|
Thân Trọng Sơn
MỘT ĐÁM CƯỚI VÀNG
Lucy Maud Montgomery
Lucy Maud Montgomery là một nhà văn người Canada viết rất sung sức, nổi tiếng nhất với tác phẩm Anne Tóc Đỏ Dưới Mái Nhà Xanh xuất bản năm 1908. Đây là câu chuyện về một cô bé mồ côi thông minh, giàu trí tưởng tượng và không ngại bày tỏ chính kiến, người đă t́m được chỗ đứng của ḿnh trong thế giới, lấy bối cảnh ở đảo Hoàng tử Edward. Lucy Maud Montgomery đă xuất bản hai mươi tiểu thuyết và hơn năm trăm truyện ngắn cùng thơ ca, dành cho những độc giả yêu mến ở mọi lứa tuổi.
“Theo kinh nghiệm của tôi th́ hầu như bạn luôn có
thể tận hưởng mọi điều nếu bạn quyết tâm rằng ḿnh sẽ tận hưởng nó.” Câu chuyện mở đầu bằng h́nh ảnh một chàng trai tên Lovell Stevens quay trở về vùng quê sau mười lăm năm xa cách, mang theo kư ức ấm áp về ông bà Tom và Sally — hai người đă từng cưu mang anh khi c̣n nhỏ. Trái với mong đợi, anh phát hiện ngôi nhà xưa bị bỏ hoang, c̣n ông bà th́ đang sống trong trại tế bần. Họ đă rơi vào cảnh nghèo túng, bị bệnh tật và tuổi già vùi lấp, và quan trọng hơn cả, đang tuyệt vọng v́ phải trải qua lễ kỷ niệm 50 năm ngày cưới — “lễ cưới vàng” — tại nơi khắc nghiệt và lạnh lẽo nhất: trại dưỡng lăo. Mạch truyện sau đó xoay quanh nỗ lực thầm lặng nhưng đầy quyết tâm của Lovell nhằm mang lại cho ông bà một lễ cưới vàng đúng nghĩa: anh bí mật mua lại căn nhà cũ, chuộc lại từng món đồ nội thất quen thuộc, cùng với sự giúp đỡ của bà Stetson và cộng đồng, biến ngôi nhà trở lại thành tổ ấm xưa. Cao trào là buổi lễ kỷ niệm bất ngờ — nơi ông bà được đón về giữa ṿng tay bè bạn, trong căn nhà xưa đầy ánh sáng và hoa vàng. Cái kết là một món quà bất ngờ: chiếc ví đựng 25 đồng vàng, như lời bảo đảm cho một cuộc sống an nhàn sau này. Chủ đề nổi bật nhất xuyên suốt truyện chính là ḷng biết ơn và sự báo đáp nghĩa t́nh. Lovell, dù là một cậu bé mồ côi nghèo khó, đă không quên công ơn của ông bà Tom và Sally — những người đă cho anh mái ấm, t́nh thương và nền giáo dục đầu đời. Sự trở về của anh không mang theo vật chất xa hoa, mà chứa đựng t́nh cảm chân thành, sự nhớ ơn sâu sắc, và ư chí hành động cụ thể: chuộc lại ngôi nhà, tổ chức lễ cưới, giúp ông bà thoát khỏi cảnh nghèo. Đây là sự báo đáp không phải bằng lời, mà bằng hành động, bằng sự hy sinh âm thầm — Lovell sẵn sàng dùng toàn bộ số tiền ḿnh dành dụm nhiều năm để đổi lấy một ngày hạnh phúc cho hai người già. Trong thời đại mà con người ngày càng quay cuồng giữa guồng quay vật chất, câu chuyện đặt lại câu hỏi: thế nào là thành công? Với Lovell, thành công không nằm ở tiền bạc hay địa vị, mà ở khả năng giữ được ḷng nhân hậu và sống có đạo nghĩa. Dù “chỉ c̣n vừa đủ tiền tàu về Tây”, Lovell tự nhủ ḿnh vẫn c̣n “hai bàn tay và lời cầu chúc của một cặp vợ chồng già” — và thế là đủ. Một yếu tố cảm động khác là sự góp sức của cộng đồng trong việc chuẩn bị lễ cưới vàng. Từ bà Stetson cho đến những người hàng xóm, tất cả đều chung