|
NHUNG
Diệp Di
Ye Mi sinh năm 1964 tại Tô Châu, tỉnh Giang Tô. Người ta không biết nhiều về gia đ́nh bà, nhưng trong một vài lời tựa và hậu từ kèm theo các ấn phẩm của ḿnh, bà có hé lộ đôi điều về lịch sử gia đ́nh:
“Tổ tiên tôi quê ở Vô Tích (无锡). Cụ cố tôi từng
lên Thượng Hải, định cư tại khu Bund để buôn bán, sau đó cả gia đ́nh ở
lại đó. Năm 1956, khi mới 21 tuổi, cha tôi tham gia một đội hỗ trợ vùng
Tân Cương. Mẹ tôi th́ quê ở Tô Châu. Cha gặp mẹ tôi trên một chuyến tàu,
rồi chuyển đến sống cùng bà tại Tô Châu…” " Lúc sáu tuổi, tôi theo cha mẹ rời đến vùng Subei, làm việc trong một đội thuộc lữ đoàn sản xuất của công xă nhân dân số 3, huyện Phụ Ninh, thành phố Diêm Thành… Tôi học hết năm năm tiểu học tại trường công xă, trong những lớp có khoảng ba mươi học sinh. Trên con thuyền đưa chúng tôi đến vùng Subei, mẹ tôi đă được một nhà báo của tờ Nhật báo Tô Châu (《苏州日报》) phỏng vấn. Bà nói rằng, để hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Mao, vận động thanh niên thành thị “lên núi, xuống ruộng” (上山下乡), bốn thành viên trong gia đ́nh họ đă cùng nhau bàn bạc và nhất trí quyết định tới sống ở vùng hẻo lánh và khổ cực nhất, để được cải tạo bởi nông dân nghèo và trung nông. Sau này, mẹ tôi thường nhắc lại chuyện đó và cười: 'Nhất trí à? Khi ấy con mới có năm tuổi, c̣n em con th́ mới hai tuổi thôi mà! Ahaha…' " Tờ báo cũng đăng một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt của mẹ tôi – một bài thơ “t́nh huống” ca ngợi lư tưởng cao đẹp của phong trào thanh niên về nông thôn, đồng thời tán tụng chí hướng cách mạng. Ye Mi hiếm khi nói đến mẹ ḿnh, nhưng có thể thấy mẹ bà là một trí thức đă ảnh hưởng rất lớn đến sự h́nh thành tư tưởng và t́nh cảm của Ye Mi. Điều này thể hiện không chỉ qua giai thoại trên, mà c̣n qua những ǵ Ye Mi kể về việc đọc sách từ thuở nhỏ, khi c̣n học tiểu học: "Khi tôi học lớp 5, tôi đă đọc các b́nh luận của Zhi Yanzhai về Hồng Lâu Mộng [tên khác: Lịch sử của viên đá], Thủy Hử, một tuyển tập tác phẩm của Pouchkine — tuy vậy, nói là “đọc” th́ hơi quá; phần lớn chỉ là lật giở lướt qua, đọc ngắt quăng mà thôi." "Hồng Lâu Mộng là một cuốn sách của một giáo viên trường cấp hai huyện, mà mẹ tôi đă đổi bằng cuốn Hàn Phi Tử; c̣n các tác phẩm của Pouchkine là do mẹ mang từ Tô Châu theo. C̣n Thủy Hử th́ mẹ tôi mượn về để viết bài b́nh, tôi đă nhân lúc đó mà tranh thủ đọc. Ba cuốn sách này đă mở ra trước mắt tôi những thế giới người khác nhau, thuộc đủ mọi tầng lớp và thân phận…" Trong cùng bài bạt ấy, bà cũng gợi nhắc đến hoàn cảnh sống vô cùng khắc nghiệt mà bà đă trải qua suốt tám năm trời ở vùng nông thôn đó: "Tôi đă sống trong cùng một ngôi làng nhỏ ở vùng Subei từ năm sáu tuổi cho đến mười bốn tuổi. Lúc đó tôi hơn mười tuổi một chút, một hôm, mấy bạn cùng chơi kể rằng có một người đàn ông từ thành phố, từ huyện Phụ Ninh, đến làng; thế là tôi đi theo để xem “người thành phố” ấy ra sao. Tôi đứng ngay trước cửa, nh́n chăm chú không rời, th́ một bé gái nói với tôi: 'Tôi nghe mẹ tôi bảo rằng trước đây, chị cũng từng là người thành phố.' Khi cô bé nói thế, kư ức của tôi về quăng đời trước năm sáu tuổi chợt ùa về, và điều gần gũi nhất mà tôi có thể h́nh dung ra… là một chiếc bánh bao trắng trong một tiệm bánh." Thế nhưng, chính tám năm ấy đă định h́nh toàn bộ cuộc đời về sau của bà. Thậm chí, chính tại cái xă nông thôn nghèo ấy, bà đă gặp người chồng tương lai của ḿnh – gia đ́nh anh làm việc trong cùng một đội sản xuất, và hai người đă từng học chung lớp. Nhưng đó cũng là một giai đoạn trưởng thành quan trọng, nơi bà trực tiếp trải nghiệm sự nghèo khổ của những người dân thường mà bà sống cùng, và cũng đồng thời chứng kiến khả năng chống chọi phi thường của họ trước bất hạnh. "Điều đầu tiên tôi nh́n thấy khi đến Subei, chính là chiếc dây lưng bằng rơm lúa mà ông chủ nhà già của chúng tôi đeo quanh bụng. Và khi nghĩ lại, điều khiến tôi tiếc nuối nhất, chính là việc tôi không có tiền để cho ông ấy mổ mắt đục thủy tinh thể…" Chính những năm tháng đó đă khiến bà phát triển một sự nhạy cảm đặc biệt với hoàn cảnh sống của người dân lao động – và đó cũng là