Thân Trng Sơn

 

MỘT BÔNG HỒNG CHO EMILY

WILLIAM FAULKNER
( 1897 - 1962 )

 

          William Faulkner chào đời tại tiểu bang Mississippi vào năm 1897; khi ông được vài tuổi, gia đ́nh dọn tới thị trấn Oxford, nơi có trường đại học của tiểu bang Mississippi. Từ h́nh mẫu của Oxford ấy, sau này, Faulkner tạo dựng nên thị trấn Jefferson trong các tác phẩm của ḿnh.

Là tác giả của 126 truyện ngắn, 19 tiểu thuyết ( trong đó có những truyện, những cuốn được xem là hay nhất của ông ), William Faulkner xứng đáng là một trong những gương mặt sáng chói của văn học hiện đại. Ấy vậy mà, tuổi trẻ của ông chẳng có ǵ vinh quang: không tốt nghiệp nổi trung học, chỉ học đến lớp Mười. Trong tuổi 20, ông là sinh viên sĩ quan của Không lực Canada nhưng chưa thành tài th́ cuối năm 1918 đă có lệnh giải ngũ. Faulkner trở về Oxford, ghi tên vào đại học nhưng chỉ học được một năm v́ không học nổi. Toàn bộ nền học vấn của một nhà văn lừng lẫy khắp thế giới chỉ có vậy.

Sau đó là thời gian kiếm sống, ông làm đủ mọi công việc: thợ mộc, thợ sơn, rửa bát nhà hàng, bán sách, trưởng pḥng bưu điện. Ông bắt đầu làm thơ, mà thơ ông cũng nhàm chán như công việc đưa thư, chẳng làm hài ḷng ai. Rồi ông xoay sang trồng trọt, đánh cá, săn bắn cho đến năm 27 tuổi, muốn đi châu Âu nên ông đến New Orleans, ở đó ông gặp nhà văn Sherwood Andersen. Nhờ vậy sau khi đi Ư, Pháp và Đức về, ông xuất bản được cuốn Soldiers’ Pay, năm 1926, nhưng tác phẩm này không thành công lắm.

Ba năm sau, ông liên tiếp cho ra đời hai cuốn sách ( Sartoris và The Sound and The Fury ) mở đầu cho thế giới hư cấu của ḿnh. Cuốn thứ hai là kiệt tác đưa ông vào hàng ngũ những người bất tử của văn chương nhân loại.

C̣n truyện ngắn A Rose for Emily ( được giới thiệu dưới đây ) xuất hiện lần đầu tiên vào ngày 30/4/1929 trên một tạp chí có tầm mức quốc gia ( The Forum ), và nhanh chóng nổi tiếng. Truyện này thường được xem là một trong những truyện hay nhất của ông. Truyện lấy bối cảnh là thị trấn Jefferson, tiểu bang Mississippi, cũng như các truyện khác của William Faulkner, các địa danh này chỉ là hư cấu.

Vinh quang đến sớm với William Faulkner: ông đoạt giải Nobel Văn học năm 1949, và hai giải Pulitzer vào các năm 1955 và 1963.

Năm 1951, Tổng thống Pháp Vincent Auriol quyết định trao tặng Huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh. ( Légion d’ honneur ).

“A Rose for Emily” (1930) của William Faulkner là một trong những truyện ngắn tiêu biểu nhất của văn học Mỹ thế kỷ XX, được viết theo phong cách Southern Gothic. Tác phẩm không chỉ là câu chuyện về một người phụ nữ kỳ lạ ở thị trấn nhỏ Jefferson, mà c̣n là một bức tranh ẩn dụ về sự xung đột giữa cái cũ và cái mới, giữa những tàn dư của xă hội miền Nam trước Nội chiến và những đổi thay khắc nghiệt của thời hiện đại.

H́nh tượng Miss Emily Grierson vừa mang tính cá nhân – một con người bị trói buộc bởi gia đ́nh, quá khứ và tâm lư – vừa mang tính biểu tượng – đại diện cho lớp quư tộc miền Nam đang mục rữa. Qua lối kể chuyện đan xen thời gian và giọng kể tập thể, Faulkner tạo nên một câu chuyện vừa u ám vừa giàu chất thơ, đầy ám ảnh.

Thời gian và sự sụp đổ của một quá khứ

Faulkner đă cố t́nh phá vỡ tính tuyến tính của thời gian, đưa người đọc đi qua nhiều mốc quá khứ – hiện tại đan xen – như thể thị trấn Jefferson và người kể chuyện cũng không thể buông bỏ câu chuyện về Emily. Thời gian ở đây không chỉ là ḍng chảy khách quan, mà là một sức mạnh giam hăm:

Emily sống trong một căn nhà cũ kỹ, “một xác chết của thời đại khác” giữa phố xá đang đổi thay.

