Thân Trọng Sơn

 

M̀NH LƯNG LONG

池莉 ( Tŕ lị )
Chi Li ( 池莉 )
( 1957 - )

 

Chi Li

 


          Chi Li là một tiểu thuyết gia nổi tiếng và viết nhiều, người thường xuyên xuất hiện trên các mặt báo kể từ khi bước chân vào văn chương vào đầu những năm 1980. Bà bắt đầu bằng việc viết thơ, nhưng chính tiểu thuyết và truyện ngắn của bà đă tạo nên danh tiếng cho bà. Hầu hết đều là sách bán chạy nhất và nhiều cuốn đă được chuyển thể thành phim và truyền h́nh, càng làm tăng thêm sự nổi tiếng của chúng.

Là họa sĩ của hiện thực xă hội, nhưng về cơ bản là thành thị, bà là đại diện cho cái gọi là phong trào “tân hiện thực” (新写实小说, tân tả thực tiểu thuyết ) phát triển vào giữa những năm 1980 – gần như cùng thời điểm với phong trào văn học tiên phong phản ứng trước hai xu hướng chính đánh dấu sự hồi sinh của văn học Trung Quốc sau Cách mạng.

Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, chính v́ bà cố gắng miêu tả những con người nhỏ bé, những cư dân thành phố b́nh thường bị lăng quên trong sách giáo khoa lịch sử, đồng thời gần gũi nhất có thể với những hành động và mối quan tâm hàng ngày của họ, nên bà rất nổi tiếng ở nước ngoài, và đặc biệt là ở Pháp, tựa đề thứ mười đă được thêm vào năm 2018 cho những tựa sách đă được dịch và xuất bản từ năm 1998. Mỗi cuốn tiểu thuyết, mỗi truyện ngắn của bà đều cung cấp thêm bằng chứng về những biến đổi của xă hội Trung Quốc trong ba mươi năm qua, tạo thành một chiếc kính vạn hoa sống động và đầy màu sắc phản ánh hiện thực trước mắt, nằm ngoài diễn ngôn chính thống.

Tuy nhiên, bất chấp những thành công bán chạy nhất của ḿnh, Chi Li vẫn là một nhân vật khó nắm bắt, trốn tránh các lễ kỷ niệm và trốn tránh các nhà báo. Bà mô tả ḿnh là một người cô độc (独行侠, Độc hành hiệp ). Mặc dù bà là chủ tịch của Liên đoàn Văn học và Nghệ thuật Vũ Hán trong mười bảy năm, nhưng trong một thời gian dài, người ta chỉ biết những thông tin nhỏ về cuộc đời và sự nghiệp của bà. Kể từ những năm 2010, đúng là đă có nhiều cuộc phỏng vấn hơn, với nhiều chi tiết hơn về thời thơ ấu và thời niên thiếu của bà nhưng cuối cùng th́ tác phẩm của bà vẫn cho chúng ta biết về bà hơn cả.

Chi Li sinh ngày 30/5/1957; h́nh mẫu của bà là những tác giả vĩ đại nổi lên ở Trung Quốc vào những năm 1950 và 1960, những người sinh vào những năm 1930-1940 mà bà thường trích dẫn: Vương Mạnh, Trương Tiên Lượng và Lưu Tân Vũ, nhưng bà cũng cảm thấy gần gũi với Yan Lianke (阎连科, Diêm Liên Khoa ), kém bà một tuổi và gần như đă trải qua những thăng trầm tương tự, bắt đầu từ cơn đói. Wang Shuo (王朔, Vương Sóc ) là một trong số ít nhà văn mà bà nói là trong số “bạn bè” của bà và là người mà bà thích tṛ chuyện; vào năm 1997, ông thậm chí c̣n nghĩ đến việc chuyển thể một trong những truyện ngắn của ḿnh thành phim – “Ra đi không có viễn cảnh trở về” (《一去永不回, nhất khứ vĩnh bất hồi ) – nhưng kịch bản không làm hài ḷng các nhà kiểm duyệt.

Chi Li cũng sinh ra ở quận Tiên Đào, Hồ Bắc, cách Vũ Hán khoảng sáu mươi cây số, trong hơn hai mươi năm, đă trở thành bối cảnh cho hầu hết các câu chuyện của bà, hay nói đúng hơn là một “nhân vật quan trọng”, như chính bà đă nói. Và nếu các nhân vật của bà về cơ bản là những công dân b́nh thường của Vũ Hán, th́ đó là v́ bà thấy rằng họ đại diện cho phần lớn người Trung Quốc b́nh thường.

Khi Cách mạng Văn hóa nổ ra, bà mới mười tuổi và xuất thân giai cấp của mẹ đă khiến gia đ́nh gặp rất nhiều rắc rối. Ngôi nhà bị Hồng vệ binh lục soát. Bà bắt đầu làm thơ và giấu trong một chiếc hộp gỗ nhỏ; bị các bạn cùng lớp tố cáo, buộc phải cúi đầu xuống để bị ném mực vào người. Bà chết v́ sợ hăi và không ngủ vào ban đêm. Bà sẽ phải mất một thời gian dài để vượt qua nỗi sợ hăi, khi bà viết lời bạt cho tập thơ đầu tiên của ḿnh vào năm 2016.

Năm 1974, khi học xong cấp hai, bà được “đưa về quê”, dạy học hai năm ở một trường nhỏ trong lữ đoàn mà bà được bổ nhiệm; không c̣n sợ hăi nữa: cha mẹ tin tưởng, con cái ngưỡng mộ. Bà dạy họ đánh răng, học cách làm đất. Bà viết trong thời gian rảnh rỗi. Một trong những kỷ niệm ghi dấu ấn trong bà: một cậu học sinh cấp 3 đỗ vào một trường đại học tốt, nghèo và tự ti vô cùng, không thích nghi được với trường đại học mới và cuộc sống thành thị, cậu phát điên và chết.