nguồn cảm hứng cốt lơi trong văn chương của bà. Bà từng tuyên bố rằng, chỉ riêng tám năm sống ở đó cũng đă đủ để bà viết suốt cả cuộc đời c̣n lại. Ước mơ trở thành nhà văn đến với bà từ rất sớm, bất chấp mọi nghịch cảnh: "Ở Trung Quốc, các thầy cô giáo cũng giống như cha mẹ, rất thích hỏi bọn trẻ: “Lớn lên con muốn làm ǵ?” Phần lớn bạn bè tôi đều nói muốn vào quân đội Giải phóng, nhưng riêng tôi th́ lại muốn trở thành nhà văn. Tôi chưa công khai mơ ước đó được bao lâu th́ thầy giáo dạy ngữ văn đă cử một bạn đến nói với tôi: 'Bài kiểm tra của bạn có đầy dấu hỏi, như thế th́ không thể làm nhà văn được.' Không lâu sau, chính thầy ấy đến gặp tôi: 'Một câu cũng chấm hỏi, hai câu cũng chấm hỏi, như vậy mà cũng muốn làm nhà văn à? ' Đó là một thầy giáo già, và cho đến tận bây giờ, tôi vẫn c̣n nhớ nụ cười giễu cợt của thầy – một nụ cười vừa làm người ta ấm ḷng, lại vừa khiến người ta xấu hổ." Thế nhưng, bà vẫn luôn giữ trong ḷng ước muốn được viết. Bà bắt đầu viết khoảng năm mười tám tuổi, nhưng sau đó lấy chồng, sinh con, và cuộc sống gia đ́nh đă cuốn bà đi. Đó cũng là giai đoạn đất nước bắt đầu mở cửa, rồi cất cánh về kinh tế, thế giới xung quanh thay đổi, nhưng cuộc sống của bà th́ vẫn y nguyên: "Trong vài năm ngắn ngủi, cuộc sống của tất cả những người xung quanh tôi đă hoàn toàn thay đổi, chỉ riêng tôi vẫn sống cuộc đời nhỏ bé cũ kỹ, như thể bị tách rời khỏi thời đại của ḿnh. Tôi không có tham vọng, không hài ḷng với cuộc sống, nhưng lại không biết v́ sao. Thế là tôi bước sang tuổi ba mươi, ngày càng không hài ḷng với bản thân, và ngày càng cảm thấy lo lắng trước một thời đại khắc nghiệt. Không c̣n lựa chọn nào khác, tôi bắt đầu viết. " Chính v́ muốn tránh sự tŕ trệ về tinh thần – điều luôn ŕnh rập người phụ nữ nội trợ – và bị thôi thúc bởi nhu cầu ghi lại tất cả những trải nghiệm đă tích lũy, bà đă quay lại với việc viết lách, ở tuổi gần ba mươi. Theo một nghĩa nào đó, đó là sự trở về với cội nguồn. Truyện ngắn đầu tiên của bà được đăng năm 1994 trên Tạp chí Tô Châu (《苏州杂志》), là một truyện ngắn khoảng ba ngh́n chữ có tựa đề “Người đầu bếp nổi tiếng” (《名厨》), lấy cảm hứng từ câu chuyện có thật về người cậu của bà – Ngô Dũng Căn (吴涌根) – từng là đầu bếp của Lâm Bưu (林彪). Đến năm 1996, Ye Mi bắt đầu gây chú ư với truyện ngắn dài hơn mang tên “Trưởng thành là lột xác” (《成长如蜕》), trong đó đă thể hiện rơ những chủ đề yêu thích của bà: chân dung một nhân vật thuộc tầng lớp b́nh dân – người đầu tiên trong bộ sưu tập những con người bé nhỏ tạo nên trụ cột của toàn bộ sự nghiệp văn học của bà. Cũng vào dịp này, bà lấy bút danh Ye Mi (叶弥), v́ nhà xuất bản cho rằng tên thật Châu Khiết (周洁) quá phổ biến. Bà chọn họ của mẹ làm họ bút danh, sau đó mở từ điển ra một cách ngẫu nhiên để t́m chữ thứ hai. Một nhà văn đă ra đời. Nhưng quá tŕnh “lột xác” chỉ mới bắt đầu. Hai truyện ngắn tiếp theo của bà có phần đi chệch khỏi con đường bà đang vạch ra, đặc biệt là truyện thứ hai, “Giọt sương trong thành phố” (《城市里的露珠》), viết về giới trung lưu ở Tô Châu, sự phù phiếm của phụ nữ, niềm đam mê thời trang của họ. Khi ấy, bà học lái xe và t́nh cờ tiếp xúc với một tầng lớp phụ nữ mà trước đây bà hoàn toàn xa lạ. Bà kể lại trải nghiệm lạ lẫm ấy qua truyện, đồng thời khắc họa chân dung một người phụ nữ hiện đại – với khăn trùm mặt và mái tóc nhuộm nâu dài – tượng trưng cho sự thái quá trong việc chạy theo thời trang phương Tây, thể hiện sự hào nhoáng và nông cạn của một xă hội vật chất thuần túy. Tuy nhiên, đó chỉ là một thoáng thử nghiệm chóng tàn trong quá tŕnh “lột xác” của bà. Từ sau đó, Ye Mi trở lại với đề tài quen thuộc – những nhân vật và câu chuyện lấy cảm hứng từ trải nghiệm sống ở Tô Bắc: trở về với cội nguồn, như bà thường nói. Từ năm 2001, bà cho ra mắt hàng loạt tuyển tập truyện ngắn. Trong các truyện ấy, bà tập trung trở lại vào đời sống của những người dân b́nh thường. Tuy nhiên, vào thời điểm chuyển giao thiên niên kỷ, chủ đề và cách kể chuyện của bà có một chút thay đổi: thay v́ đối đầu trực diện với thực tại, các nhân vật trong truyện của bà dường như muốn ḥa giải với thế giới – nhưng chỉ như một