Cô giữ nguyên mọi thứ, từ cách ăn mặc, cách ứng xử, cho tới việc phủ nhận cái chết của cha ḿnh trong ba ngày. Đỉnh điểm của sự phủ nhận thời gian là khi Emily giết Homer Barron và giữ xác ông suốt nhiều năm – một hành động cố định vĩnh viễn t́nh yêu trong trạng thái bất biến. Như vậy, thời gian trong truyện là kẻ hủy diệt, nhưng Emily chọn cách chống lại nó bằng sự đóng băng – kết quả là sự mục rữa cả thể xác lẫn tinh thần.

Emily không chỉ là một cá nhân, mà c̣n là một tàn tích của chế độ quư tộc miền Nam:

Cô được nuôi dạy trong niềm kiêu hănh và sự khép kín, được bảo vệ (hay giam hăm) bởi một người cha độc đoán.

Thị trấn nh́n Emily với thái độ vừa tôn kính vừa hiếu kỳ, giống như cách xă hội nh́n vào một di tích – “quư tộc” nhưng lỗi thời.

Khi Emily yêu Homer Barron – một người thợ miền Bắc – đó là sự thách thức cả định kiến xă hội lẫn nền tảng giáo dục của cô. Nhưng t́nh yêu này lại kết thúc bằng bi kịch, v́ Emily không thể dung ḥa giữa khát vọng cá nhân và sức nặng của truyền thống.

Cô độc và sự tha hóa tâm lư

Sự cô độc của Emily mang nhiều tầng nghĩa:

Cô độc xă hội: Emily tách biệt khỏi cộng đồng, không giao tiếp, không ḥa nhập, bị cả thị trấn biến thành đối tượng để quan sát hơn là một con người để kết nối.

Cô độc t́nh cảm: Sau cái chết của cha, Emily mất đi điểm tựa duy nhất, và t́nh yêu với Homer là cơ hội cuối cùng. Khi t́nh yêu đó đe dọa tan vỡ, cô chọn cái chết để giữ người yêu ở lại.

Cô độc tâm lư: Sống quá lâu trong thế giới khép kín, Emily mất khả năng thích ứng, dẫn đến những hành vi bệnh lư như phủ nhận cái chết hay giữ xác người chết.

Hành động cuối cùng của Emily – ngủ bên xác Homer – không đơn thuần là rùng rợn mà c̣n là một lời cầu cứu tuyệt vọng, thể hiện sự bất lực trước mất mát và thời gian.

Nhan đề của truyện là một trong những yếu tố giàu ẩn ư nhất:

Bông hồng không hề xuất hiện trực tiếp trong cốt truyện, nhưng nó là biểu tượng của t́nh yêu, sự thương cảm, và cả sự tưởng niệm.

Có thể hiểu rằng Faulkner “trao” cho Emily một bông hồng như một cử chỉ trân trọng dành cho một kiếp người bi kịch, bất chấp những hành vi của cô.

Bông hồng cũng là biểu tượng của sự mâu thuẫn: đẹp nhưng dễ tàn, có hương thơm nhưng cũng có gai – giống như cuộc đời Emily, vừa mang vẻ cao quư vừa ẩn chứa bóng tối. 

“A Rose for Emily” không chỉ là một câu chuyện rùng rợn mà c̣n là một bản elegy (điếu văn) cho một thời đại đă qua. Miss Emily là h́nh ảnh của quá khứ không chịu chết, bị thời gian và sự thay đổi của xă hội nghiền nát. Câu chuyện cũng đặt ra vấn đề phổ quát: con người sẽ ra sao khi bị giam hăm bởi kư ức, truyền thống và sự cô độc?

Faulkner không chỉ viết về một nhân vật lập dị, ông viết về nỗi sợ của mọi con người trước sự đổi thay – nỗi sợ khiến ta cố giữ lại những ǵ đă mất, dù bằng những cách méo mó và bi thương nhất.

 

I.

Khi cô Emily Grierson chết, cả tỉnh chúng tôi đi dự đám tang cô. Đàn ông đi v́ ḷng quư mến một tượng đài đă sụp đổ, c̣n đàn bà hầu hết chỉ v́ hiếu kỳ muốn nh́n thấy bên trong nhà cô, nơi ít nhất mười năm rồi không ai đặt chân đến, trừ ông lăo bộc, vừa là đầu bếp vừa là người làm vườn. Đó là một toà nhà gỗ, to lớn, vuông vắn, trước đă từng được sơn trắng, có một đường mái cong với những ngọn tháp nhọn hoắt, với những bao lơn cuốn ṿng theo đúng lối kiến trúc thanh kỳ của những năm 70, toạ lạc tại một khu phố sang trọng nhất trước kia. Nhưng rồi, những tiệm sửa xe, những nhà máy cán bông lấn dần và xoá mờ ngay cả những danh hiệu cổ kính của khu phố. Chỉ c̣n nhà của cô Emily vẫn ngạo nghễ vươn lên với dáng suy tàn mà đỏng đảnh giữa đám xe chở bông và những trạm sơn băng, đúng là một cảnh chướng mắt giữa những cảnh chướng mắt khác. Và giờ đây, cô Emily lại nối gót theo đại diện của hai danh hiệu cổ kính vào nằm trong nghĩa trang, dưới bóng tùng vi vu, giữa những dăy mồ vô danh của các binh lính Hợp chúng Miền Bắc và Liên quân miền Nam đă gục ngă trên chiến trường Jefferson. 