tay giúp đỡ, từ việc chuộc lại đồ đạc, trang trí nhà cửa đến chuẩn bị tiệc mừng. Điều này không chỉ cho thấy t́nh người ấm áp nơi thôn quê, mà c̣n đề cao sức mạnh của tập thể, thứ có thể làm nên điều kỳ diệu ngay cả trong hoàn cảnh thiếu thốn nhất. Cách Montgomery xây dựng cộng đồng trong truyện chính là lời ca ngợi sự đùm bọc, sẻ chia — một giá trị nhân văn vững bền và cần thiết trong mọi thời đại. Montgomery viết bằng một lối văn giản dị, mộc mạc, giàu h́nh ảnh và cảm xúc. T́nh tiết truyện được triển khai mạch lạc, có cao trào và kết thúc ấm ḷng. Dù viết về cái nghèo, bà không bi lụy; dù kể chuyện cảm động, bà không cường điệu. Chính giọng kể nhân hậu, lạc quan ấy khiến độc giả không chỉ rơi nước mắt v́ xúc động, mà c̣n v́ niềm tin vào điều tốt lành vẫn c̣n tồn tại. “A Golden Wedding” không chỉ là câu chuyện về một ngày kỷ niệm đặc biệt. Đó là một bản t́nh ca về ḷng trung hậu, ân nghĩa và t́nh yêu thương giữa con người với con người. Truyện nhắc ta rằng: hạnh phúc không nằm ở nơi giàu sang vật chất, mà ở những mối quan hệ chân thành, nơi t́nh yêu và ḷng biết ơn được nuôi dưỡng và đền đáp.
Tác phẩm của Montgomery, như thường lệ, khiến
người đọc rời trang sách mà ḷng nhẹ nhơm, như vừa được sưởi ấm bởi một
ngọn lửa nhân văn – ngọn lửa của t́nh người bất diệt.
Mảnh đất đột ngột dốc xuống từ cổng, và một vườn táo non rậm rạp gần như che khuất ngôi nhà nhỏ xám xịt, phong sương khỏi con đường. Chính v́ vậy mà chàng trai trẻ mở cánh cổng trĩu nặng kia đă không thấy rằng ngôi nhà đă bị đóng ván kín, và anh vẫn tiếp tục huưt sáo vui vẻ cho đến khi len qua những cây táo chen chúc và thấy ḿnh đă đứng ngay trước bậc thềm đá trũng xuống, nơi mà ngày xưa từng có giàn kim ngân uốn cong phủ lên. Giờ đây, chỉ c̣n vài dây leo yếu ớt, không ai chăm sóc, bám một cách thảm hại trên mái gỗ, và như đă nói, các cửa sổ đều bị đóng ván kín mít. Tiếng huưt sáo tắt lịm trên môi chàng trai, và vẻ kinh ngạc xen lẫn lo lắng hiện rơ trên gương mặt anh — một gương mặt tử tế, chân thành, hiền lành, dù có lẽ không thể hiện sự thông minh nổi bật nào từ chủ nhân của nó. “Chuyện ǵ có thể đă xảy ra vậy?” anh tự hỏi. “Chẳng lẽ chú Tom và cô Sally đă mất? Nếu vậy th́ chắc chắn ḿnh đă đọc được cáo phó trên báo rồi. Mà nếu họ có chuyển đi nơi khác, th́ cũng phải có thông báo chứ. Họ đâu thể đi lâu rồi — luống hoa kia chắc mới được xới lên mùa xuân năm ngoái. Ừm, thế này đúng là một cú sốc. Ḿnh đă lặn lội đi bộ từ ga đến đây, vừa đi vừa nghĩ đến cảnh được gặp lại gương mặt hiền hậu của cô Sally, được nghe tiếng cười của chú Tom, vậy mà giờ đây lại chỉ thấy một căn nhà hoang tàn, bị bỏ mặc. Thôi th́ chắc ḿnh cũng nên ghé qua nhà Stetson hỏi thử xem liệu hai bác có biến mất thật không.” Anh đi qua rặng linh sam cũ sau mảnh đất và băng qua cánh đồng đến một ngôi nhà có vẻ cũ kỹ hơn ở phía bên kia. Một người phụ nữ có gương mặt tươi sáng trả lời tiếng gơ cửa của