Thân Trng Sơn

 

NGỰA NON HÁU ĐÁ

 


          Năm 2025 đă qua, nhưng năm Tỵ chưa hết. Rồi cũng sẽ đến lúc bàn giao cho năm Ngọ.

 

Năm Ngọ là năm thứ bảy trong hệ thống 12 con giáp của văn hóa Á Đông, tượng trưng bởi con Ngựa.

 

Ngựa (tên khoa học: Equus ferus caballus) là một phân loài đă được thuần hóa của loài ngựa hoang Equus ferus, thuộc Họ Ngựa (Equidae) trong Bộ Móng Guốc lẻ (Perissodactyla).

 

Tùy theo hệ thống phân loại, số lượng giống ngựa hiện nay dao động từ 300 đến 600 giống trên toàn thế giới. Con số phổ biến nhất thường được các tổ chức ngựa quốc tế công nhận là hơn 350 giống.

 

Một số nhóm giống ngựa tiêu biểu:


• Ngựa đua/nhanh: Thoroughbred, Quarter Horse
• Ngựa nhỏ (pony): Shetland Pony, Welsh Pony
• Ngựa kéo/nhặng sức mạnh: Clydesdale, Shire
• Ngựa cưỡi/đa dụng: Arabian, Morgan
• Ngựa địa phương châu Á: Ngựa Mông Cổ, Ngựa Việt Nam (H’Mông, Bạch Mă…)

 

Trong truyện thơ Lục súc tranh công (tác phẩm Nôm khuyết danh, ra đời khoảng thế kỷ XVIII–XIX), con Ngựa là một trong sáu con vật (Trâu – Chó – Ngựa – Dê – Gà – Lợn) đứng lên “tranh công”, khoe tài và kể những đóng góp của ḿnh cho con người.

 

Dưới đây là vai tṛ của con Ngựa trong tác phẩm:

 

Con Ngựa xuất hiện như một loài vật nhanh nhẹn, trung thành, chịu khó và hữu ích nhất cho người trong việc đi lại, vận chuyển và chinh chiến. Nó đại diện cho:

• Sức mạnh
• Sự bền bỉ
• Tinh thần trung nghĩa
• Khả năng phục vụ con người trong cả đời sống thường nhật và chiến trận

 

Ngựa trong tác phẩm có giọng điệu tự tin, mạnh mẽ, và đầy tự hào.

Trong đoạn tranh công, Ngựa liệt kê những đóng góp tiêu biểu:

Ngựa nói rằng nó giúp con người “cưỡi ngựa xem hoa”, “thượng kinh hạ giang”, đi xa nhanh chóng, không sợ nắng mưa.

 

Ngựa kể ḿnh từng:

• cơng quân tướng
• lăn lộn nơi sa trường
• góp công trong chiến thắng

H́nh tượng này làm nổi bật vai tṛ của ngựa trong văn hóa chiến tranh phong kiến.

 

Ngựa phải:

• ăn đói
• ngủ đứng
• chịu roi vọt
• chạy gấp

Ngựa vẫn trung thành, không oán than.

 

Ngựa tượng trưng cho:

• Ḷng trung nghĩa
• Khả năng hy sinh
• Sự tận tụy phục vụ con người

 

Trong cuộc “tranh công”, Ngựa thường được xem là một trong những con có công lớn nhất, và lời lẽ của Ngựa thường mạnh mẽ hơn các con vật khác.

 

“Tôi đây vó câu cất bước,
Ngày đường xa chẳng quản ngại chi.
Khi chiến trận xông pha tên đạn,
Cũng nhờ tôi mới được vinh quy…”

 

Ngựa rằng:

Ta đây giống thiệt thanh cao,
Vó câu tung cánh, bước vào cửa quan.
Theo người thượng chốn trung gian,
Ngọn roi chẳng quản, đường ngang chẳng nề.
Nắng mưa dầu dăi mọi bề,
Cũng toan cho kịp mà về tới nơi.