Sau đó bà học y khoa tại một viện y tế trong ngành luyện kim, nay là Khoa Y của Đại học Khoa học và Công nghệ Vũ Hán. Tốt nghiệp năm 1979, bà làm việc ba năm tại trung tâm y tế pḥng chống dịch bệnh trong ngành luyện kim.

Những bài thơ bà viết khi c̣n là học sinh cấp hai, từ năm mười lăm tuổi, thường xuyên được dán trên bảng thông báo trên tường của trường (学校的墙报上, học hiệu đích tường báo thượng ), và thậm chí trên bảng thông báo của các trường khác. Bà xuất bản bài viết đầu tiên vào năm 1979, trên tạp chí “Thư và nghệ thuật của Wugang” (《武钢文艺 Vơ cương văn nghệ 》.

Sau đó vào năm 1982, ở tuổi 25, bà xuất bản truyện ngắn đầu tiên của ḿnh, “Mặt trăng đẹp” (《月儿好 nguyệt nhân hảo 》), trên tạp chí của Hội Nhà văn thành phố Vũ Hán, Cỏ Thơm (《芳草 Phương thảo). Truyện ngắn đă thành công: nó ngay lập tức được đăng trên nhiều tạp chí văn học quốc gia.

Tuy nhiên, Chi Li chỉ có tŕnh độ học vấn trung học hạn chế.

Sau đó, vào năm 1987, bà xuất bản truyện ngắn “trung b́nh” (中篇小说, trung thiên tiểu thuyết ) “Sad Life” (Fannao rensheng《烦恼人生, phiền năo nhân sinh ), trên tạp chí Văn học Thượng Hải. Đó là một câu chuyện gần như mang phong cách phim tài liệu về cuộc sống hàng ngày của một công nhân b́nh thường, giữa những vấn đề ở nhà máy, việc chăm sóc con trai, vô số hàng dài người phải xếp hàng, đặc biệt là các nhà vệ sinh công cộng (chúng ta đang ở giữa những năm 1980) và việc phải xếp hàng chờ đợi, sự đơn điệu của cuộc sống gia đ́nh mà anh vẫn gắn bó sâu sắc như một chiếc phao cứu sinh. Câu chuyện trái ngược với chủ nghĩa hiện thực xă hội chủ nghĩa: công nhân không c̣n có ǵ anh hùng, họ bị kết án với cuộc sống khốn khổ và tầm thường, không có nhiều hy vọng thoát ra, tất cả đều được kể bằng ng̣i bút tinh tế, bằng cảm xúc kín đáo, đặc biệt trong bức tranh về mối quan hệ giữa cha và con trai.

Tổng biên tập Văn học Thượng Hải, Chu Jieren (周介人, Chu Giới Nhân ) viết trong đoạn trích của bản tin: “Một khái niệm mới đă ra đời – chủ nghĩa tân hiện thực trong văn học. » . Các tạp chí khác cũng làm theo tốc độ, như Nhật báo Quang Minh, và thậm chí cả Nhân dân Nhật báo . Chi Li được coi là nhà văn tiêu biểu của phong trào văn học mới này: chủ nghĩa tân hiện thực.

“Đời Buồn” được coi là phần đầu tiên trong bộ ba truyện – bộ ba cuộc đời, hai phần c̣n lại là “Đừng nói về t́nh yêu” và “Mặt trời mọc” ” .

Phần thứ hai, “Đừng nói về t́nh yêu”, mang tính ma quỷ. Chi Li mô tả hai cặp vợ chồng trẻ có hoàn cảnh xă hội rất khác nhau (như bố mẹ bà) và cuộc hôn nhân của họ tan vỡ sau những giây phút lăng mạn đầu tiên. Nhưng người chồng có triển vọng được chuyển ra nước ngoài, và do đó cả hai hợp lực để cố gắng loại bỏ những ứng viên tiềm năng khác. Đó không phải là về t́nh yêu, mà là về tham vọng, sự hợm hĩnh giai cấp và sự thỏa hiệp. Một bức tranh nghiệt ngă về xă hội 'hiện đại', người Trung Quốc và những xă hội khác.

Phần thứ ba “Mặt trời mọc” kể về đôi vợ chồng đi hưởng tuần trăng mật sau cuộc hôn nhân khá sôi động; tuy nhiên, trong khi chờ máy bay ở sân bay, họ vô cùng ngạc nhiên khi biết rằng cô dâu trẻ đang mang thai, do đó họ nh́n lại những khó khăn đang chờ đợi họ: khả năng phá thai, thủ tục hành chính để được phép sinh con và đứa con duy nhất. giấy chứng nhận, phản ứng của ông bà, v.v... Lời châm biếm đầy mỉa mai: Chi Li vẽ nên bức tranh những năm đầu thời hậu Mao, giữa việc khuyến khích làm giàu và khám phá niềm vui tiêu dùng.

Hai phần của bộ ba này đă được chuyển thể thành phim truyền h́nh dài tập với tựa đề “Đừng nói chuyện t́nh yêu”. Kịch bản phim kết hợp khéo léo hai câu chuyện ngắn để kể câu chuyện về hai gia đ́nh phản ứng hoàn toàn khác nhau trước t́nh yêu của con cái.