lư tưởng xa vời, từ đó tạo nên một căng thẳng ngầm trong cấu trúc truyện, và chính sự căng thẳng này làm nên nét độc đáo trong văn chương của bà. Điểm hấp dẫn trong các truyện ngắn của bà từ nay nằm ở việc tạo ra một không gian khác biệt, bên lề, hoặc song song với thế giới thực, nơi các nhân vật của bà tồn tại và chuyển động. Điều này thể hiện rơ trong một trong những truyện ngắn tiêu biểu nhất giai đoạn này, “Nhung” (《天鹅绒》), được xuất bản lần đầu vào năm 2002: Ye Mi dựng nên một “bong bóng” nằm ngoài không gian và cả thời gian (Cuộc Cách mạng Văn hóa chỉ được gợi nhắc một cách mơ hồ). Mẹ của nhân vật chính c̣n rất trẻ trong truyện này thực sự điên loạn, nhưng các nhân vật khác lại trôi nổi như trong trạng thái không trọng lực, trong một thế giới lệch pha với thực tại, ngả sang phi lư và phi logic — một thế giới rơ ràng bị chi phối bởi lịch sử, nhưng cũng là một thế giới riêng biệt của Ye Mi. Theo nghĩa đó, có thể thấy một sự căng thẳng nội tại giữa quá khứ và hiện tại trong thế giới truyện của bà. Một số nhà phê b́nh đă so sánh bà với Can Xue (残雪, Tàn Tuyết ).Tuy nhiên, truyện của Ye Mi mang một bầu không khí hoàn toàn khác. Các nhân vật của bà tuy sống trong một thế giới mang tính cá nhân và nằm bên lề thực tại, họ có lối sống và cách lư giải riêng, vượt khỏi những khuôn khổ thông thường, đến mức tiệm cận với cái phi lư, nhưng thế giới ấy luôn khởi nguồn từ đời sống thường nhật, và gắn chặt với nó. Nếu cuối cùng Ye Mi dành nhiều chỗ cho cái phi lư, th́ đó là bởi v́ cái phi lư ấy là một phần của đời sống hàng ngày, và bà cảm nhận nó như một phần không thể tách rời khỏi chính cuộc đời ḿnh. Bà đă giải thích quá tŕnh sáng tác của ḿnh với một lối lư luận rối rắm, cũng giống như văn phong uốn lượn trong chính các tác phẩm của bà: “Là một người phụ nữ, tôi thích mơ mộng, mà mơ mộng th́ đồng nghĩa với việc đặt ḿnh ra ngoài thực tại. Việc viết truyện ngắn, với tôi, chính là cách để hóa giải xu hướng đó. Tôi cần viết để quay trở lại với thực tại và làm sáng tỏ thế giới – đó là mục tiêu cá nhân của tôi. Thế nên, sự tỉnh thức và lư trí chính là những ǵ dẫn dắt sự h́nh thành các truyện ngắn của tôi, nhưng điều đó cũng mang một chút tàn nhẫn. Vậy nên đôi khi tôi lại trốn thoát khỏi những câu chuyện của ḿnh, và cũng cho phép độc giả được trốn thoát như thế. Thành thật mà nói, tôi cho rằng đó là một ṿng vo có lợi. Nhưng có một điều khiến tôi day dứt: tôi nhận ra rằng các truyện ngắn của ḿnh đă trở thành một cách khác để tôi mơ mộng, một kiểu giấc mơ lang thang trên phố xá, nhưng không biết sẽ dẫn ta tới đâu cả.” Như vậy, truyện ngắn đối với Ye Mi là một cách để đối thoại với thế giới, giữa mộng tưởng và hiện thực, nhưng là một cuộc đối thoại diễn ra trong trạng thái tỉnh táo hoàn toàn, kiểm soát hoàn toàn bản thân – chính độc giả mới là người bị “thôi miên”. Càng có thêm kinh nghiệm, văn phong của bà ngày càng trở nên chăm chút, tinh tế hơn, với khả năng đi sâu trực tiếp vào tâm lư nhân vật… Nhưng đồng thời, bà cũng ngày càng đặt ra nhiều câu hỏi hơn… “Trong lúc vẫn tiếp tục viết, tôi vẫn sống một cuộc đời trôi qua từng ngày. Tôi viết những câu chuyện hay – hay ít nhất là được xem là như vậy – thỉnh thoảng lại xem phim. Nhưng điều đó không khiến tôi hài ḷng. Viết không mang lại niềm vui, ngược lại, nó làm cạn kiệt chút năng lượng ít ỏi tôi có.” “Vào ngày tôi bắt đầu viết, tôi không nghĩ rằng ḿnh sẽ tiếp tục suốt đời. V́ thế, vào đầu năm 2005, tôi bắt đầu muốn dừng lại dần dần. Tôi chỉ c̣n viết một đến hai truyện ngắn mỗi năm.” Vào tháng Giêng năm 2005, bà cho xuất bản một tuyển tập mà các truyện ngắn trong đó tràn đầy t́nh cảm con người, nhưng đồng thời cũng hiện thực sâu sắc, có tựa đề “Thị dân” (《市民们》). Quả thật, từ sau đó bà viết truyện ngắn ít hơn, nhưng vào tháng 4 năm 2006, bà xuất bản một tiểu thuyết ngắn, trong đó bà kể về sự trưởng thành của một đứa trẻ mười một tuổi trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, nhưng rất xa rời ḍng văn học “vết sẹo” (scar literature). Thay vào đó, đó giống như một câu chuyện cổ tích, khi cậu bé ấy hiến ḿnh cho việc theo đuổi cái đẹp.