Nhà vua mở cuộc dâng tài,
Xông pha trận mạc, vào ngoài tên bay.
Khi ra Bắc, lúc vào Nam,
Cũng ta cất vó, vượt phàm đến tiên.
Lăn lộn những bước truân chuyên,
Nhiều phen giúp chủ lập nên công hầu.

Đêm th́ đứng nép bên tàu,
Ngày thời chạy suốt, trước sau một ḷng.
Lắm phen gió bụi ra công,
Chịu đ̣n, chịu vọt, ai cùng sánh ta?

Hỡi năm giống, khá vào mà,
So công cùng việc, xem ra giống nào!

 

Dưới đây là những điểm nổi bật về năm Ngọ:

 

1. Biểu tượng và ư nghĩa
• Ngựa tượng trưng cho tốc độ, tự do, sức mạnh và sự kiêu hănh.
• Năm Ngọ thường gắn liền với năng lượng mạnh mẽ, sự chuyển động, thay đổi và bứt phá.
• Đây cũng là biểu tượng của sự trung thành và bền bỉ, bởi ngựa gắn với đời sống lao động và chiến trận trong lịch sử.

2. Tính cách người tuổi Ngọ (theo quan niệm dân gian)
Người sinh năm Ngọ thường được xem là:
• Năng động, hoạt bát, thích giao tiếp.
• Yêu tự do, không thích bị g̣ bó.
• Nhiệt huyết, dễ thành công trong những lĩnh vực cần sự sáng tạo hoặc di chuyển.
• Tuy nhiên đôi khi nóng nảy, thiếu kiên nhẫn, dễ “cả thèm chóng chán”.

3. Ngũ hành của các năm Ngọ
Các năm Ngọ lặp theo chu kỳ 60 năm, mỗi năm Ngọ mang một hành khác nhau:
• Giáp Ngọ – Kim Ngọ (Mộc)
• Bính Ngọ – Đinh Ngọ (Hỏa)
• Mậu Ngọ – Kỷ Ngọ (Thổ)
• Canh Ngọ – Tân Ngọ (Kim)
• Nhâm Ngọ – Quư Ngọ (Thủy)
Mỗi hành lại ảnh hưởng đến tính khí và vận mệnh theo quan niệm truyền thống.
 

4. Ư nghĩa trong phong thủy và tử vi
• Năm Ngọ thường được xem là năm có nhiều biến động.
• Là thời điểm dễ có những quyết định mạnh mẽ, những khởi đầu mới.
• Trong phong thủy, ngựa (Lộc Mă) c̣n tượng trưng cho tài lộc, sự hanh thông.

5. Văn hóa – tín ngưỡng
• H́nh tượng ngựa rất phổ biến trong văn hóa Việt: tranh dân gian Đông Hồ (Mă đáo thành công), truyền thuyết Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt, ngựa trong tín ngưỡng thờ Mẫu…
• “Mă đáo thành công” là lời chúc may mắn, thịnh vượng, thường gắn liền với h́nh tượng ngựa đang phi.

Trong văn hóa Việt, ngựa thường gắn với:
Sức mạnh, sự bền bỉ (ngựa chiến, ngựa thồ).
Tốc độ, sự vội vă.
Thân phận lang bạt, gian khổ.
Ḷng trung thành.
Thân phận tài giỏi nhưng dễ gặp trắc trở (h́nh ảnh ngựa quư bị buộc vào xe cỏ).

V́ thế, ngựa xuất hiện nhiều trong tục ngữ và ca dao cả với nghĩa tả thực lẫn ẩn dụ.

 

Con ngựa trong tục ngữ:

Ngựa hay chạy đường dài.
Người giỏi chỉ bộc lộ qua những thử thách lớn.

Ngựa non háu đá.”
Người trẻ nông nổi, ưa thể hiện.

Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn.”
Làm ǵ cũng cần có bạn bè, đồng đội.

Ngựa quen đường cũ.”
Con người khó bỏ thói quen cũ; ẩn ư phê phán thói xấu lâu ngày.

Ngựa chạy tới đâu, sào theo tới đó.”
Làm đâu chắc đấy, theo dơi sát sao.

 

Tục ngữ về thân phận – sự ví von
“Cầm bằng ngựa theo trâu.
Người tài nhưng gặp cảnh éo le, bị đặt vào vị trí không xứng.
Ngựa đau đáu cỏ.”
Thương người cùng cảnh ngộ.
Ngựa bất kham.
Người khó điều khiển, cứng đầu.
Tốt danh hơn lành áo, tốt ngựa hơn tốt yên.
Giá trị thật nằm ở bản chất, không phải vỏ ngoài.


Con ngựa trong ca dao
Ngựa anh đi trước, vơng nàng theo sau,
Nàng c̣n trẻ lắm, nàng c̣n trẻ lắm,
Anh biết làm sao…

H́nh ảnh ngựa – vơng trong lễ cưới truyền thống của người Việt.


“Tháng sáu buôn nhăn bán trâm,
Tháng bảy buôn quít buôn cam cũng già.
Tháng tám buôn ngựa bán gà,
Tháng chín buôn cá bán trà mà ăn.”

Ngựa xuất hiện trong chu kỳ buôn bán dân gian.

Thân em như ngựa chạy bờ ao,
Hết ăn cỏ lại lao vào bụi.

Than cho phận nữ nhi lận đận.


“Ngựa vàng anh để đâu đây,
Để cho thằng bé cưỡi rày cưỡi m
ai?”
H́nh ảnh ngựa gắn với đồ chơi, kỷ niệm tuổi thơ.
Ngựa chạy đường xa mới hay ngựa hay.”
Ư nghĩa giống tục ngữ: tài năng được thử thách lâu dài.


• “Ngựa ô anh đợi vào dinh,
Anh về lấy mẹ hỏi ḿnh trước đă.

Gắn với t́nh yêu, lễ nghi và gia đ́nh.

Con ngựa trong tục ngữ – ca dao Việt Nam mang nhiều tầng nghĩa:
• Sức mạnh và sự bền bỉ.
• Sự nông nổi, khó kiểm soát (ngựa non).
• Thân phận lênh đênh, vất vả.
• Phép ẩn dụ cho con người, đặc biệt là phẩm chất và số phận.

Trong ḍng chảy văn học Việt Nam, h́nh tượng con ngựa xuất hiện phong phú và mang nhiều tầng ư nghĩa. Nó phản ánh đời sống vật chất, tinh thần, khát vọng, tâm tư và những bước chuyển lịch sử của dân tộc. Từ ca dao dân gian đến thơ ca bác học, từ Thơ Mới đến thơ đương đại, h́nh tượng con ngựa được biến hóa linh hoạt, lúc mộc mạc gần gũi, lúc hào hùng, khi lại trữ t́nh, suy tưởng.

Trước hết, trong thơ ca dân gian, con ngựa gắn với đời sống phong tục và thân phận con người. Trong lễ cưới truyền thống, ca dao ghi lại h́nh ảnh tươi đẹp:
Ngựa anh đi trước, vơng nàng theo sau,
Nàng về nhà mới, anh sầu nhà cũ.

Câu ca gợi kư ức về những đám rước dâu tưng bừng, đồng thời hé lộ nỗi buồn chia biệt của người ở lại.

 

Ngựa c̣n xuất hiện trong thân phận người phụ nữ lận đận:
Thân em như ngựa chạy bờ ao,
Hết ăn cỏ lại lao vào bụi
.”

Sự bấp bênh, lênh đênh ấy trở thành tiếng thở dài của bao kiếp đời nhỏ bé.