Các truyện ngắn và tiểu thuyết khác của Chi Li lần lượt hoàn thiện bức tranh này. Bà cũng miêu tả phần lớn cuộc sống của những người trẻ phải đối mặt, trong bối cảnh một thành phố công nghiệp lớn, hiện đại mà Vũ Hán là h́nh mẫu lư tưởng, với những vấn đề thường ngày: công việc, nhà ở, hôn nhân, giáo dục con cái... Chi Li vẽ nên một bức tranh sống động và tự nhiên, không dùng biệt ngữ thừa, dựa trên những trường hợp cá nhân, và đặc biệt là chân dung phụ nữ, “một bộ truyện hư cấu thấm đẫm ḷng trắc ẩn kín đáo đối với điều kiện sống xuống cấp của những cư dân khiêm tốn” .

Nhưng bà không giới hạn ḿnh trong việc kể chuyện bằng khả năng quan sát tuyệt vời; bà đào sâu tính cách các nhân vật của ḿnh đến mức vượt ra khỏi những trường hợp cá nhân và làm nổi bật bản chất thực sự của con người, đồng thời, tất cả những bức tranh này kết thúc vẽ nên một thời đại, một thời đại cởi mở và chạy đua tăng trưởng kinh tế.

Theo nghĩa này, bạn đọc có thể so sánh những câu chuyện này với chủ nghĩa lịch sử mới, chính xác là đă phát triển từ những năm 1980 mà một số nhà phê b́nh đă gợi lên từ truyện ngắn xuất bản cuối năm 1990: “Bạn là một ḍng sông ».Chi Li kể câu chuyện vừa độc ác vừa mỉa mai về một người phụ nữ trở thành góa phụ ở tuổi ba mươi, có bảy đứa con và sắp có đứa con thứ tám. Câu chuyện lấy bối cảnh vào năm 1964, một thời kỳ khó khăn ở Trung Quốc, cuối nạn đói lớn và các vấn đề kinh tế sau Đại nhảy vọt, và diễn ra trong 25 năm.

Qua lăng kính mối quan hệ giữa mẹ và con, Chi Li vẽ lại lịch sử của một phần tư thế kỷ đầy biến động, nơi liên tiếp chứng kiến Cách mạng Văn hóa và một thời kỳ cởi mở tuyệt vời, cho đến thời kỳ băng hà mới của quyền lực vào năm 1989. Bằng cách phân tích hành vi của mỗi người trong bộ mặt của các sự kiện, Chi Li đă thành công trong việc liên kết câu chuyện nhỏ và câu chuyện lớn, đồng thời nêu ra những câu hỏi mang tính phổ quát, đặc biệt là về t́nh mẫu tử.

Lời văn thường tương đối ngắn, gay gắt và đôi khi mang tính mỉa mai, nhưng có xu hướng chuyển sang dạng dài hơn một chút, trong các tiểu thuyết như “Đi và đến” xuất bản năm 1998 hoặc “Xin chào, cô” xuất bản năm 1999, cả hai đều được chuyển thể thành phim truyền h́nh dài tập. Đây cũng là đặc điểm tạo nên sự nổi tiếng của Chi Li: nhiều truyện của bà đă được chuyển thể lên truyền h́nh và thành công.

Đây cũng là trường hợp của cuốn tiểu thuyết “The Show of Life” (《生活秀 sinh hoạt tú ) của bà, được xuất bản lần đầu vào năm 2002, không chỉ trở thành phim truyền h́nh nhiều tập mà c̣n cả phim chuyển thể.

Chi Li vẫn tiếp tục, bất chấp thành công của ḿnh, có một cuộc sống b́nh yên giữa con gái, chú chó và âm nhạc. Nhờ các phương tiện truyền thông, bà thích sự gần gũi của độc giả hơn, những người cuối cùng sẽ ḥa nhập với các nhân vật của bà. Chính sự tồn tại cho phép bà tiếp xúc với thực tế xung quanh ḿnh, một thực tế con người đă nuôi dưỡng công việc của bà.

Mùa thu năm 2014, Chi Li tham gia Chương tŕnh Viết văn Quốc tế tại Đại học Iowa.

Vào tháng 5 năm 2019, bà lại xuất bản một cuốn tiểu thuyết mới với tựa đề kép tiếng Trung-Anh: “Time Warp” (《大树小虫 Đại thụ tiểu trùng). Nó không c̣n là về bức tranh sắc sảo của cuộc đời của một người phụ nữ hay cuộc sống b́nh thường của những con người nhỏ bé, mà là một câu chuyện có vẻ kinh điển hơn: câu chuyện về hai người trẻ, Zhong Xintao (钟鑫涛, Chung Hâm Đào ) và Yu Siyu (俞思语, Du Tư Ngữ). Cuộc hôn nhân của họ sẽ gắn kết hai gia đ́nh và duy tŕ một số phận đă nhiều thế kỷ rồi, qua ba thế hệ, giống như một con sông dài. Trước đó, vào tháng 7 năm 2016, Chi Li đă xuất bản tập thơ: “69 bài thơ của Chi Li” . Đó là tuyển tập những bài thơ được viết trong hai mươi năm qua, và thậm chí c̣n hơn thế nữa, nơi bà bày tỏ những nỗi đau và cảm xúc thầm kín nhất của ḿnh, và từ đó nảy sinh một loại trí tuệ yên b́nh. Bà hoàn thành tuyển tập với lời bạt đề ngày tháng 4 năm 2016: “Tóm tắt lịch sử sáng tác thơ của tôi”.

Đây là tập thơ đầu tiên của bà được xuất bản. Tuy nhiên, bà nói về tầm quan trọng của thơ :

Thơ đối với tôi giống như không khí và

như nước: thứ ǵ đó thiết yếu.