Có thể đó là điều mà Ye Mi gọi là những câu chuyện
“được cho là hay”. Bà tiếp tục con đường tư duy và t́m kiếm của ḿnh.
Một truyện ngắn mang tính bước ngoặt là “Một con đại bàng biến mất trong
cung điện Potala”, đại diện cả cho cấu trúc tự sự của bà lẫn cách thức
đặc biệt của bà trong việc đưa cái kỳ lạ và phi lư len vào đời sống
thường nhật. Điều phi lư ấy thực chất nằm trong đầu óc con người trước
hết, dưới ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo dân gian, gắn với niềm tin
vào điều siêu nhiên. “Vào cuối năm 2007, tôi vẫn chưa từ bỏ việc viết, và thậm chí c̣n coi nó nghiêm túc hơn bao giờ hết. Người ta luôn có thể t́m lại được năng lượng. Và khi tôi đă gom góp được toàn bộ năng lượng của ḿnh, tôi tự hỏi: ḿnh thật sự muốn làm ǵ?” Đó cũng chính là lúc bà chuyển nhà, và t́m được sự b́nh yên lư tưởng cho sự thăng hoa của bản thân: “Thế là tôi đă chuyển đến một thị trấn nhỏ bên bờ hồ Thái Hồ. Phía trước là thị trấn, phía sau là một ngôi làng nhỏ. Chồng tôi làm việc xa, cách năm tiếng đi tàu. Anh ấy chỉ về nhà hai lần mỗi tháng. Tôi ở một ḿnh trong ngôi nhà mới, không quen biết ai, cũng chẳng quen thuộc nơi chốn. Ban đêm đường không có đèn. Ngôi nhà gần nhất cũng cách xa, và suốt cả ngày tôi chẳng thấy bóng dáng một ai đi qua. Vừa yên tĩnh, vừa lư tưởng để chiêm nghiệm. Tôi dần thích nghi với môi trường này và hồi phục lại cả thể xác lẫn tinh thần. Ngay cả những đêm giông tố, tiếng gió rít cũng không đánh thức được tôi.” “Thành phố cách đó ba tiếng tàu cả đi lẫn về; v́ thành phố luôn sáng đèn, ngày cũng như đêm, nên không bao giờ thấy được mặt trăng, trong khi ở làng th́ ngược lại: người ta thấy được trăng, cảm nhận được hương hoa và cỏ dại, nghe thấy tiếng vô số loài chim, có cả thú hoang, ma quỷ, linh hồn, hồ ly… và có cả sự cô đơn.” “Đôi khi, buổi tối trước khi đi ngủ, tôi đếm bằng ngón tay: hôm nay, suốt cả ngày, tôi đă không nói chuyện với ai cả; hôm qua, cũng không. Thế là tôi tự nhủ: ngày mai, dậy sớm, tôi sẽ ra chợ, nói chuyện này kia với người bán rau hay người bán cá. Cô đơn th́ tốt, nhưng đừng quên mối liên hệ giữa con người với nhau.” Kết quả là điều đă thấy. Bà liên tiếp cho ra đời một loạt những truyện ngắn xuất sắc nhất của ḿnh, nhiều truyện trong số đó được trao giải thưởng. Trong đó có truyện “Núi Hương Lư”, được đăng lần đầu trên tạp chí Thâu Hoạch (Shouhuo) vào tháng 2 năm 2010, và được trao giải Lỗ Tấn vào năm 2014. Truyện được gợi cảm hứng từ một lần bà đi lạc bên bờ hồ Thái Hồ. Lúc đó bà rất hoảng sợ. “Tôi cảm nhận được con người hiện đại, khi đối diện với điều chưa biết, đối diện với một môi trường xa lạ, đă đánh mất năng lực t́m kiếm và khám phá; họ chủ yếu lo lắng về việc bảo toàn an toàn cho bản thân. Nhưng nếu người ta thư giăn, buông lỏng cảnh giác, thế giới có thể mở ra một diện mạo hoàn toàn khác.” Đó chính là chủ đề của truyện ngắn ấy, bắt đầu từ một sự việc t́nh cờ, xảy ra trong một ngày tưởng như rất b́nh thường. Tuy nhiên, trong thời gian đó, Ye Mi đă bất ngờ nổi tiếng nhờ điện ảnh. Đạo diễn Khương Văn (Jiang Wen - 姜文) đă chọn một trong các truyện ngắn của bà để chuyển thể thành phim. Truyện ngắn được chọn là “Nhung” (《天鹅绒》), xuất bản năm 2002. Thực ra, ban đầu Khương Văn mua bản quyền một truyện khác cùng thời kỳ: “Một người phụ nữ không quan trọng”. Nhưng tính cách nhân vật trong truyện đó khiến ông bối rối, nên ông c̣n lưỡng lự; Ye Mi bèn tặng thêm truyện “Nhung”, như một món quà kèm theo – “hai truyện với giá một”, bà nói đùa như vậy với ông. Bộ phim có tựa đề “Mặt trời vẫn mọc” được công chiếu vào tháng 9 năm 2007 tại Trung Quốc ( và tháng 7 năm 2008 tại Pháp ): đây là một giấc mơ huyền ảo, điên rồ và rực rỡ sắc màu, đă ngay lập tức chinh phục giới phê b́nh. Mặc dù truyện ngắn của Ye Mi chỉ là một phần trong kịch bản phim, nhưng ngay lập tức nó bắt đầu lan truyền trên mạng cùng với một vài bài phỏng vấn tác giả. Ye Mi bị đẩy vào ánh đèn sân khấu, dù muốn hay không. Nếu Ye Mi trở nên nổi tiếng nhờ điện ảnh, th́ đó là v́ bà hầu như chỉ sáng tác truyện ngắn – điều khiến một nhà văn rất khó có thể trở nên nổi bật trong làng văn. Một cách rất tiêu biểu, vào tháng 5 năm 2004, bà đă xuất bản một tuyển tập truyện ngắn – “Đi đi, màu ấy đă hóa tím” – do Nhà xuất bản Liên đoàn Văn học Nghệ thuật Trung Quốc phát hành, thuộc bộ sưu tập “Vua truyện ngắn” . Bộ sưu tập này ra đời với mục tiêu nâng cao nhận thức của công chúng về