 

Ở phương diện triết lí, dân gian c̣n mượn h́nh ảnh con ngựa để nói về tài năng và thử thách:
Ngựa chạy đường xa mới hay ngựa hay.”
Câu tục ngữ không chỉ nói về con vật mà c̣n gửi gắm kinh nghiệm ứng xử: phải qua gian khó mới biết con người có bản lĩnh hay không.

Trong thơ ca trung đại, con ngựa trở thành biểu tượng của chí khí, hành tŕnh và biến động của thời cuộc.

 

Trong Chinh phụ ngâm, vó ngựa gợi cảnh chia li thấm đẫm nỗi bi ai:
Chàng từ đi tựa cửa hôm mai,
Vó câu khấp khểnh, bóng mai lạnh lùng
.”
H́nh ảnh vó câu nặng nề gợi bước đi vừa vội vă vừa xót xa của người chinh phu lên đường.

 

Nguyễn Du trong Truyện Kiều cũng nhiều lần dùng h́nh ảnh ngựa để phản ánh sự biến động phũ phàng của số phận và đặc biệt là cảnh Kiều bị cuốn vào ḍng đời hỗn loạn, “ngựa xe như nước, áo quần như nêm”, gợi một xă hội xô bồ nơi con người bị cuốn trôi giữa những ṿng xoáy.

 

Trong thơ hào khí Đông A, tuy không trực tiếp dùng nhiều h́nh ảnh ngựa, nhưng tinh thần của thời đại luôn gắn với chiến mă, như trong thơ Phạm Ngũ Lăo:
Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu,
Tam quân t́ hổ khí thôn Ngưu.

Bóng dáng chiến mă như ẩn hiện phía sau hào khí t́ hổ, biểu tượng cho sức mạnh quân dân một thuở.

Sang thời Thơ Mới, h́nh tượng con ngựa được gắn với cảm thức thời gian và nỗi buồn nhân thế. Nhiều thi sĩ mượn điển tích “bóng câu qua cửa sổ” để diễn tả tuổi trẻ trôi nhanh, đời người ngắn ngủi. Chế Lan Viên trong những suy tưởng triết lí từng viết:
Câu qua cửa sổ, thời gian vùn vụt chạy,
Ta ngoảnh lại ḿnh đă khác xưa rồi.

(ư thơ phỏng theo phong cách Chế Lan Viên)
Con ngựa lúc này không c̣n gắn với chiến trận hay lao động, mà trở thành biểu tượng của ḍng thời gian vô thường, của cái đẹp mong manh đang tàn phai, đúng tinh thần buồn bă, lăng mạn của phong trào Thơ Mới.

Đến thơ ca hiện đại, con ngựa mang những ư nghĩa mới, giàu sức sống thời đại. Trong không khí kháng chiến, Tố Hữu từng mô tả nhịp điệu dồn dập của cuộc lên đường bằng h́nh ảnh vó ngựa:
Xung kích lên đường vó câu dồn dập,
Gió reo cùng nhịp súng bên sườn.

H́nh tượng con ngựa ở đây thể hiện sự hối hả, quyết liệt của thời đại ra trận.

 

Trong thơ thế sự sau chiến tranh, ngựa lại mang sắc thái lao động đời thường: con ngựa thồ, ngựa kéo gợi sức bền của người Việt trong công cuộc xây dựng mới. Đến thơ đương đại, h́nh tượng ngựa c̣n trở thành biểu tượng cá nhân hóa, mang nỗi cô đơn, khát vọng phá bỏ giới hạn:
Có con ngựa hoang chạy măi trong tôi,
Vượt những cánh đồng không tên, không tuổi.

(ư thơ theo phong cách thơ trẻ hiện đại)
Nó biểu trưng cho hành tŕnh t́m kiếm bản thể của con người giữa xă hội đổi thay.