anh và nh́n anh đầy bối rối. “Bà không nhận ra cháu sao, bà Stetson? Bà không nhớ Lovell Stevens — người mà ngày xưa hay mang gà tây về cho bà, và bà thường thưởng cho cậu ta bánh mận đấy à?” Bà Stetson nắm chặt cả hai tay anh bằng một cái siết nồng nhiệt. “Làm sao mà tôi quên được chứ!” bà reo lên. “Ôi trời, đúng là Lovell rồi! Tôi nghĩ tôi phải nhận ra khuôn mặt cậu chứ, dù cậu thay đổi nhiều quá. Mười lăm năm đă khiến cậu khác xưa nhiều lắm. Vào nhà đi. Pa ơi, đây là Lovell — ông c̣n nhớ Lovell không, thằng bé mà cô Sally và chú Tom từng nuôi nhiều năm đấy?” “Tôi nhớ chứ,” Jonah Stetson đáp bằng một nụ cười thân thiện. “Làm sao quên được mấy tṛ nghịch ngợm của cậu ta ngày xưa. Cậu giờ to khỏe ra nhiều đấy. Cậu đă ở đâu suốt mười năm qua vậy? cô Sally lo lắng lắm, cứ tưởng cậu chết hay sa đọa rồi cơ đấy.” Vẻ u sầu hiện lên trên mặt Lovell. “Cháu biết cháu đáng lẽ phải viết thư,” anh nói hối lỗi, “nhưng cháu học hành kém lắm, mà cháu th́ thà làm bất cứ việc ǵ c̣n hơn phải ngồi viết một bức thư. Nhưng… chú Tom và cô Sally giờ ở đâu rồi? Không lẽ họ mất rồi?” “Không,” Jonah Stetson chậm răi trả lời, “không đâu — nhưng tôi nghĩ họ thà chết c̣n hơn. Họ đang ở trại tế bần.” “Trại tế bần! Cô Sally mà ở trại tế bần sao!” Lovell thốt lên. “Phải đấy, mà thật là tủi nhục,” bà Stetson quả quyết. “Cô Sally đau ḷng lắm v́ chuyện đó. Nhưng dường như chẳng c̣n cách nào khác. Chú Tom bị thấp khớp nặng đến mức không thể làm việc được nữa, c̣n cô Sally th́ yếu quá không thể làm ǵ. Họ chẳng có thân thích nào, và ngôi nhà th́ bị thế chấp.” “Lúc cháu đi th́ chưa có nợ nần ǵ mà.” “Phải, nhưng sáu năm trước, họ buộc phải vay tiền khi chú Tom bị cơn sốt thấp khớp đầu tiên. Mùa xuân năm nay, rơ ràng là họ không c̣n lựa chọn nào khác ngoài việc vào trại tế bần. Họ chuyển đi ba tháng trước, và họ đau đớn lắm, nhất là cô Sally. Tôi cũng cảm thấy vô cùng áy náy. Jonah và tôi đă tính nhận họ về, nhưng thật sự là không thể — nhà tôi chỉ trông vào tiền công của Jonah, lại có đến tám đứa con và không c̣n chỗ trống nào cả. Tôi vẫn qua thăm cô Sally khi có thể và mang chút quà nhỏ, nhưng có khi cô ấy thà không gặp ai c̣n hơn, v́ xấu hổ ở trong trại tế bần.” Lovell xoay chiếc mũ trong tay, trầm ngâm. “Giờ ai là chủ ngôi nhà đó vậy?” “Peter Townley. Ông ta nắm giữ giấy thế chấp. Và toàn bộ đồ đạc cũ cũng bị bán sạch, điều đó làm cô Sally gần như suy sụp. Nhưng cậu có biết điều ǵ khiến cô ấy buồn bă nhất không? Chỉ c̣n hai tuần nữa là tṛn năm mươi năm ngày cưới của cô với chú Tom, và cô ấy nghĩ thật tệ khi phải kỷ niệm ngày lễ vàng ấy trong nhà tế bần. Cô cứ nhắc đến điều đó suốt thôi. Cậu không đi luôn đấy chứ, Lovell?” – v́ Lovell đă đứng dậy . "Cậu phải ở lại với vợ chồng tôi chứ, v́ nhà cũ của cậu đă bị đóng cửa. Chúng tôi sẽ xoay xở cho cậu một chỗ ngủ tạm, và cậu cứ ở lại thoải mái. Tôi vẫn c̣n nhớ cái lần cậu cứu Mary Ellen suưt ngă xuống giếng.” “Cảm