Lúc sinh thời, cô Emily là một truyền thống, một nghĩa vụ, một lo âu, một thứ đảm phụ thế truyền đè nặng lên cả tỉnh, kể từ năm 1894 khi đại tá tỉnh trưởng Sartoris, người đă ban hành điều luật cấm phụ nữ da đen ra đường nếu không quấn tạp dề, đă miễn hẳn các khoản thuế cho cô, điều này có hiệu lực vĩnh viễn từ lúc cha cô qua đời. Không phải là cô Emily chịu mang tiếng là nhận cứu trợ. Đại tá Sartoris đă bịa ra một câu chuyện loanh quanh là thân phụ cô Emily trước đây đă cho tỉnh vay tiền, và như thế, theo tính ṣng phẳng hợp lư, tỉnh mới t́m cách trả lại. Chỉ có người thuộc cùng thế hệ, và với tầm kiến thức như đại tá Sartoris mới có thể bịa ra câu chuyện như thế, mà cũng chỉ có phụ nữ mới tin nó.

Khi thế hệ sau, với tư tưởng mới mẻ hơn, lên làm tỉnh trưởng, làm hội viên hàng tỉnh, th́ việc thu xếp như vậy đă gây ra ít nhiều điều bất b́nh. Vào ngày đầu năm, họ gởi cho cô giấy báo thuế. Đến tháng hai rồi không thấy hồi âm. Họ bèn gởi tới cô một công văn yêu cầu cô, lúc nào thuận tiện, hăy tới văn pḥng ông quận trưởng.

Tuần sau, đích thân ông quận trưởng viết cho cô, đề nghị sẽ đến nhà cô hoặc đưa xe đến đón cô. Ông nhận được thư trả lời viết trên một khổ giấy nhỏ cổ lỗ, nét chữ nhỏ xíu, nét mực mờ mờ, đáp rằng cô chẳng bao giờ ra khỏi nhà. Giấy báo thuế được gởi trả lại, không một lời giải thích.

Họ triệu tập một phiên họp hội đồng hàng tỉnh bất thường. Một toán đại diện được cử đến nhà cô, họ gơ cửa, cánh cửa, kể từ lúc cô thôi dạy vẽ h́nh trên đồ sứ, đă tám hay mười năm nay, chưa ai bước qua. Người lăo bộc da đen ra mở cửa, họ vào một hành lang hơi tối, có một cầu thang hun hút đưa lên một chỗ tối tăm hơn. Thoảng có mùi bụi và mùi mốc, một thứ mùi bưng bít ẩm ướt. Đến lúc họ ngồi xuống th́ đám bụi mỏng uể oải bốc lên quanh đùi họ. Trên một cái giá vẽ mạ véc ni đă xạm màu đặt trước ḷ sưởi có bức chân dung thân phụ cô Emily vẽ bằng bút ch́ than.

Họ đứng dậy khi cô Emily bước vào, người cô thấp và mập, cô bận đồ đen, đeo một dây chuyền mảnh bằng vàng, xệ tới bụng, buông lẫn vào trong thắt lưng. Cô chống một cây gậy gỗ mun có tay cầm bịt vàng đă xạm màu. Cốt cách của cô mảnh mai, v́ vậy vẻ mập mạp của cô chỉ là béo bệu mà thôi. Trông cô trương phù lên như một xác chết lâu ngày ngâm trong vũng nước tù. Cặp mắt cô nh́n lẫn dưới những nếp nhăn bệu của khuôn mặt trông tựa hai mẩu than nhấn ch́m trên miếng bánh bột phồng, cặp mắt đưa đẩy lần lượt nh́n vào từng người khách, trong khi họ bày tỏ lư do đến nhà cô. 

Cô chẳng buồn mời họ ngồi . Cô cứ đứng sững nơi ngưỡng cửa và im lặng nghe khi một ông trong bọn họ dứt lời. Lúc đó họ nghe tiếng tích tắc của đồng hồ khuất kín nơi đầu dây chuyền vàng của cô. 

Cô cất giọng khô khan lạnh lùng: “ Tôi chẳng có thuế má ǵ phải đóng ở Jefferson cả. Đại tá Sartoris đă giải thích với tôi như vậy. Có thể một người trong các ông tới văn khố toà thị chính mà tự t́m hiểu."