Nhưng thơ đối với bà c̣n là một câu chuyện dài đau đớn, chính là chủ đề trong lời bạt. Những bài thơ đầu tiên của bà, được viết lúc mười tuổi và được lưu giữ ở một chiếc hộp gỗ nhỏ, khiến bà gặp rắc rối tồi tệ nhất. Tuy nhiên, ở tuổi mười lăm, đă được công nhận về kỹ năng viết và được các giáo viên bảo vệ nhưng bà rất cẩn thận.

Sự kết thúc của Cách mạng Văn hóa đánh dấu sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới trong văn học, giống như một vụ phun trào núi lửa, bà nói trong lời bạt cho tập thơ của ḿnh. Những bài thơ bà viết ở độ tuổi từ 20 đến 23 đều thể hiện những vết thương tiềm ẩn, giống như cả thế hệ của bà. Tuy nhiên, một trong số đó, "Bài ca Lôi Phong" , đă được một đồng chí đọc trước công chúng và đưa vào tiết mục của Đội Tuyên truyền Tư tưởng Mao Trạch Đông. Một biên tập viên của một tạp chí văn học có mặt tại buổi biểu diễn đă đăng bài thơ khiến ông cảm động. Đây là sự khởi đầu của một loạt các ấn phẩm thơ. Bà nói với một chút hài hước: “Chính bài thơ hời hợt và kiêu căng nhất đă khởi đầu sự nghiệp viết lách của tôi.”

Sau những thành công đầu tiên này, bà vào Đại học Vũ Hán, nhưng vẫn tiếp tục làm thơ, thơ t́nh, điều đó mang đến cho bà những thất vọng mới và những tủi nhục mới: những bài thơ bị đánh cắp, phát tán, và bà bị đưa ra ṭa, người bạn có tội bị kết án tù. Sau đó, một đêm nọ, bà đốt những bài thơ của ḿnh và ngừng viết để cống hiến hết ḿnh cho tiểu thuyết. Trên thực tế, bà vẫn tiếp tục viết chúng, nhưng trong bí mật, để đáp ứng nhu cầu thân mật. Nhưng bà đốt những bài thơ của ḿnh lần thứ hai, để đóng dấu việc ly hôn, sau mười sáu năm chung sống.

Tuy nhiên, bạn bè đă khuyến khích bà bắt đầu viết lại. Nhưng chính trong thời gian lưu trú tại Đại học Iowa, như một phần của chương tŕnh viết văn quốc tế của trường, từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2014, bà lại cảm thấy khao khát không thể ḱm nén được làm thơ, dịch màu sắc của mùa thu trên nền xanh của bầu trời, với mây trắng, không khí trong lành... Trở lại Trung Quốc, năm 2015, bà đă tuyển chọn, tŕnh bày với biên tập viên Shanghai Purui Văn hóa (上海浦睿文化, Thượng Hải phổ duệ văn hóa ) , và đây là cách mà bộ sưu tập phát hành năm 2016 ra đời, như một loại quá tŕnh tẩy rửa đánh dấu sự kết thúc của nỗi sợ hăi, nỗi sợ hăi người khác và nỗi sợ bị sỉ nhục mới.

Cuối cùng, ḥa b́nh cũng đến, bà nói ở cuối lời bạt, khi chúng ta nói về ḥa b́nh buổi tối. Nó thực sự là một sự trở lại cơ bản. Khi bà bắt đầu viết truyện ngắn đầu tiên, sau Cách mạng Văn hóa, phong cách của bà đă được trau chuốt dưới ảnh hưởng kép: thơ ca và văn học tiên phong.

Chủ nghĩa hiện thực mới tương ứng với một phản ứng vừa chống lại chủ nghĩa hiện thực xă hội chủ nghĩa đă trở thành lực cản vừa chống lại nền văn học tiên phong phát triển vào nửa sau của những năm 1980. Chính khi điều này suy thoái, chủ nghĩa hiện thực mới đă cất cánh, hơn nữa, như một phong trào, Tương ứng với phong trào. những thay đổi xă hội nhanh chóng của những năm 1980, rồi những năm 1990. Không c̣n anh hùng, không c̣n chiến dịch, giờ đây vấn đề là đại diện cho những người nhỏ bé cư dân thành phố giống như những người đó, chính xác là trong truyện của Chi Li, theo kiểu bắt chước cuộc sống thực.

Chính với truyện ngắn Fannao rensheng (bằng tiếng Pháp Triste vie) năm 1987, Chi Li đă khẳng định ḿnh là một nhà văn lớn về hiện thực đô thị. Đỉnh cao xảy ra vào cuối những năm 1990, với việc xuất bản truyện ngắn (hay tiểu thuyết ngắn) “Comes and Comes” (《来来往往 lai lai văng văng ) và chuyển thể rất nổi tiếng của nó thành phim truyền h́nh nhiều tập. Đó là một bước ngoặt trong sự nghiệp sáng tác của bà khi bà chuyển từ quận Mianshui (绵水 Miên Thuỷ ) đến thành phố Vũ Hán để làm bối cảnh cho những câu chuyện của ḿnh, một quận của Mianshui mà nhà phê b́nh văn học Dai Jinhua, so sánh với “Yoknapatawpha Quận” của William Faulkner.