ơn bà, cháu sẽ ở lại dùng bữa tối,” Lovell đáp và ngồi xuống lại, “nhưng có lẽ cháu sẽ ở khách sạn gần ga tàu trong thời gian ở đây. Như thế tiện hơn.” “Cậu làm ăn bên miền tây ổn chứ?” Jonah hỏi. “Khá ổn đối với một người chỉ có hai bàn tay trắng khi rời đi,” Lovell đáp dè dặt. “Dĩ nhiên cháu chỉ là một người lao động, nhưng cháu cũng tiết kiệm đủ để mở một cửa hàng nhỏ khi trở về. Đó là lư do cháu tranh thủ về thăm miền đông lần này—trước khi bị ràng buộc vào công việc kinh doanh. Cháu rất muốn gặp lại cô Sally và chú Tom. Cháu không bao giờ quên họ đă tử tế và tốt bụng với cháu như thế nào. Lúc cha cháu mất, cháu mới mười một tuổi, là một đứa trẻ hư hỏng đang trên đường sa ngă. Họ đă cho cháu một mái nhà, cho cháu tất cả sự học hành cháu có được, và tất cả t́nh yêu cháu từng nhận. Chính những lời dạy của cô Sally đă góp phần làm cháu thành người. Cháu chưa từng quên và đă cố sống đúng theo điều đó.” Sau bữa ăn tối, Lovell nói anh muốn đi dạo và ghé thăm Peter Townley. Vợ chồng Stetson nh́n nhau khi anh rời đi. “Có ǵ đó trong đầu cậu ấy,” Jonah gật đầu. “Cậu ta và Peter chưa bao giờ là bạn thân.” “Có lẽ giờ là lúc những điều tốt đẹp cô Sally từng làm quay trở lại với cô ấy,” vợ ông nói. “Ngày xưa người ta hay chỉ trích Lovell. Nhưng tôi luôn quư mến cậu ta và thực sự vui v́ cậu ấy đă nên người.” Lovell quay lại nhà Stetson vào tối hôm sau. Trong khoảng thời gian đó, anh đă đến thăm cô Sally và chú Tom. Cuộc gặp ấy vừa vui vừa buồn. Lovell cũng đă gặp vài người khác. “Cháu đă mua lại ngôi nhà cũ của chú Tom từ Peter Townley,” anh nói nhẹ nhàng, “và cháu muốn hai người giúp cháu thực hiện một kế hoạch. Chú Tom và cô Sally sẽ không phải kỷ niệm lễ cưới vàng ở nhà tế bần đâu—không đời nào. Họ sẽ kỷ niệm nó tại chính ngôi nhà của ḿnh, cùng những người bạn cũ bên cạnh. Nhưng họ không được biết ǵ hết cho đến tối hôm ấy. Hai người nghĩ ḿnh có thể thu lại ít đồ đạc cũ không?” “Tôi tin là có thể lấy lại hết,” bà Stetson nói đầy phấn khích. “Phần lớn được những người gần đây mua lại và tôi tin không ai từ chối bán lại đâu. Cái ghế cũ của chú Tom vẫn ở đây—cô Sally tặng tôi đấy. Cô ấy nói không nỡ để nó bị bán. Bà Isaac Appleby ở gần ga đă mua bộ đồ sứ hoa hồng, James Parker mua chiếc đồng hồ quả lắc và cái giá trang trí th́ ở nhà Stanton Gray.” Trong hai tuần tiếp theo, Lovell và bà Stetson đi hết nhà này đến nhà khác để t́m lại đồ đạc của chú Tom và cô Sally. Jonah đùa rằng ḿnh giống như người độc thân v́ chẳng c̣n bữa ăn tử tế hay ai khâu nút áo. Họ đi đến mọi nơi có thể có đồ đạc của bà Sally. Họ rất thành công, và cuối cùng, ngôi nhà nhỏ sau vườn táo lại mang dáng vẻ thân thuộc như xưa. Trong lúc đó, bà Stetson cũng ấp ủ một kế hoạch riêng, và một chiều nọ, bà đi vận động hàng xóm. Lần sau gặp Lovell, bà nói: “Chúng tôi sẽ không để cậu làm mọi thứ một ḿnh đâu. Phụ nữ quanh đây sẽ chuẩn bị đồ ăn cho lễ cưới vàng, c̣n