thể loại văn học vốn thường bị xem nhẹ này. Kể từ đó, các sáng kiến tương tự đă xuất hiện ngày càng nhiều, nhất là trong bối cảnh tiểu thuyết dài đang lâm vào khủng hoảng. Tuy nhiên, Ye Mi cũng đă hy sinh phần nào cho sự nổi tiếng. Vào tháng 3 năm 2014, bà cho đăng trên tạp chí Thâu Hoạch (Shouhuo) một tiểu thuyết gốc mà bà đă mất sáu năm để viết – tác phẩm ấy đă gây ra nhiều tranh luận: “Một bức tranh đến từ quá khứ”. Tôi đă sống sáu năm, một ḿnh nơi thôn dă. Và trong sáu năm ấy, tôi đă viết tiểu thuyết “Một bức tranh đến từ quá khứ”. Khi gần hoàn thành tác phẩm, và theo sơ đồ đă vạch ra từ năm năm trước th́ vẫn c̣n một phần cuối cần viết, tôi bắt đầu tự hỏi nên đặt tên ǵ cho tác phẩm này. Chắc chắn, tiêu đề phải chứa hai chữ “phong lưu” (风流) [ư chỉ sự tài hoa, phong nhă, xuất chúng nhưng không theo lề thói, và mang hơi thở quá khứ]… Tôi rất biết ơn người em trai của ḿnh, một hôm đang chăm chú xem một tập tranh thời nhà Tống, đă gợi ư tôi thêm vào sau từ “phong lưu” chữ “họa quyển” (画卷 – cuộn tranh), tạo thành bốn chữ trong nhan đề cuối cùng. Tuy nhiên, đó chỉ là một trường hợp cá biệt. Bà vẫn không ngừng xuất bản truyện ngắn, hết tuyển tập này đến tuyển tập khác. Và có lẽ tác phẩm đẹp nhất mà bà từng viết chính là truyện đứng đầu tuyển tập “Những truyện ngắn hay nhất năm 2015” do Nhà xuất bản Nhân dân Liêu Ninh phát hành: truyện “An die Musik” (《致音乐》Trí âm nhạc ) Đây là câu chuyện đan xen giữa hai người đàn ông vào giai đoạn cuối của Cách mạng Văn hóa: một nhạc sĩ trở về sau quăng thời gian dài lưu lạc để quay về Bắc Kinh, và một tên trộm vặt mà ông gặp trên đường; sau một vụ xô xát ngu ngốc, tên trộm để mặc nhạc sĩ tưởng đă chết và lên đường đến Bắc Kinh thay cho ông. Cuối cùng, mỗi người lại t́m thấy hạnh phúc của riêng ḿnh theo cách hoàn toàn bất ngờ. Tiểu thuyết “Phong lưu họa quyển”, đăng trên tạp chí Thâu Hoạch, tháng 3 năm 2014. Đây là một truyện ngắn khởi đầu theo phong cách hiện thực, nhưng được viết quá đỗi tinh tế, đầy hơi ấm và xúc cảm, đến mức người ta sẵn sàng gác lại mọi đ̣i hỏi về logic hay tính xác thực. Dù sao th́, đó là thời đại đặc biệt – thời hậu “Bè lũ bốn tên” bị lật đổ. Và bà đă nhiều lần nhấn mạnh: khi ấy, mọi điều đều có thể xảy ra. Ye Mi lúc này đă đạt đến đỉnh cao trong phong cách rất riêng của ḿnh – ở ranh giới giữa giấc mơ và hiện thực. Có thể nói rằng Ye Mi sở hữu một trí tuệ kể chuyện hiếm có: các truyện của bà vừa sâu sắc vừa cuốn hút. Thế nhưng, bà lại khắc họa những con người b́nh thường, những nhân vật thoạt nh́n chẳng có ǵ đặc biệt, thuộc về tầng lớp dưới cùng trong xă hội Trung Quốc — những người mà ta thường bảo là “không có câu chuyện để kể”. Ấy vậy mà, dưới ng̣i bút của Ye Mi, không ai là tầm thường. Bà bắt đầu từ những hoàn cảnh giản đơn, những điều vụn vặt tưởng chừng vô nghĩa, rồi chỉ trong vài ḍng, đă khiến điều bất thường lộ ra từ bề mặt b́nh lặng của đời sống, điều vốn chỉ bất thường v́ chưa ai từng nh́n kỹ mà thôi. Điều nổi bật nhất ở Ye Mi, chính là bầu không khí căng thẳng thường trực mà bà tạo ra trong các truyện của ḿnh — thứ không khí, theo lời bà, cũng chính là cảm giác bà trải qua khi viết. Các nhân vật của bà phần lớn bị cuốn vào những t́nh huống mang tính phi lư, và cái phi lư ấy thường bắt nguồn từ một kẽ hở rất nhỏ trong đời sống thường nhật, rồi kéo theo những hệ quả không thể tránh khỏi. Không có ai chiến thắng, cũng chẳng có khải hoàn. Cuộc sống cứ thế tiếp diễn. Thường th́, kết thúc câu chuyện cũng bị bỏ ngỏ, như thể mọi thứ sẽ không bao giờ đổi thay, và cũng không c̣n lư do ǵ để theo dơi những nhân vật ấy nữa — những con người chẳng có vai vế, lặng lẽ biến mất khỏi trang sách, để lại sau lưng một khoảng trống vô thanh. Tất cả những nhân vật ấy, dù có vẻ như b́nh thường, thực ra chỉ trở nên đặc biệt qua cái nh́n mà Ye Mi dành cho họ, và qua cách bà diễn đạt điều đó. Phong cách trở thành yếu tố cốt lơi: một văn phong cô đọng, sắc sảo như được khắc chạm, nơi không một chi tiết nào là ngẫu nhiên, và mọi thứ đều mang ư nghĩa định mệnh, là tín hiệu báo trước số phận. Cảnh thiên nhiên hiếm khi xuất hiện, nhưng nếu có, chỉ thoáng qua, như để lột tả một tâm trạng, một sắc thái cảm xúc. Người đọc cảm nhận được một cảm giác khẩn thiết: ta bị cuốn vào câu chuyện ngay tức th́, không mào đầu, không giới thiệu dông dài — và cũng thoát ra khỏi nó một cách đột ngột, không có hồi kết rơ ràng, như thể nhân vật vừa được