Chủ nghĩa hiện thực mới và chủ nghĩa tiên phong trên thực tế ban đầu là song song; đó là vấn đề về mối quan hệ với thực tế, được hiểu theo một cách khác, nhưng có tác động trực tiếp đến phong cách. Trong một trường hợp, thực tế là ảo tưởng và phi lư; mặt khác, nó tầm thường, nhưng điều này, để không trở nên thô tục, đ̣i hỏi phải t́m kiếm phong cách. Ở Chi Li, nó tinh tế, ngắn gọn, không có bóng dáng ( ít nhất là rơ ràng ) t́nh cảm.

Phong cách này rơ ràng không được mọi người đánh giá cao. Nếu độc giả của bà, trong công chúng nói chung, yêu thích truyện của bà th́ một số nhà phê b́nh chỉ trích bà quá tầm thường, những lời phê b́nh được Gong Haomin tóm tắt thành ba nhóm bốn nhân vật : không cảm xúc, cuộc sống tầm thường, lời kể tầm thường.

Chính Đới Kim Hoa là người đă viết những phân tích sâu sắc nhất về Chi Li, đặc biệt là trong cuốn sách năm 1995, “Phá vỡ ṿng vây của Kính Thành” . Cô ấy hoàn toàn không coi việc thiếu tính siêu việt đă bị chỉ trích trong truyện của Chi Li là lỗi; ngược lại, cô nh́n thấy trong sự không siêu việt này, trong bức tranh về cuộc sống hàng ngày ở mức độ cơ bản này, một phẩm chất của bản chất “linh thiêng” .
 

Truyện ngắn này của Chi Li (池莉) được viết vào năm 1986, trước khi bà hoàn thành việc học tại Đại học Vũ Hán. Mặc dù nó chỉ được xuất bản trong một tuyển tập vào tháng 10 năm 1999, nhưng ngày viết của nó mới là vấn đề quan trọng: trên thực tế nó phản ánh ảnh hưởng của nền văn học tiên phong phát triển vào nửa sau của những năm 1980 và đă nhường chỗ cho nền văn học tiên phong, phong trào tân hiện thực mà chính Chi Li là người đại diện. Chúng ta có thể thấy rơ trong văn bản này những ảnh hưởng đă đánh dấu phong cách của bà theo một cách phức tạp hơn nhiều so với nhăn hiệu duy nhất của chủ nghĩa tân hiện thực có thể gợi ư.

Đó là một bức chân dung nửa vời của hai nhân vật mà chúng ta chỉ hiểu mơ hồ điều ǵ có thể xảy ra với họ và mối quan hệ của họ mà chúng ta có thể đoán được giữa các ḍng. Nó cũng là một bài tập tuyệt vời về văn phong cho phép chúng ta cảm nhận rơ hơn chất thơ thấm nhuần trong bộ sưu tập 1999 truyện của tác giả một cách lan tỏa như mưa mận, trong truyện ngắn của bà, nhấn ch́m những đường nét của thành phố.
 

 

Một cơn mưa mận ( 1 ) mịn rơi liên tục, nhẹ nhàng, ảm đạm, lặng lẽ. Hoàng hôn buông xuống, trời tối, đất mờ; ở gần hay ở xa, mọi thứ đều trở nên mơ hồ.

Thành phố lớn không rơ ràng, trong thành phố ngơ hẻm cũng không rơ ràng.

Một chiếc ô tô nhỏ đang lao đi như một con lươn.

Một ánh sáng nhợt nhạt rơi xuống từ những ngọn đèn đường, cách xa nhau đến nỗi bóng của vài người qua đường đơn độc kéo dài đến tận cùng và không ngừng chuyển động. Tin theo lời người xưa, lo sợ trước ư tưởng đè bẹp một trong những cái bóng này, người lái xe đă cố gắng tránh chúng bằng cách lái xe đi theo dáng nhấp nhô của một con rắn.

-Tiên, anh đang làm ǵ thế? Ông già ở phía sau hỏi.

- Ư ông là sao, tôi đang làm ǵ thế à, Ông Quách? người tài xế trả lời với giọng khó chịu, chúng ta đến đó sớm à?

- Anh đến sớm sẽ có chỗ đỗ xe.

- À, người tài xế nói như trút được gánh nặng lớn.

- Tốt, ông già nói, và sau này tôi không cần xe nữa.

Người tài xế có vẻ sửng sốt:

- Sao ông có thể nói thế, ông Quách! Điều này là không thể. Tôi không phải là một trong những kẻ hèn hạ đốt cháy những cây cầu phía sau họ khi họ băng qua bờ bên kia, đă nhiều năm trôi qua rồi...

- Dừng lại ở đây đi, ông già nói.

Không đợi tài xế mở cửa, ông già bước xuống xe, đột ngột đóng sầm cửa lại rồi bỏ đi.

Ông đi vào một con hẻm nhỏ và không chút do dự đi xuyên qua mê cung này, như thể đă biết rơ nơi này.

Ông dừng lại trước một ṭa nhà cổ có mặt tiền sặc sỡ trông giống như một ngôi chùa Phật giáo cổ, đưa ngón tay lướt qua lớp rêu mọc ở kẽ gạch, rồi gơ lên những chiếc ṿng đồng tô điểm cho hai cánh cửa rắn chắc bằng gỗ thông linh sam Trung Quốc.

Cánh cửa kẽo kẹt mở ra sau một lúc lâu. Bên trong chỉ được chiếu sáng bằng một luồng sáng yếu ớt như ánh trăng. Ông già mở cửa nhận ra vị khách trong ánh sáng mờ ảo nên bước sang một bên để ông ta vào trước khi đóng cánh cửa nặng nề, kẽo kẹt lại sau lưng. Hai chiếc ấm đun nước đặt trên bếp than cạnh hai cánh cửa bắt đầu kêu cùng một lúc, tỏa ra một đám hơi nước. Một vài người lớn tuổi, không thể phân biệt ngay được họ là nam hay nữ, dừng lại và nh́n chằm chằm với ánh mắt lo lắng vào vị khách đang đi lên cầu thang.