"Nhưng chúng tôi đă làm việc đó rồi. Chúng tôi là nhân viên toà thị chính thưa cô. Cô không nhận được giấy báo thuế do ông quận trưởng kư sao?" 

"Tôi có nhận được giấy," cô Emily nói. "Có lẽ ông ta tự phong là quận trưởng, tôi chẳng có thuế má ǵ phải đóng ở Jefferson cả." 

"Nhưng trong sổ sách không chỗ nào ghi như vậy cả, cô hiểu cho, chúng tôi phải…" 

"Các ông nên đi mà gặp đại tá Sartoris." 

"Nhưng cô Emily…" 

"Hăy đi gặp đại tá Sartoris." (Đại tá Sartoris đă qua đời gần 10 năm nay rồi.) Tôi chẳng có thuế má ǵ phải đóng ở đây cả… Chú Tobe !" Người da đen xuất hiện. "Dẫn đường cho các ông ấy ra."


2.

Như vậy, cô đă chế ngự được họ hoàn toàn, đúng như cô đă thấy bậc cha chú của họ ba mươi năm về trước đối với cái mùi hôi thối từ nhà cô. 

Vụ này xảy ra hai năm sau khi thân phụ cô qua đời, ít lâu sau khi người t́nh của cô bỏ đi nơi khác, người mà chúng tôi ai cũng nghĩ là sẽ cưới cô. Sau khi cha mất, ít khi cô ra ngoài, và khi người t́nh bỏ cô mà đi, khó ai nh́n thấy mặt cô. Có một vài bà bạo gan liều đến thăm nhưng cô không tiếp ai, dấu hiệu sinh hoạt duy nhất nơi cô ở là ông lăo da đen - thuở đó cô c̣n trẻ - xách cái giỏ đi chợ cứ đi đi về về.

“Bất kỳ một người đàn ông nào trông nom bếp núc đều như thế cả“. Mấy người phụ nữ bàn tán với nhau như vậy, nên chẳng ai ngạc nhiên khi có mùi hôi thối bốc ra. Thế là có một mối liên kết mới giữa đám người đông đảo, thô kệch với ḍng họ Grierson cao cả và hiển hách.

Một bà láng giềng của cô t́m đến phàn nàn với ông tỉnh trưởng lúc này là vị thẩm phán 80 tuổi Stevens.

"Bà bảo tôi làm thế nào bây giờ ?" Ông tỉnh trưởng hỏi.
"Khó ǵ, ông chỉ việc ra lệnh bắt phải chặn đứng cái đó lại. Không c̣n biện pháp nữa sao?"

"Tôi chắc là không cần như thế" Ông thẩm phán nói: "Hẳn đây chỉ là con rắn hay con chuột mà anh chàng da đen đập chết trong sân nhà mà thôi. Để tôi bảo hắn." 

Hôm sau lại hai người khác đến kêu ca nữa. Một người đàn ông tới rụt rè đưa ra lời khẩn cầu. "Đă đến lúc bắt buộc phải làm một cái ǵ, ông thẩm phán ạ. Bất đắc dĩ lắm tôi mới tính đến việc quấy rầy cô Emily nhưng quả thật đă đến lúc chúng ta phải làm ǵ đó."

Tối hôm đó, hội đồng thành phố họp, ba người đứng tuổi và một thanh niên, đại diện của thế hệ đang lên.

"Giản dị lắm," chàng thanh niên nói, "bảo cô phải tẩy uế nhà cửa. Hăy cho cô ít thời gian và nếu cô không th́ …" 

"Trời đất, thưa ông bạn," lời ông thẩm phán Stevens, "liệu ông có thể sẵn sàng nói thẳng vào mặt một phụ nữ rằng người bà hôi hám sao."

Thế rồi đêm hôm sau, vào lúc quá nửa đêm, bốn người đàn ông băng qua sân cỏ nhà cô, lẻn vào nhà cô như những tên trộm, họ đánh hơi được cái hầm nhà xây gạch, theo cửa thông hơi gió trên hầm, đồng thời một người thọc tay vào bao tải đeo trên lưng rồi đều đặn vung tay hệt như người gieo mạ. Họ đẩy cửa hầm, đi vào trong, rắc vôi bột, rắc cả những nhà phụ bên ngoài. Khi họ băng qua băi cỏ lần nữa, một ô cửa sổ vốn tối tăm bỗng sáng lên, và cô Emily ngồi ở đó, ánh sáng chiếu từ phía sau, và thân h́nh thẳng đứng của cô bất động như một bức tượng. Họ im lặng băng qua sân cỏ, lẻn vào bóng những cây dạ hợp trồng dọc theo hè phố. Một hai tuần sau, mùi hôi không c̣n.