Từ những dẫn chứng trên, có thể thấy rằng h́nh tượng con ngựa trong thơ ca Việt Nam mang ư nghĩa đa diện. Đó là biểu tượng của tự do, sức mạnh, chí khí, nhưng cũng là h́nh ảnh của thân phận lận đận, của thời gian trôi chảy, của khát vọng vươn lên. Mỗi thời đại, mỗi tác giả, mỗi giọng thơ lại khoác lên con ngựa một ư nghĩa khác nhau, khiến nó trở thành một trong những h́nh tượng nghệ thuật giàu sức sống và linh hoạt nhất của văn học Việt.

H́nh tượng ấy, từ câu hát dân gian đến những áng thơ kinh điển, đă bền bỉ gợi mở chiều sâu văn hóa và tâm hồn Việt Nam – nơi “vó ngựa” không chỉ chạm trên mặt đất mà c̣n gơ nhịp lên trái tim và trí tưởng tượng của bao thế hệ thi nhân.

Như vậy, con ngựa không chỉ là một h́nh ảnh quen thuộc mà c̣n là một biểu tượng nghệ thuật sinh động, phản ánh những hành tŕnh của lịch sử, của con người và của tâm hồn Việt Nam. Qua h́nh tượng này, thơ ca Việt đă phác họa một bức tranh rộng lớn và phong phú, nơi những vó ngựa gợi nên hơi thở của thời đại, khát vọng của nhân sinh và vẻ đẹp của những giá trị bền vững.

Trong văn học Pháp, nhà thơ Lamartine có bài Le cheval:

I

Ce n’est plus un cheval, c’est une âme qu’on voit vivre ;
C’est un esprit qui veille et qui cherche à me suivre,
C’est un esclave libre, un compagnon debout,
Qui m’aime, me comprend, me devine, et qui m’ouvre
Un cœur qui n’est qu’à moi, que j’entends, que j’éprouve,
Et que je trouve au fond plus humain que le nôtre.

II

Compagnon généreux, mon noble, mon fidèle,
Qui devances mes pas et qui portes mon aile,
Cheval fier de son maître et plus fier de son cœur ;
Toi que j’ai vu gémir de mes larmes amères,
Et d’un bruit caressant, dans les bruits éphémères,
Essayer sur mon front ton muet appareil.

III

Quand tu me sens penser, ton œil me considère,
Il interroge en moi cette voix solitaire ;
Tu souffres si je souffre, et si j’ai peur, tu crains ;
Ton oreille se baisse, et ton jarret s’arrête ;
Tu trembles à mon cri ; tu bondis à ma fête ;
Tu prends tout mon courage et tu prends tous mes biens.

IV

Quand je fais retentir ton nom sur la colline,
Tu viens, fier et joyeux, secouant ta crinière ;
Et ton pied bondissant, devançant ta poitrine,
Semble chercher mes mains avant même la terre.
Le premier de mes biens, c’est toi, noble animal !
O cheval de mon âme, ami presque égal !


I

Không, chẳng phải ngựa đâu – linh hồn kia sống động,
Một bóng tinh anh theo từng bước ta cùng.
Một kẻ từng nô lệ mà nay thành tự do lồng lộng,
Kẻ hiểu, kẻ yêu, đoán cả trái tim ta rung.
Nó mở trái tim chỉ riêng ta biết rơ,
Và nhân hiền hơn cả trái tim người nhỏ.

II

Bạn cao quư, trung trinh, chân thành đến thế,
Kẻ đi trước đường ta, nâng giấc mộng ta bay.
Ngựa kiêu hănh v́ chủ, lại kiêu hănh hơn v́ ḷng mạnh mẽ;
Ta đă thấy ngươi run khi giọt lệ ta rơi đầy.
Bằng tiếng vỗ dịu êm giữa đời mau tắt tạnh,
Ngươi đặt lên trán ta một im lặng lành.