các cô gái sẽ trang trí nhà bằng hoa vàng dại.” Tối lễ kỷ niệm đến. Cả làng Blair đều biết chuyện, kể cả bà quản lư nhà tế bần. Tối ấy, cô Sally nh́n mặt trời lặn sau đồi, nước mắt chảy dài. “Tôi chưa từng nghĩ ḿnh lại mừng lễ cưới vàng trong nhà tế bần,” cô nức nở. Chú Tom đặt bàn tay co quắp lên vai gầy run rẩy của vợ, nhưng trước khi kịp nói ǵ an ủi th́ Lovell Stevens đă đứng trước mặt họ. “Đội mũ vào đi, cô Sally,” anh hớn hở nói, “hai người đi với cháu. Cháu có xe đợi ở ngoài… và tốt nhất là chào tạm biệt nơi này luôn, v́ cô chú sẽ không quay lại nữa đâu.” “Lovell, ôi, cháu nói ǵ thế?” cô Sally run giọng hỏi. “Cháu sẽ giải thích dọc đường. Nhanh lên—mọi người đang chờ!” Khi họ đến ngôi nhà cũ nhỏ bé, ánh đèn rực rỡ chiếu sáng khắp nơi. Cô Sally bật lên một tiếng thảng thốt khi bước vào. Tất cả đồ đạc cũ của bà đều đă trở lại đúng vị trí ban đầu. C̣n có cả những món mới nữa, v́ Lovell đă bổ sung mọi thứ c̣n thiếu. Ngôi nhà đầy ắp bạn bè và hàng xóm cũ của họ. Bà Stetson đón họ trở về nhà. “Ôi, Tom,” cô Sally th́ thầm, nước mắt hạnh phúc chảy dài trên khuôn mặt già nua, “Tom ơi, chẳng phải Chúa thật tốt lành sao?” Họ có một buổi lễ kỷ niệm vô cùng trọng thể, và một bữa tiệc tuyệt vời theo đúng phong cách các bà nội trợ Blair. Có diễn văn, có ca hát, có kể chuyện. Lovell th́ lặng lẽ đứng phía sau, giúp bà Stetson cắt bánh trong bếp suốt buổi tối. Nhưng khi khách khứa đă về hết, anh tiến lại gần cô Sally và chú Tom, lúc ấy đang ngồi bên ḷ sưởi. “Cháu có món quà nhỏ mừng lễ cưới vàng cho cô chú,” anh ngượng ngùng nói, đặt một chiếc ví vào tay cô Sally. “Cháu nghĩ trong đó đủ để cô chú không bao giờ phải quay lại nhà tế bần nữa, và nếu không đủ, cháu sẽ gửi thêm khi cần.” Trong ví là hai mươi lăm đồng vàng sáng loáng, mỗi đồng trị giá hai mươi đô la. “Cháu cho thế này th́ cô chú không thể nhận được, Lovell,” cô Sally phản đối. “Cháu không kham nổi đâu.” “Đừng lo ǵ hết,” Lovell bật cười. “Ở miền Tây, mấy khoản thế này chẳng đáng kể. Cháu c̣n nợ cô chú nhiều hơn cả đống tiền này. Cô phải nhận lấy—cháu muốn biết rằng ở đây luôn có một mái nhà nhỏ cho cháu, và hai trái tim nhân hậu ở trong đó, bất kể cháu có lang bạt nơi đâu.” “Chúa phù hộ cho cháu, Lovell,” chú Tom nghẹn ngào nói. “Cháu không biết cháu đă làm ǵ cho cô chú đâu.” Tối hôm đó, khi Lovell lên căn pḥng ngủ nhỏ phía sau pḥng khách—bởi v́ cô Sally, nay vui mừng khi lại làm bà chủ của một pḥng dành cho khách, nhất định không cho anh ra khách sạn—anh đứng nh́n bóng ḿnh trong tấm gương có khung mạ vàng một cách trầm ngâm.
“Bạn chỉ c̣n vừa đủ tiền để mua vé quay về miền Tây
thôi, anh bạn ạ,” anh nói, “và rồi bạn lại phải bắt đầu lại từ đầu, như
thuở ban đầu. Nhưng khuôn mặt của cô Sally đă xứng đáng với tất cả—đúng
thế. Và bạn vẫn c̣n hai bàn tay này, cùng với lời cầu nguyện và phúc
lành của một cặp vợ chồng già. Vốn liếng ấy đâu có tệ, Lovell, đâu có tệ
chút nào.”
|