Chừng đó mọi người mới thấy thương hại cô. Dân trong tỉnh lại nhớ đến bà cụ Wyatt, bà cô của cô, sau cùng đă thực sự phát điên và nhận ra là ḍng họ Grierson đă tự đề cao quá lố. Không một chàng trai tráng nào khả dĩ xứng hợp với cô Emily. Chúng tôi thường h́nh dung ra nhân vật trong ḍng họ cô như những h́nh trên một bức ảnh, phía sau là cô Emily mặc đồ trắng, dáng mảnh mai, phía trước là cha cô, xây lưng lại phía cô, hai chân dang ra, tay lăm lăm chiếc roi ngựa, cả hai nổi bật trong khung cửa mặt tiền. V́ vậy khi cô ba mươi tuổi xuân mà vẫn chưa chồng, chúng tôi thực ra có sung sướng ǵ, nhưng cũng cảm thấy được hả giận. Ngay khi có chứng điên trong gia đ́nh, cô cũng chẳng bỏ lơ tất cả những cơ hội may mắn nếu quả thật những cơ hội đó có đến thật.

Khi thân phụ cô qua đời, người ta đồn rằng tất cả của cải để lại chỉ c̣n căn nhà đó. Đứng về một phương diện nào đó, thiên hạ có vẻ hài ḷng. Bây giờ mọi người có thể rủ ḷng thương hại cuộc đời cô được rồi. Bị bỏ lại trong cô độc và nghèo nàn, lúc ấy cô mới thấm thía nhân t́nh, lúc ấy cô mới hiểu thế nào là niềm vui hoặc nỗi buồn của một đồng xu kiếm được hoặc mất đi.

Sau khi thân phụ cô mất, các bà sẵn sàng qua nhà cô để phân ưu và giúp đỡ theo thông lệ. Cô Emily tiếp họ ở cửa, cô ăn bận như ngày thường, tuyệt không có một nét buồn rầu nào thoáng hiện. Cô bảo các bà là thân phụ cô không chết. Cô nói như vậy ba ngày liên tiếp với các mục sư đến viếng, với các y sĩ đến thuyết phục cô để lo liệu cho xác chết. Măi đến lúc họ định dựa vào pháp luật để cưỡng bách th́ cô mới nhượng bộ và họ vội vàng chôn cất cha cô.

Chúng tôi không cho là cô điên. Chúng tôi nghĩ là cô phải hành xử như thế thôi. Chúng tôi nhớ đến những trai trẻ mà thân phụ đă xua đuổi đi, và chúng tôi hiểu giờ đây cô thấy chẳng c̣n ǵ nên phải bám víu lấy cái đă tước đoạt mọi thứ nơi cô như mọi người vẫn thường làm thế.
 


3.

Cô đau khá lâu. Khi chúng tôi gặp lại cô th́ tóc cô cắt ngắn khiến cô trông như con gái, phảng phất giống như h́nh những thiên thần vẽ trên cửa kính màu ở nhà thờ, vừa bi thảm, vừa trong trắng.

Thành phố vừa kư những hợp đồng lát đá các lề đường, và mùa hè liền sau năm thân phụ cô qua đời th́ người ta khởi công. Hăng thầu tới đem theo bọn da đen ( negros, nguyên tác ghi n…s ), với những con la và máy móc. Có gă đốc công tên là Homer Barron, dân Bắc Mỹ, vạm vỡ da ngăm, tính cương quyết, tiếng nói oang oang, cặp mắt sáng hơn màu da mặt. Lũ trẻ con đi theo nghe gă nhiếc mắng bọn da đen và nghe bọn này cất tiếng hát theo nhịp cuốc. Chẳng bao lâu gă quen mặt mọi người trong thành phố. Cứ mỗi khi nghe tiếng cười ở đâu đó là y như có gă Homer Barron ở đó rồi. Thời gian này, chúng tôi thường thấy gă và cô Emily mỗi buổi chiều chủ nhật, ngồi trên chiếc xe ngựa thuê không mui hai chỗ, bánh màu vàng đóng cặp ngựa hồng.

Ban đầu chúng tôi lấy làm phấn khích khi thấy cô Emily đă có niềm vui, bởi các bà đều bàn tán: "Tất nhiên con gái ḍng họ Grierson không thể cặp bồ với một anh chàng miền Bắc, một kẻ làm công." Nhưng cũng có những người lớn tuổi hơn bàn tán rằng ngay cả trong nỗi sầu của cô gái quyền quư cũng không được quên câu phú quư sinh lễ nghĩa. Họ chỉ nói: "Tội nghiệp cho cô Emily. Thân quyến cô sẽ phải đến với cô." Cô có một số bà con ở Alabama, nhưng nhiều năm trước, thân phụ cô đă gây xích mích với họ về việc thừa kế tài sản của bà Wyatt, một bà cụ điên, v́ vậy mà hai gia đ́nh cắt đứt liên lạc. Thậm chí có đám tang cũng không ai đến phúng điếu. Rồi chẳng bao lâu, mọi người lại nói: "Tội nghiệp cô Emily." Rồi họ th́ thào hỏi nhau: "Các ông bà có nghĩ thật vậy không ?" Kẻ tán vào th́ nói: "Dĩ nhiên là thế. C̣n ǵ bằng." Những lời bàn tán đă thoát ra bàn tay che miệng, phía sau những màn lụa và sa tanh, bao trong những tấm màn che nắng, được cuộn lên vào những chiều chủ nhật khi vừa có tiếng xe ngựa lanh lẹ lướt qua. "Tội nghiệp cho Emily.."