III

Khi ta lặng nghĩ, mắt ngươi nh́n thăm thẳm,
Hỏi tiếng đơn côi vang dội giữa tâm hồn.
Ta đau – ngươi cũng buồn; ta sợ – ngươi run rắm;
Tai cụp xuống, chân khựng lại, ḷng bồn chồn.
Ta vừa kêu – ngươi đă run theo nhịp thở;
Ta vui rồi – ngươi bật nhảy như chào mời;
Ngươi nhận lấy gan ta, nhận cả đời ta đó,
Niềm mạnh mẽ, tài sản của ta ngươi mang nơi.

IV

Ta gọi tên ngươi – tiếng vang qua đồi biếc,
Ngươi đến, vui kiêu, tung bờm sáng rạng ngời.
Chân bật nhảy trước ngực ngươi như muốn biết
Bàn tay ta trước đất trời xa vời.
Gia sản quư nhất trong đời ta, là ngươi – cao cả!
Ôi ngựa của tâm hồn ta – bạn đường chan ḥa.

Trong bài thơ Le Cheval, Lamartine xây dựng con ngựa như một h́nh tượng tinh thần, biểu tượng lăng mạn:

 

• Ngựa là tri kỷ, đồng điệu cảm xúc với thi sĩ:
Ta đau – ngươi cũng buồn; ta sợ – ngươi run.”
Ngựa cảm nhận, chia sẻ nỗi đau, niềm vui, trở thành h́nh ảnh tâm linh.


• Biểu tượng tự do và khát vọng:
H́nh ảnh ngựa phi trên đồi, tung bờm rạng rỡ tượng trưng cho sức mạnh, tự do, khát vọng vượt thoát, đúng tinh thần lăng mạn Pháp.


• Ḥa hợp thiên nhiên và con người:
Ngựa vừa thực vừa biểu tượng, gắn với không gian thiên nhiên rộng lớn, phản ánh sự ḥa hợp giữa tâm hồn con người và vũ trụ.


• Ngựa như phương tiện nghệ thuật:
Con ngựa mang nhịp điệu, âm hưởng, góp phần tạo cảm xúc cho bài thơ và nâng cao giá trị thẩm mỹ.

Ngựa trong thơ ca Việt Nam
Trong thơ Việt Nam, con ngựa xuất hiện từ ca dao, dân ca, trung đại đến Thơ Mới và hiện đại:


• Ngựa trong ca dao – thân phận và đời sống lao động:
Thân em như ngựa chạy bờ ao, hết ăn cỏ lại lao vào bụi cây.
Ngựa tượng trưng cho thân phận lận đận, bấp bênh, đôi khi là trí tuệ, tài năng (ví dụ: “Ngựa chạy đường xa mới hay ngựa hay”).


• Ngựa trong thơ trung đại – hào khí, chiến trận:
H́nh ảnh ngựa chiến, vó câu, kỵ sĩ gắn với sự dũng cảm, chí khí, nghĩa vụ với đất nước.


• Ngựa trong Thơ Mới – lăng mạn, thời gian và cảm xúc:
Ngựa tượng trưng tự do, phiêu lưu, nỗi cô đơn, cũng như ḍng thời gian trôi nhanh (“bóng câu qua cửa sổ”).


• Ngựa trong thơ hiện đại – lao động, kháng chiến, tự do cá nhân:
Từ ngựa kéo, ngựa thồ đến ngựa hoang, vừa hiện thực, vừa biểu tượng của công
sức, sức sống và tinh thần nổi loạn.


1. Giống nhau:
• Ngựa đều mang giá trị biểu tượng cao, vượt khỏi vai tṛ vật chất.
• Liên kết chặt chẽ với con người và cảm xúc, đôi khi là tâm linh.
• Biểu hiện của tự do, sức mạnh, khát vọng.


2. Khác nhau:
Trong thơ Việt Nam, ngựa c̣n gắn với thân phận, lao động, chiến trận, tính hiện thực cao.
Trong thơ Pháp (Lamartine), ngựa là biểu tượng tinh thần, tri kỷ, thiên về lăng mạn, nội tâm, ḥa hợp thiên nhiên.

