe
tiếng cổng con sập lại, rồi tiếng bánh xe ngựa lăn trên đá. Ban đầu tôi
không thể tin nổi. Không thể tin nổi một cô gái với đôi mắt xanh đẹp như
thế lại có thể nhẫn tâm đến vậy, và tôi đứng lặng hồi lâu, mong ngóng
tiếng xe quay lại. Rồi tôi bước lên cầu thang và thử đẩy nắp hầm bằng
vai.
Cuối cùng tôi quay lại cabin, châm đèn, rót thêm chút whisky của thuyền
trưởng để tỉnh táo, và ngồi xuống nghĩ nên bịa chuyện ǵ để nói với ông
ta. Tôi ngồi suốt gần ba tiếng mà chẳng nghĩ ra câu nào, th́ nghe tiếng
thuỷ thủ lên bến.
Họ hơi hoảng khi thấy đầu tôi ló ra từ cửa sổ trần, rồi đồng loạt hỏi
tôi làm ǵ ở đó. Tôi bảo họ thả tôi ra trước rồi sẽ kể, và một người vừa
bước đến cửa hầm th́ thuyền trưởng lên bến, bước vào thuyền. Ông cúi
xuống nh́n tôi qua cửa sổ trần, dường như không tin nổi mắt ḿnh, rồi
sau khi bảo bọn thuỷ thủ ra phía trước và dặn họ cứ ở yên đó dù có
chuyện ǵ, ông mở khoá cửa hầm và bước xuống.”
THÂN TRỌNG SƠN
Dịch và giới thiệu
Tháng 8 / 2025
Nguồn:
https://americanliterature.com/author/w-w-jacobs/short-story/keeping-watch/

Trang Thân Trọng
Sơn
art2all.net |