soi rọi dưới ánh đèn sân khấu trong một khoảnh khắc ngắn ngủi của đời ḿnh, chỉ vừa đủ để hé lộ bản chất sâu kín nhất, những rung động tinh tế nhất, trước khi họ trở lại đời sống cũ, không hề thay đổi. Thế giới văn chương của Ye Mi là một thế giới khắc nghiệt, điều này gây ngạc nhiên khi biết rằng bà sinh ra tại Tô Châu — một thành phố cổ kính, nổi tiếng với không khí thanh b́nh và hoài niệm, thường được ví như Venise của phương Đông. Tô Châu nằm ở vùng Giang Nam — “phía nam của sông Dương Tử” — nơi có khí hậu ôn ḥa, đất đai màu mỡ, sông ng̣i chằng chịt, từ lâu đời đă là miền đất trù phú, đáng sống. Nhưng thế giới trong sáng tác của Ye Mi không phải là thế giới đó. Đó là thế giới phía bắc sông Dương Tử, nơi bà đă trải qua tuổi thơ — một vùng nghèo khó và khắc nghiệt hơn rất nhiều. Điều này khiến cho văn phong của bà đôi khi mang đến cảm giác lạnh lùng gần như mang tính y học, nhưng ẩn sau sự lạnh lùng ấy là một nhân tính sâu sắc, một hơi ấm con người thấm đẫm nỗi buồn, tuy không thiếu chất thơ. Có thể nói, trong các tác phẩm của bà tồn tại một sự cộng sinh kỳ lạ với những nhân vật ít lời, một t́nh liên đới mang tính nhân văn, được thể hiện bằng sự khoan dung sâu sắc đối với những t́nh huống tưởng như phi lư nhất. Ye Mi từng giữ chức Phó Chủ tịch Hội Nhà văn tỉnh Giang Tô. Tháng 3 năm 2016, bà từ chức, cùng với nhà văn đồng nghiệp Jing Ge (荊歌). Quyết định này được đưa ra như một sự bày tỏ thất vọng trong bối cảnh các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt đối với giới văn nghệ sĩ và trí thức tại Trung Quốc. Truyện ngắn này dường như là một ví dụ hoàn hảo cho mô h́nh mà Mao Thuẫn đă xác lập vào đầu những năm 1930, trong một bài viết nổi tiếng, khi ông nêu nguyên tắc cơ bản của truyện ngắn là: “miêu tả một đoạn đời sống sao cho người đọc có thể thấy được toàn cảnh.” Ye Mi mang đến cho chúng ta ở đây một bản chắt lọc của đời sống, đồng thời là một sự châm biếm nhẹ nhàng và mỉa mai đối với những lối tư duy và sức nặng của truyền thống cũng như mê tín – những điều mà hàng thập kỷ chủ nghĩa Mao vẫn không thể xóa bỏ khỏi tâm trí con người. Bà đặt câu chuyện trong một ngôi làng nhỏ vô danh, khá tiêu biểu, được chi phối bởi một ngôi miếu nhỏ nằm trên đỉnh núi. Ngôi miếu này bằng một cách kỳ diệu đă thoát khỏi làn sóng phá hoại của Cách mạng Văn hóa và vẫn tiếp tục ảnh hưởng âm thầm đến tư duy con người nơi đây. Ye Mi nhẹ nhàng giễu cợt, với sự cảm thông sâu sắc, lối tổng hợp tạp nham của tín ngưỡng dân gian, vốn pha trộn thoải mái các yếu tố Phật giáo và Đạo giáo – tất cả cuối cùng quy về một tập hợp những “công thức” và “giáo điều” mang tính đạo đức nhưng cũng cả ẩm thực, mà bà lấy làm điểm nút trong cốt truyện. Ye Mi khiến chúng ta cảm nhận được một cách rơ ràng, như thể bằng thể xác, sức nặng của những nỗi sợ mê tín bắt nguồn từ sự phục tùng mù quáng trước uy quyền của các nhà sư và “tiếng nói của dân gian”. Vị sư mang đến tai họa trong truyện được miêu tả một cách đầy mỉa mai như một “chuyên gia về Dịch Kinh và các quẻ bói” – tinh hoa trí tuệ đạo giáo ở dạng huyền bí nhất – từ đó ông ta toát ra một thứ hào quang kỳ ảo, u ám. Các nhân vật trong truyện là những con người điển h́nh của lối tư duy pha tạp này – một kiểu tâm lư đă “Hoa hóa” cả các vị Bồ Tát, biến họ thành những thần linh mang màu sắc Trung Hoa, phổ biến qua một kho tàng h́nh ảnh tôn giáo phong phú. Có thể nhắc đến chi tiết đầy châm biếm của Ye Mi, khi bà cho nhân vật nữ chính trưng bày các bức ảnh tôn giáo trên bàn thờ, hỗn hợp các vị Bồ Tát và các vị tiên, và thêm vào đó cả h́nh ảnh của Mao Trạch Đông. Được xuất bản lần đầu vào tháng 1 năm 2007 và đoạt giải vào năm sau đó, truyện ngắn này là minh chứng cho tài năng kể chuyện của tác giả. Nhịp độ phát triển kịch tính được điều khiển một cách tuyệt vời, hoàn toàn dựa trên tâm lư nhân vật; các đoạn mô tả “ngoại cảnh” – thiên nhiên hay phong cảnh – được giới hạn ở mức tối thiểu, chỉ để thể hiện một bầu không khí nhất định ảnh hưởng đến tâm trạng nhân vật. Toàn bộ truyện thấm đẫm một chất mỉa mai dịu dàng, kéo dài cho đến tận câu kết – như một nụ cười thoáng qua cuối cùng. Truyện ngắn của Diệp Di này, vốn là cơ sở cho kịch bản bộ phim “Mặt trời vẫn mọc” (《太阳照常升起》) của Khương Văn, là một văn bản tương đối ngắn, kể lại như một mẩu chuyện đời thường về con trai của một người phụ nữ nông thôn nghèo đă phát điên—Lư Đông Phương—và mối quan hệ của cậu với