Cầu thang dường như c̣n hẹp hơn và tối hơn trước. Đoạn đường dốc trơn trượt như một con rắn đông cứng. Ông già buộc phải đẩy cái bụng no nê của ḿnh để tiến lên từng bước một. Những bậc thang rung chuyển dưới sức nặng của ông, kêu cót két và rên rỉ. Tiếng bước chân của ông vang vọng khắp ṭa nhà như tiếng chuông trong thung lũng hoang vắng. Từ phía dưới truyền đến giọng nói chói tai của một bà lăo phản đối: “Ai lại lên cầu thang như vậy hả? Hăy nhẹ nhàng hơn một chút, không lại làm sập ṭa nhà đi đấy, cầu thang xui xẻo này sẽ không chống được đâu. Bộ có ai làm cái quái ǵ sao?"

Ông già tiếp tục leo lên, từng bước một, như không có chuyện ǵ xảy ra.

Đột nhiên, cầu thang sáng lên. Ngẩng đầu lên, ông già nh́n thấy nàng. Nàng đứng trên đầu cầu thang, tay cầm ngọn đèn điện chiếu sáng những bậc thang dưới chân ông.

Ông đă lên tới nơi. Quay đầu về phía ông già, nàng hỏi với giọng điệu nhẹ nhàng và ôn ḥa: "Anh đă tới rồi à ?" 

“Ừ", ông già nói.

Ông cảm thấy nhẹ nhơm vô cùng, giống như con chim về tổ vào ban đêm, như thể ngày nào ông cũng trở về đó.

Họ lần lượt bước vào căn hộ và nàng không đóng chặt cửa lại.

Chiếc bếp mùa đông vẫn c̣n đó, trên đó có một ấm trà bằng đất nung nóng. Ngọn lửa xanh nhảy múa rực rỡ bên dưới, trong căn pḥng nhỏ ấm áp hơn đầu hè. Một mùi hương trầm rất nhẹ của gỗ đàn hương thoang thoảng trong không khí. Một ngọn đèn nhỏ treo phía trên bếp ḷ, chiếu sáng xung quanh nó bằng một vầng hào quang khuếch tán trong khi phần c̣n lại của căn pḥng ch́m trong bóng tối.

Trong bóng tối, nàng cởi chiếc áo choàng len cũ quư giá mà nàng chỉ mặc khi đi ra ngoài, để lộ chiếc áo khoác mỏng độn bông đen, tay áo hẹp. À! ṿng eo của nàng vẫn thon thả đến mức có thể ôm gọn trong tay; nhưng nàng đă không c̣n trẻ nữa.

Ông già nh́n nàng.

Nàng cởi mũ ông ra, phủi những giọt mưa nhỏ vẫn c̣n bám trên len và nói: “Ồ, cơn mưa mận này!” 

Sau đó, nàng lấy một chiếc khăn khô nhẹ nhàng lau quần áo cho ông, từ cổ áo đến ống quần.

Rồi nàng mang tới hai chiếc ghế bành cũ, hơi sờn, màu sắc hơi phai, đặt ở hai bên bếp ḷ và nói: "Anh ngồi xuống đi, em sẽ đi pha trà."

Ông già ngồi xuống. Trong không khí ấm áp, thơm tho, ông cảm thấy toàn thân thư giăn, ngay cả các khớp xương cũng thả lỏng kêu răng rắc.

Nàng quay lại mang theo một cái khay và tháo tấm vải phủ nó ra. Trên mâm, nàng đặt một b́nh trà bằng đất nung Yixing (Nghi Hưng), một cái ấm và hai chiếc cốc đất nung. Sau khi trụng b́nh trà với nước sôi, nàng dùng th́a ngà lấy vài lá trà trong ấm đất rồi thả vào b́nh trà, đổ nước sôi vào b́nh rồi đậy nắp lại thật chặt. Một lúc sau, nàng lại lấy phích nước sôi ra, từ từ rót một ít vào b́nh trà. Cùng với màu nâu tím của đất nung, đôi bàn tay thon mịn màng trắng trẻo của nàng trông như những bông hoa cực hiếm đang dần dần hé nở. Nàng pha trà không vội vàng, mắt chăm chú theo từng chuyển động của ḿnh, thể xác và tâm hồn ḥa hợp hoàn hảo.

Mùi trà thơm bay khắp pḥng.

Nàng rót cho ông già một tách trà, rồi đưa cho ông một đĩa nhỏ món khai vị ưa thích của ông, một món đặc sản lâu đời của những con hẻm nhỏ trong thành phố lớn này: món cua rán. Ông già đă có thói quen ăn chúng trước bữa ăn chính trong nhiều năm.

Nàng rót cho ḿnh nửa tách trà rồi đến ngồi xuống, đối diện với ông, ở phía bên kia bếp ḷ.

Làm sao nàng biết ông chưa ăn ǵ?

Nàng có biết tại sao tối nay ông lại rời khỏi bàn làm việc của ḿnh không?

Nàng có biết ông đă nghỉ hưu không?

Nàng có biết ông đă quyết định dọn ra khỏi ngôi nhà nhỏ màu đỏ không?

Nàng có biết ṭa nhà nhỏ này không phải là vật gia truyền của gia đ́nh không?

Nàng có biết rằng v́ điều này mà các con ông đă tập hợp lại và tấn công ông không?