Cô vẫn ngẩng cao đầu - ngay cả khi chúng tôi cho rằng cô đă sụp đổ. Chừng như hơn bao giờ hết cô đ̣i hỏi mọi người phải công nhận cái phẩm chất bất khả xâm phạm của cô. Giống như khi cô đi mua thuốc giết chuột, chất thạch tín. Việc đó xảy ra hơn một năm sau lời nói thương hại: "Tội nghiệp cô Emily" của thiên hạ, vào thời gian hai người chị họ đến chơi nhà cô.

"Tôi muốn mua độc dược," cô nói với người bán thuốc. Lúc này cô ngoài ba mươi, vốn là người phụ nữ mảnh khảnh, hơi ốm hơn thường ngày, mắt đen lạnh lùng trong khuôn mặt với g̣ má nhô cao. Cô nói lại. "Tôi muốn mua độc dược."

"Vâng được, cô muốn mua loại nào ? Để giết chuột bọ, tôi đề nghị ..." 

"Loại tốt nhất tiệm ông có. Tôi không quan tâm loại nào." 

Người bán thuốc kể tên vài loại rồi nói. "Chúng có thể giết chết mọi thứ kể cả con voi, nhưng loại cô muốn dùng là ..." 

"Tôi muốn thạch tín."

Người bán thuốc nh́n xuống cô. Cô chằm chằm nh́n lại ông ta, đôi mắt căng thẳng như lá cờ căng gió.

Người bán thuốc nói: "Vâng, được thôi, nhưng nếu đó là thứ cô muốn th́ theo luật, xin cô vui ḷng cho biết cô sẽ dùng nó vào việc ǵ?"

Cô Emily chỉ nh́n thẳng vào mặt ông ta, đầu cô ngả ra phía sau, mắt dán vào ông ta đến nỗi ông phải quay đi và vội lấy thạch tín gói lại. Chú bé giao hàng da đen mang gói thuốc đến cho cô, người bán thuốc không ra nữa. Khi về đến nhà, cô mở gói th́ thấy trên cái hộp h́nh sọ người và hai xương ống bắt chéo, hàng chữ: Dùng cho chuột.
 


4.

Rồi ngày hôm sau, tất cả chúng tôi đều bảo: "Cô ta sẽ tự sát," và chúng tôi tin rằng như thế có lẽ là tốt nhất. Lần đầu tiên khi thấy cô đi với Homer Barron, chúng tôi đă nói: "Cô sẽ lấy gă." Rồi lại c̣n bàn: "Tất nhiên cô sẽ phải thuyết phục gă" v́ chính Homer tự nhận rằng ḿnh thích đàn ông, ai cũng biết gă từng đi uống với những hội viên trẻ hơn của câu lạc bộ Elks, rằng gă không phải hạng người sinh ra để lấy vợ. Sau nữa, chúng tôi lại nói: "Tội nghiệp cho cô Emily" phía sau mành cửa khi họ đi qua vào chiều chủ nhật trên chiếc xe mui trần bóng loáng. Cô Emily ngẩng cao đầu, c̣n Homer Barron mũ lệch bên trái, răng cắn chặt điếu x́ gà, dây cương và roi ngựa trong cái bao tay vàng.

Rồi, có vài bà nghĩ rằng đó là điều sỉ nhục cho cả tỉnh, làm gương xấu cho giới trẻ. Bọn đàn ông th́ không muốn dính dáng đến, nhưng sau này các bà ép mục sư giáo phái Bap tist - gia đ́nh cô Emily theo giáo phái Épiscopal - đến tiếp xúc với cô. Mục sư không tiết lộ những ǵ xảy ra trong cuộc tiếp tục đó, nhưng từ chối không đến thăm lần nữa. Ngày chủ nhật sau đó, họ lại đánh xe đi với nhau ngoài phố, và hôm sau th́ bà vợ ông mục sư viết thư cho thân quyến cô ở Alabama.