một người thành thị “bị đưa về nông thôn” để “cải tạo”, Đường Vũ Lâm, cùng vợ ông ta. Nội dung này chỉ tương ứng với phần một và phần ba của bộ phim. Thoạt nh́n, truyện có vẻ mang tính tường thuật khách quan, nhưng thực chất lại vô cùng tinh tế: nó t́m cách lư giải nguyên nhân của mối quan hệ giữa vợ của Đường Vũ Lâm và Lư Đông Phương, cũng như hành động lạnh lùng bắn chết cậu bé của Đường Vũ Lâm. Tuy nhiên, tất cả những nguyên nhân mà Diệp Di đưa ra đều thuộc về phương diện tâm lư, và sức thuyết phục của truyện chỉ có được nhờ vào chiều sâu trong việc phân tích tính cách của các nhân vật. Kết thúc của truyện quay trở lại điểm khởi đầu, tạo thành một ṿng tṛn khép kín, qua đó cái chết của người con được đặt song song với hành động tự sát của người mẹ. Sự khác biệt giữa phim và truyện nằm ở sự kiện khởi đầu dẫn đến cơn điên của mẹ Lư Đông Phương. Trong truyện, đó là việc bà mất một cách khó hiểu hai cân thịt lợn vừa mua bằng những đồng tiền ít ỏi của ḿnh; c̣n trong phim, đó là việc mất đôi giày thêu. Ở trường hợp thứ nhất, t́nh huống hoàn toàn hợp lư trong bối cảnh đời sống nông thôn Trung Quốc vào cuối những năm 1960—thời điểm mà Diệp Di đặt câu chuyện. Ở trường hợp thứ hai, các biên kịch đă phải thêu dệt thêm cả một câu chuyện khác để lư giải cơn điên đột ngột của người phụ nữ; v́ thế, bộ phim chuyển sang một kiểu diễn ngôn và logic khác. Trong cả hai trường hợp, người ta không thể không khâm phục sự điêu luyện trong cấu trúc nghệ thuật. Truyện ngắn Nhung của Ye Mi là một văn bản ngắn nhưng mang chiều sâu tâm lư và triết học đặc biệt. Dưới lớp vỏ của một câu chuyện tưởng như đơn giản – một vụ ngoại t́nh dẫn đến một án mạng – tác giả đặt ra những vấn đề lớn về dục vọng, sự khác biệt nhận thức và giới hạn của ngôn ngữ. Nhân vật Đường Vũ Lâm giết Lư Đông Phương không chỉ v́ ghen tuông, mà c̣n v́ một bi kịch sâu xa hơn: sự bất lực trong việc hiểu và diễn đạt thế giới. Chính điều này đă biến câu chuyện thành một ẩn dụ về thân phận con người trong một xă hội bị chia cắt về văn hóa và kinh nghiệm sống. Từ khóa trung tâm của truyện là “nhung” . Đối với Đường Vũ Lâm, “nhung” là một khái niệm quen thuộc, gắn với đời sống đô thị, sự tinh tế và vật chất cao cấp. Nhưng đối với Lư Đông Phương – một người nông dân nghèo, lớn lên trong thiếu thốn – “nhung” là một điều hoàn toàn xa lạ, không thể h́nh dung. Bi kịch nằm ở chỗ: Đường Vũ Lâm có thể định nghĩa, nhưng không thể truyền đạt. Lư Đông Phương muốn hiểu, nhưng không có trải nghiệm để hiểu. Như vậy, “nhung” không c̣n là một chất liệu, mà trở thành biểu tượng của khoảng cách giai cấp và văn hóa. Khi Lư Đông Phương cuối cùng nói: “Nhung là làn da của Dao Mỹ Mỹ”, anh đă hiểu bằng cảm giác, không phải bằng khái niệm. Nhưng chính sự hiểu này lại dẫn đến cái chết của anh. Điều đó cho thấy: hiểu đúng chưa chắc đă cứu được con người; đôi khi, chính sự hiểu lại dẫn đến hủy diệt. Đường Vũ Lâm là một nhân vật đầy mâu thuẫn: Ông tàn nhẫn (đánh đập du côn, giết người) nhưng cũng giàu ḷng trắc ẩn (chậm giết Lư Đông Phương, cố giải thích “nhung”). Ông đại diện cho h́nh tượng “hiệp khách” trong xă hội hiện đại, nhưng đă bị biến dạng. Điều đáng chú ư là: Ông không giết ngay lập tức. Ông tŕ hoăn cái chết của Lư Đông Phương bằng một điều kiện: hiểu “nhung”. Điều này cho thấy: Đường Vũ Lâm không chỉ muốn giết — ông muốn biện minh cho việc giết. Nhưng càng kéo dài, ông càng rơi vào khủng hoảng: Ông đi khắp nơi t́m “nhung” → thất bại. Ông nhận ra sự bất lực của chính ḿnh. Cuối cùng, hành động giết người không c̣n là hành động của lư trí, mà là: một sự giải thoát khỏi bế tắc tồn tại Lư Đông Phương là một nhân vật đặc biệt: Ngây thơ, ít lời, nhưng có một nội tâm bền bỉ. Anh giống mẹ ḿnh: vừa kiên tŕ, vừa mong manh. Câu hỏi về “nhung” trở thành: một nỗ lực hiểu thế giới, một cách tŕ hoăn cái chết, một hành tŕnh nhận thức. Nhưng điều đau đớn là: anh càng hiểu, càng tiến gần đến cái chết. Khi anh nói: “Nhung là làn da của Dao Mỹ Mỹ ” đó là khoảnh khắc: anh đạt được nhận thức nhưng cũng đồng thời kư vào bản án tử của ḿnh. V́ câu trả lời đó xác nhận mối quan hệ giữa anh và Dao Mỹ Mỹ, điều mà Đường Vũ Lâm không thể chấp nhận. Dao Mỹ Mỹ là nhân vật khơi nguồn bi kịch: bốc đồng, thiếu suy nghĩ, sống theo cảm xúc. Câu nói: “Da tôi như nhung” ban đầu chỉ là một lời khoe khoang vô thức, nhưng lại trở thành trung tâm của bi kịch, nguyên nhân của một cái chết.