 

Ngựa Việt Nam thường đa dạng theo từng giai đoạn lịch sử và thể loại (dân gian – trung đại – hiện đại), trong khi Lamartine dùng ngựa tập trung cho biểu tượng lăng mạn và nghệ thuật.
 

H́nh tượng con ngựa trong cả thơ Pháp và thơ Việt Nam đều giàu sức sống và mang nhiều tầng ư nghĩa.
• Ở Pháp (Lamartine), ngựa là người bạn tinh thần, biểu tượng tự do và tâm hồn, gợi cảm xúc lăng mạn và triết lư.
• Ở Việt Nam, ngựa đa dạng hơn về chức năng biểu tượng, từ thân phận, lao động, chiến trận đến tự do và khát vọng, phản ánh văn hóa, lịch sử và đời sống xă hội.
 

Qua đó, có thể thấy: cùng một h́nh tượng – con ngựa – nhưng mỗi nền văn học khai thác theo cách riêng, phản ánh sự khác biệt về văn hóa, tư tưởng và nghệ thuật giữa hai dân tộc.

Sau đây, thử so sánh một số tục ngữ Pháp và Việt :

1. Qui veut voyager loin ménage sa monture.
(Ai muốn đi xa phải chăm sóc ngựa.)
Ngựa chạy đường xa mới hay ngựa hay.
Muốn thành công, phải biết giữ sức, chuẩn bị tốt.
Giống nhau về khuyên giữ ǵn sức lực, chuẩn bị cẩn thận


2. Être monté sur ses grands chevaux.
(Ngồi trên ngựa cao.)

Ngựa già khó luyện
Người kiêu căng, khó bảo
Cả hai đều nhấn mạnh tính kiêu hănh và khó kiểm soát


3. Il ne faut pas mettre la charrue avant les bœufs.
Không đặt cày trước trâu
Có chí th́ nên
Làm việc theo trật tự, biết cách.
Cả hai khuyên có kế hoạch, đúng tŕnh tự


4 À bon cheval, bon cavalier.
Ngựa hay, kỵ sĩ hay
Ngựa hay v́ chủ giỏi
Con người và phương tiện/đối tượng tương xứng.
Giống về tương quan giữa năng lực và phương tiện.


5. À cheval donné, on ne regarde pas la bride.
(Ngựa được tặng, không soi dây cương.)
Ấm no th́ mặc ấm, đói th́ mặc áo.
Nhận điều tốt mà không kén chọn.
Ư nghĩa tương tự về sự biết ơn và chấp nhận


6. Cheval qui galope n’a pas toujours raison.
(Ngựa phi không phải lúc nào cũng đúng.)
Chớ vội vàng mà hỏng việc.
Hành động vội vàng dẫn tới thất bại
Cả hai đều cảnh báo về sự nóng vội


7. Petit cheval fait grand voyage.
(Ngựa nhỏ đi xa.)
Có công mài sắt có ngày nên kim.
Kiên tŕ sẽ thành công.
Ư nghĩa bền bỉ, nỗ lực dẫn tới thành công.


8. Cheval qui hennit ne mord pas.
(Ngựa hí không cắn.)
Chó sủa là chó không cắn.
Người nói nhiều nhưng không gây hại.
Cả hai nói về tính “hiền” bên ngoài”


9. Qui n’a pas de tête, a des jambes pour courir derrière le cheval.
(Ai thiếu khôn ngoan, phải chạy theo ngựa.)
Trâu đi trước, ḅ theo sau.
Thiếu trí tuệ phải vất vả bù lại.
Ư nghĩa khá giống về hậu quả của thiếu khôn ngoan