Nàng có biết vợ ông sẵn sàng chiến đấu đến chết với ông để giữ ngôi nhà đỏ nhỏ không?

Nàng có biết rằng ông có thể nh́n thấy sự oán giận trong mắt hai người hầu cận của ông không?

Nàng có biết rằng người tài xế đă phục vụ ông trong nhiều năm đă thay đổi và thích bày tỏ quan điểm của ḿnh mà không hề dè dặt như thường lệ?

Và c̣n nhiều điều khác nữa, nàng có biết không? Cái đó…

" Em nghĩ anh sẽ bị cồn cào khi chờ đợi bữa cơm tối, món này sẽ làm dịu cơn đói của anh một chút,” nàng nói và mỉm cười nhẹ nhàng nh́n ông già. Nàng nhấp một ngụm trà. Nàng đă biết hết mọi chuyện.

Ông già cảm thấy như bị phơi bày, với tất cả sự tức giận và khó chịu. Việc kể mọi thứ với những chi tiết nhỏ nhặt nhất c̣n có nghĩa lư ǵ?

Nàng ngồi khép đầu gối, hai bàn chân ép vào nhau - vai hẹp, eo thon, những ngón tay thanh tú, vẻ dịu dàng và thanh thản ở một khoảng cách hoàn toàn giản dị. Ngồi như thế này, nàng có lớp gỉ và mùi thơm của thời gian, và bầu không khí dịu dàng và thanh thản của nàng, được nhấn mạnh bởi khoảng cách khiêm tốn này, đă được truyền đến ông già một cách thật tinh tế.

Ông cảm thấy sự tức giận và khó chịu của ḿnh đă dịu đi.

Bị ngăn cách bởi bếp ḷ, họ nh́n nhau trong im lặng, bằng trái tim đang gơ nhịp, họ đọc trên mặt nhau lư do h́nh thành từng nếp nhăn mới và lịch sử của từng nếp nhăn lâu đời nhất.

Khuôn mặt của ông già đầy những vết nhăn sâu.

Khuôn mặt của nàng đầy những nếp nhăn nhỏ ngang dọc .

Một cuốn sách bí ẩn có dấu ấn mà họ là những người duy nhất biết cách giải mă.

Đột nhiên ông già nhận ra rằng bây giờ nàng đă có mái tóc bạc trắng. Ṭ ṃ, ông tự hỏi những sợi tóc đen cuối cùng của nàng đă biến mất tự khi nào.

Nàng im lặng lắc đầu, mái tóc nàng tỏa ra những làn ánh sáng bạc.

Có ǵ để ṭ ṃ? Làm sao mà những sợi tóc đầu tiên lại chuyển sang màu trắng, và những sợi tóc cuối cùng đổi trắng ra sao ư? Điều đó có ǵ đặc biệt? Nếu sau vài chục năm mà tóc không bạc đi th́ mới thật là lạ; bạn chỉ có thể nói rằng một người đàn ông chỉ thực sự già khi tóc ông ta bạc trắng. Nàng có mái tóc trắng như tuyết và da mặt nàng có màu tuyết trắng, đầy nhân hậu và cao thượng. Trên má trái của nàng có một lúm đồng tiền như thể được khoét sâu trên bề mặt tuyết này bởi một giọt nước mắt ấm áp nào đó, ngay tại nơi từng mang đến tất cả sự quyến rũ của một người phụ nữ. Thực sự, tại sao phải lo lắng về mái tóc trắng chứ?

Ông già hiểu điều này.

Ở nước thứ hai, trà đă có hương vị. Họ vẫn ngồi đối diện nhau, trong im lặng.

Ôi, ṿng eo của nàng vẫn thon thả, thon thả đến mức có thể ṿng tay ôm gọn lấy nàng dù nàng đă lớn tuổi!

Đúng là bây giờ nàng đă già. Thời gian trôi như mũi tên, ai mà không già đi? Vậy th́ sao? Nếu cuộc sống không thay đổi th́ nó sẽ có ư nghĩa ǵ?

Ôi, anh xin lỗi, anh xin lỗi... thực sự rất tiếc khi thấy em như thế này, một cái bóng cô đơn, dưới ánh đèn, không có ǵ của riêng ḿnh.

Nhưng tại sao lại phải xin lỗi? Có lư do ǵ để cảm thấy tiếc cho em? Có người nào để chúng ta có thể cảm thấy tiếc giùm không? Con người sinh ra trần trụi và ra đi trần trụi. Nhưng tối nay, bếp ḷ tỏa hơi nóng dịu hơn bao giờ hết, trà có hương vị hiếm có, sung sướng biết bao khi vẫn có thể cùng nhau uống một chén trà.

Nàng nhấp một ngụm trà.

Ông cũng uống một ngụm.

Khuôn mặt ông mất đi sự u ám và bừng sáng. Ông cảm thấy như được hồi sinh, b́nh yên.

Họ ngồi đó, thỉnh thoảng những tia vui mừng lóe lên trên khuôn mặt dửng dưng của họ.

Ngọn lửa xanh đă ngừng nhảy nhót. Than trong bếp đang cháy và cháy âm ỉ. Hơi nước nóng bốc lên từ ấm nước đă biến thành khói trắng bốc lên thành từng đám.

Bên ngoài, h́nh như có con mèo hay ai đó. Những bước chân rất nhẹ, đến rồi đi, dừng lại một lúc lâu ở cửa rồi lại bước đi.