Thế là trong nhà cô lại có thân quyến đến ở và chúng tôi ngồi chờ xem diễn biến. Mới đầu chẳng thấy ǵ hết. Rồi sau đó chúng tôi tin chắc là họ sẽ lấy nhau. Kế đó chúng tôi được tin là cô đă tới tiệm kim hoàn đặt một bộ trang sức cho nam giới bằng bạc có khắc hai chữ đầu HB ở mỗi món đồ. Hai ngày sau, chúng tôi được tin cô sắm một bộ quần áo đàn ông, kể cả áo ngủ, và chúng tôi nói: Họ lấy nhau thật rồi. Chúng tôi măn nguyện lắm. Là v́ hai cô chị họ lại c̣n điệu bộ Grierson hơn cả cô Emily nữa.

Thế nên chúng tôi không ngạc nhiên khi thấy Homer Barron - lề đường lúc này đă lát xong - bỏ đi. Chúng tôi hơi thất vọng là chẳng có cuộc vui chung nào, nhưng chúng tôi c̣n tin rằng gă ra đi để sửa soạn đón cô Emily. Vào thời gian ấy quả là chúng tôi đă hùa nhau đứng về phe cô Emily, giúp cô mưu kế để đẩy cho được hai cô chị họ kia. Có điều khá chắc chắn là trong ṿng một tuần lễ, cả hai người đều ra đi. Và đúng như chúng tôi trông chờ, chưa đầy ba ngày Homer Barron trở lại thành phố, một người láng giềng của cô Emily đă nh́n thấy anh hầu da đen để gă vào lối cửa bếp vào một hôm lúc trời chạng vạng.

Và đó là lần chót chúng tôi thấy Homer Barron. Rồi cả cô Emily cũng không thấy mặt một thời gian. Vẫn chỉ thấy anh da đen đi đi về về với cái giỏ đi chợ, c̣n cửa chính th́ đóng im ỉm. Thỉnh thoảng, chúng tôi nh́n thấy cô ở cửa sổ một lúc, như tối hôm nào mấy người tới rắc vôi bột xung quanh nhà cô, nhưng đến sáu tháng trời không thấy cô xuất hiện ngoài thành phố. Lúc đó chúng tôi mới ngă ngửa người ra là cũng phải dự liệu cả điều này nữa, chừng như tính nết của thân phụ cô đă quá nhiều lần mâu thuẫn với nếp sống phụ nữ của cô, nó độc địa, dữ dằn quá đến không thể tiêu tan.

Khi chúng tôi thấy lại Emily, cô đă mập ra, tóc cô trở xám. Vào năm sau, mỗi năm nó lại xám hơn cho đến khi nó trở thành tóc muối tiêu, màu xám sắt th́ giữ không đổi nữa khi cô qua đời, tựa như tóc một người đàn ông năng động vậy.

Từ thời gian đó, cửa nhà cô vẫn đóng chặt, trừ một khoảng thời gian khoảng sáu, bảy năm, lúc cô trạc 40, cô dạy vẽ h́nh trên đồ sứ. Cô thu dọn một pḥng ở tầng một làm xưởng vẽ, nơi đây những con gái, cháu gái của những người đồng thời với đại tá Sartoris được gởi tới học đều đặn, cần mẫn, như đi nhà thờ vào ngày chủ nhật, mang theo đồng hai mươi xu để góp trong dĩa. Trong lúc này, thuế má của cô được xả hết.

Rồi khi thế hệ trẻ trở thành trụ cột và linh hồn của thành phố, và những học tṛ lớp vẽ của cô lớn lên, tản mác đi các nơi, họ cũng chẳng gởi con cái đến học cô, mang theo những hộp màu, những cọ sơn buồn nản và những h́nh vẽ cắt trong các tạp chí phụ nữ. Cửa trên nhà cô đóng chặt sau lưng đứa học tṛ sau cùng, rồi cứ thế cứ đóng măi. Khi thành phố được phát thư miễn phí, cô Emily không cho họ treo bảng số nhà, cũng không cho họ gắn hộp thư vào cửa, cô nhất thiết không chịu nghe một lời phân giải nào.

Ngày, tháng, năm trôi qua, chúng tôi thấy anh người làm da đen tóc thêm xạm màu, lưng thêm c̣ng, vẫn đi đi về về với cái giỏ đi chợ. Cứ mỗi tháng chạp tới, chúng tôi lại gởi giấy báo thuế tới, rồi một tuần sau lại thấy bưu điện phát hoàn: không người nhận. Thỉnh thoảng chúng tôi trông thấy cô xuất hiện sau một trong những khung cửa sổ ở tầng dưới - rơ ràng là cô đă đóng kín tầng nhà trên - như một pho tượng, chúng tôi không thể biết cô có nh́n hay không nh́n chúng tôi. Cứ như thế, cô sống trải từ thế hệ này sang thế hệ khác, cao quư, không lẩn trốn, bất khả xâm phạm, trầm tĩnh, ngang bướng.