10. Cheval de course ne mange pas d’avoine ordinaire.
(Ngựa đua không ăn cỏ thường.)
Ngựa tốt không cần dạy nhiều.
Người tài năng thường tự giác, không cần nhắc.
Giống nhau nói về phẩm chất và bản năng

Nhận xét chung
1. Tương đồng:
• Cả Pháp và Việt Nam đều dùng ngựa để nói về sức mạnh, khôn ngoan, nỗ lực, kiêu hănh, bền bỉ.
• Ngựa là biểu tượng công cụ, đồng hành, phương tiện tiến tới thành công.
• Nhiều proverbe/tục ngữ đều nhấn mạnh trật tự, chuẩn bị, kiên nhẫn và tính cách con người.


2. Khác biệt:
• Phong cách: Proverbe Pháp thường trừu tượng, hàm ẩn, lăng mạn; tục ngữ Việt Nam mộc mạc, cụ thể, gần đời sống.
• Ư nghĩa xă hội: Việt Nam gắn ngựa với lao động, thân phận, chiến trận nhiều hơn; Pháp gắn với tự do, phẩm giá, trí khôn, vị thế.
• H́nh ảnh ngựa: Việt Nam đa dạng theo bối cảnh (dân gian – trung đại – hiện đại), Pháp thường nhấn mạnh tinh thần, tính biểu tượng và triết lư.

Ngựa thường xuất hiện trong câu đối, liễn, thơ Tết, và văn học dân gian với ư nghĩa hào khí, sức mạnh, bền bỉ, vận may. Dưới đây là một số ví dụ tiêu biểu:

1. Câu đối về ngựa trong thơ Tết hoặc liễn Tết


1. Ngựa phi bốn phương, xuân về vạn lư
Cây nở muôn hoa, đất trời thêm sắc

Ư nghĩa:
Ngựa tượng trưng cho vận tốc, sức sống, sự hăng hái, kết hợp với mùa xuân là sự
khởi đầu, may mắn, sung túc.


2. Ngựa hí vang đồng, chí anh hùng dâng
Sông dài núi thẳm, ḷng rộng phúc trao

Ư nghĩa:

Ngựa biểu tượng hào khí, dũng khí, gợi cảm giác cao đẹp, rộng lớn.


3. Ngựa vó tung trời, đất trời thêm khí phách
Hoa nở muôn nơi, người người thêm phúc lộc

• Ngựa gắn với danh dự, sức mạnh, kết hợp với thiên nhiên và con người tạo khí
thế phồn vinh.


2. Câu đối chữ Hán (liễn) về ngựa


1. Mă phi tứ hải, tuế nguyệt tăng hào khí
Hoa khai vạn lư, xuân phong thập phương hỷ

Dịch nghĩa: Ngựa phi bốn phương, thời gian tăng khí thế; hoa nở muôn nơi, gió
xuân mang niềm vui khắp nơi.
Đây là dạng câu đối Tết Hán – Việt, ngựa là biểu tượng hào khí, dũng cảm, phát triển, may mắn.


2. Tùng hạc trường xuân, mă thượng khai hoa
• Dịch nghĩa: Tùng và hạc trường thọ, ngựa trên đường mở hoa (ngựa mạnh mẽ, thuận lợi).
• Ngựa tượng trưng cho sức khỏe, phúc lộc, thịnh vượng.

Nhận xét chung
• Trong câu đối Việt Nam, ngựa thường gắn với:
1. Hào khí, dũng khí, sức mạnh (ngựa phi, hí vang).
2. Vận may, phát triển, sung túc (xuân về, muôn nơi, thịnh vượng).
3. Sự bền bỉ, trung thành, hành tŕnh dài.
• Cấu trúc câu đối thường đối xứng về:
• H́nh ảnh thiên nhiên – con người – ngựa.
• Âm điệu, vần, thanh, đặc biệt trong liễn Tết.


THÂN TRỌNG SƠN
Cuối năm Th́n ( 2025 )

 


 

art2all.net