Đến nước thứ ba, trà bớt đậm đà hơn. Ông già đứng dậy và đi quanh pḥng. Tất cả đồ đạc đều nằm một chỗ không đổi; sự khác biệt duy nhất là màu sắc của chúng đậm hơn một chút. Mặc dù được đánh bóng hoàn hảo nhưng chúng đă mang màu sắc của cái chết. Cây nhang đàn hương đă cháy hết, tro đă rơi xuống đất. Một mùi mốc bốc lên từ bốn góc pḥng, mùi mốc tích tụ từ năm này qua năm khác mà không một tia nắng nào có thể xua tan được.

Điều này khiến ông già nhớ đến điều ǵ đó.

- Em lại bị đột quỵ nữa à? Ông hỏi, chỉ vào trái tim ḿnh.

- Ừ, hai lần, nàng trả lời rơ ràng mà không quay đầu lại nh́n cử chỉ của ông, hai lần vào mùa đông, và cả hai lần em đều phải nhập viện.

-Anh cũng vậy, ông già nói, anh bị hai cơn đau tim, cũng vào mùa đông, và anh cũng phải nhập viện. Chúng ta giống nhau.

Ông bắt đầu cười như một đứa trẻ, và nàng cũng cười.

- Thôi, ông nói, anh phải đi.

Nàng từ từ đứng dậy và nhặt chiếc mũ lên. Ông hạ người, cúi đầu xuống, và nàng đứng kiễng chân, dùng những ngón tay cong lại như cành tre, chỉnh lại chiếc mũ cho ngay ngắn trên đầu ông.

À, ṿng eo của nàng vẫn thon thả đến mức ông gần như có thể ôm trọn nàng vào ḷng. 

Thế rồi, ông già đột nhiên đưa tay ôm lấy chiếc lưng ong trước mặt ḿnh và nói:

- Bây giờ anh không c̣n chức vụ chính thức nào nữa, anh thấy b́nh yên. Anh phải ...

- Anh phải đi thôi, nàng nói.

Bàn tay của ông già bỏ thỏng xuống. Ông cảm thấy xấu hổ v́ nếu nàng không nhanh chóng ngăn ông lại, ông có thể sẽ hứa với nàng thêm một lời hứa trống rỗng khác.

Trong bóng tối, nàng mặc vào chiếc áo choàng len cũ rất quư giá vào thời đó và buộc một chiếc khăn quanh đầu. Và như thế, được quấn như một đứa trẻ sơ sinh, nàng ngước vầng trán rất trong trẻo đầy nếp nhăn của ḿnh về phía ông già và nói với ông: “Khi nào có th́ giờ th́ trở lại nhé."

Ông già quay người, liếc nh́n bếp ḷ, nh́n hai chiếc ghế bành cũ kỹ, hai chiếc cốc đă vơi một nửa, rồi nh́n đôi mắt dịu dàng, b́nh yên vẫn giữ khoảng cách như cũ.

“Được rồi,” ông nói.

Nàng dẫn ông đến cổng trước và đứng co ro ở chỗ cửa mở.

Ông già dừng lại và vẫy tay ra hiệu cho nàng vào trong. Nàng đứng yên một lúc trước khi quyết định, và cánh cửa sơn mài đen nặng nề đóng lại. Vào giây phút cuối cùng khi hai cánh cửa chạm nhau, ông già tưởng như đă nh́n thấy một giọt nước mắt trào ra qua khe hở mỏng manh.

Ông vội tiến lại gần để sờ vào chỗ trên cánh cửa mà ông đă nh́n thấy giọt nước mắt: nó ẩm ướt; ông đưa ngón tay lên miệng và dùng đầu lưỡi nếm thử: vừa mặn vừa ngọt. Ông lại sờ vào lần nữa: thực ra toàn bộ cánh cửa đều ướt. Cơn mưa mận tiếp tục rơi.

Con hẻm bị bao phủ trong một lớp sương mù lan tỏa, con phố cũng bị bao phủ trong lớp sương mù tương tự, đại lộ cũng vậy. Những ṭa nhà cao tầng h́nh dáng mờ mịt, những bóng đen lén lút len lỏi đây đó, ánh đèn trong những ngôi nhà đă mất đi độ sáng, giống như ánh sáng của những ngôi sao xa xôi. Đất và trời trở thành một, một thế giới không rơ ràng và vô h́nh, vô tận. Người giỏi nhất làm sao có thể khiến mây tan, sương tan, gió xua mưa để có được bầu trời như ư muốn? Không, chúng ta phải để tự nhiên diễn ra, một diễn biến công bằng và hợp lư. Không nên cố gắng ép buộc mọi thứ. Hăy lùi lại một bước, đại dương bao la và bầu trời vô tận.

Với giọng điệu b́nh tĩnh khác thường, ông già nói với người tài xế:

“Tôi đă để anh phải đợi lâu rồi."

 

THÂN TRỌNG SƠN

dịch và giới thiệu

Theo bản tiếng Pháp của Brigitte Duzan

Tháng 12 / 2024

 

(1) Mưa mận theo truyền thống dùng để chỉ những cơn mưa rơi xuống phía nam sông Dương Tử vào tháng 4 và tháng 5 âm lịch, tức là vào cuối mùa xuân và đầu mùa hè. Người ta nói rằng khi mận chín, chúng tiết ra độ ẩm và biến thành mưa. Đó là khoảng thời gian có sương mù và mưa liên tục. Thuật ngữ này xuất phát từ một bài thơ của Đỗ Phủ.

Cơn mưa này mang một khía cạnh biểu tượng ở đây.
 


Nguồn:
http://www.chinese-shortstories.com/Nouvelles_de_a_z_Chi_Li_Xiyao.htm


 


 

 

Trang Thân Trng Sơn

art2all.net