Rồi cô chết. Cô lâm bệnh trong nhà đầy bụi bặm, chỉ có người lăo bộc da đen lụm cụm hầu hạ. Chúng tôi cũng không biết là cô đau, đă từ lâu chúng tôi cũng từ bỏ việc ḍ hỏi người lăo bộc về cô.

Lăo chẳng nói với ai lời nào, chắc cả với cô cũng vậy, tiếng lăo khàn khàn, bởi từ lâu không dùng. Cô chết ở trong một trong những căn pḥng dưới nhà, trên cái giường bằng gỗ hồ đào nặng trịch, có tấm màn che, mái đầu tóc xám đặt lên chiếc gối màu vàng mốc meo v́ lâu ngày thiếu ánh mặt trời.


5.

Lăo da đen ra cửa tiếp đón người đi đầu trong đám các bà rồi dẫn tất cả vào nhà, giọng nói các bà tắt nghẹn, th́ thầm, với những cái nh́n vội vàng, lén lút, rồi lặng dần đi. Lăo đi thẳng xuyên qua căn nhà, ra lối cửa hậu rồi không thấy đâu nữa.

Hai người chị họ cũng vừa đến. Họ cho làm đám tang ngay hôm sau, và tất cả tỉnh đến viếng. Cô Emily nằm trong đám hoa mới mua, chân dung thân phụ cô vẽ bằng bút ch́ than như trầm tư trên cỗ áo quan, các bà th́ thầm ma quái, trên sân cỏ, trong bị luỵ, những cụ già - một vài cụ mặc binh phục Liên quân miền Nam, chải chuốt tán gẫu về cô, coi cô như người cùng thế hệ với ḿnh, tin rằng ḿnh đă có lần khiêu vũ với cô, và có lẽ đă tán tỉnh cô nữa, các cụ đă lẫn thời gian với cấp số toán học của nó, như những người già thường lẫn, với họ, dĩ văng không phải là con đường suy giảm dần, mà là một cánh đồng cỏ mênh mông, mùa đông chẳng bao giờ chậm tới, ngăn cách họ bằng cái cổ chai nhỏ hẹp của mười năm vừa qua.

Chúng tôi biết trên lầu có một căn pḥng dán kín mà đă 40 năm qua không ai biết tới, muốn vào phải phá cửa. Người ta đợi cô Emily mồ yên mả đẹp mới phá cửa pḥng.

Sức phá cửa mạnh dường như làm căn pḥng tung đầy bụi bặm. Có vẻ như một tấm màn đen phủ quan tài mỏng, mùi hăng trùm kín khắp căn pḥng được trang trí cho cô dâu chú rể, trên những tấm màn buông có riềm màu hồng bạc thếch, trên những chụp đèn màu hồng, trên bàn phấn, trên loạt đồ pha lê thanh nhă, trên bộ đồ trang sức của nam giới mà mặt trong bằng bạc đă xám xịt, xám đến độ mấy chữ bên trên viết tắt đă ám đen. Giữa những thứ đó, có một chiếc cổ cồn và chiếc cà vạt chừng như mới được tháo ra, khi nhấc lên c̣n để lại trên mặt bàn một vành trăng lưỡi liềm mờ nhạt trên nền bụi. Trên ghế c̣n vắt bộ quần áo, xếp gấp cẩn thận, dưới ghế là đôi giày câm nín và những đôi tất chơ vơ.

Chính gă đàn ông đă nằm trên giường.

Chúng tôi đứng yên một lúc lâu, cúi nh́n cái miệng rộng hoắc sâu thẳm và không c̣n da thịt. Người ta thấy h́nh như thân gă có một lúc nằm với dáng điệu ôm ấp, nhưng rồi giấc ngủ dài, dài vượt t́nh yêu, giấc ngủ dài đă chinh phục sự đỏng đảnh của t́nh yêu, đă lừa gạt được gă. Di thể của gă đă rửa nát, dưới những ǵ c̣n sót lại của chiếc áo ngủ, không thể gỡ khỏi nơi mặt người gă nằm, và trên xác gă cũng như trên chiếc gối bên cạnh gă, phủ một lớp bụi dẻo dai và bền bỉ. Lúc ấy chúng tôi để ư nhận thấy trên mặt gối thứ hai c̣n in hằn viết lơm đầu người. Một người trong bọn chúng tôi nhặt lên được một cái ǵ trên gối, và khi chúng tôi cúi xuống, lớp bụi gờn gợn vô h́nh khô khan kia xông thẳng lên mũi, chúng tôi nh́n ra th́ đó là một sợi tóc dài, một sợi tóc màu xám sắt.


THÂN TRỌNG SƠN
dịch và giới thiệu
( tháng 8/2023 )
.

Nguồn:

A Rose for Emily.
https://americanliterature.com/author/william-faulkner/short-story/a-rose-for-emily



 

art2all.net