Điều đáng chú ư là: Dao Mỹ Mỹ không ư thức được hậu quả hành động của
ḿnh. Một điểm đặc biệt của truyện là kết luận: “Có thể nói chính Lư Đông Phương đă chọn cái chết cho ḿnh.” Đây không phải là một khẳng định đơn giản, mà là một vấn đề triết học: Lư Đông Phương có thể không hiểu → tiếp tục sống. Nhưng anh chọn hiểu : chấp nhận chết. Điều này đặt ra một nghịch lư: tri thức có thể nguy hiểm hơn vô tri. Trong thế giới của Ye Mi: sống sót đôi khi đ̣i hỏi không hiểu quá nhiều, c̣n hiểu rơ có thể dẫn đến tự hủy diệt. Nhung không chỉ là một câu chuyện về ngoại t́nh và giết người. Nó là một ẩn dụ sâu sắc về: khoảng cách giữa các tầng lớp xă hội, giới hạn của ngôn ngữ, bi kịch của sự hiểu biết và bản chất mâu thuẫn của con người. Biểu tượng “nhung” đă vượt ra khỏi ư nghĩa vật chất để trở thành: Ranh giới giữa sống và chết, giữa hiểu và không hiểu, giữa con người với con người. Qua đó, Ye Mi cho thấy một chân lư lạnh lùng:
Con người không chỉ đau khổ v́ không hiểu nhau —mà đôi khi c̣n bị hủy
diệt
chính bởi nỗ lực để hiểu nhau.
Vào thời ấy, có một người phụ nữ nông thôn vô cùng nghèo khổ. Những khoảnh khắc hạnh phúc hiếm hoi mà bà c̣n nhớ từ thuở nhỏ không phải là ngày lấy chồng, cũng không phải lúc sinh con, mà là vài lần hiếm hoi được ăn thịt kho nước tương. Người phụ nữ này thực sự nghèo đến cực điểm. Trên chiếc giường kang của ḿnh ( một loại giường truyền thống vùng Bắc Trung Quốc, làm bằng gạch mùa đông được nung nóng lên, rồi trải chiếu và mền lên ) bất kể mùa nào, bà chỉ có một tấm chăn mỏng rách nát, và dưới tấm chăn ấy là một chiếc chiếu đan bằng cói. Bà có một đôi giày vải sạch sẽ, tươm tất, chỉ mang vào những dịp lễ để đi thăm họ hàng, bạn bè — nhưng lại đi chân trần v́ không có tất. Và dĩ nhiên, những thứ như bàn chải đánh răng, kem đánh răng hay kềm cắt móng tay th́ càng không thể mua nổi. Câu chuyện diễn ra ở Trung Quốc năm 1967 — chưa xa đến mức người ta có thể quên. Vấn đề không phải là bà nghèo, mà là những lời đàm tiếu mà một người đàn bà khác nói sau lưng rồi đến tai bà: “Đến một đôi tất cũng không có, chẳng lẽ tưởng ḿnh sẽ thành tiên đi chân trần hay sao?” Bà là người có cá tính và ḷng tự trọng. Bà từng tham gia lớp học xóa mù chữ, và học được đôi điều, chẳng hạn như trái đất có h́nh bầu dục, quay măi trong vũ trụ như một quả trứng gà; rằng Mao Trạch Đông là vị cứu tinh vĩ đại của nhân dân; rằng Đảng Cộng sản hết ḷng cứu nước Trung Hoa, v.v… Nhưng có nhiều điều mà những lớp học ấy không dạy, chẳng hạn như cách xử lư các mối quan hệ giữa người với người. Không phải bà xem nhẹ những lời đàm tiếu kia, nhưng bà cũng không thể đi căi nhau với mụ lắm điều ấy. Vấn đề là bà không có tiền để mua tất. Nghĩ đi nghĩ lại măi, cuối cùng bà nảy ra một ư. Lúc ấy là mùa đông, Tết đă qua. Con trai bà đang học lớp hai trung học phổ thông; nó mười tám tuổi, học giỏi, đến mức một bạn nữ cùng lớp đă tặng nó một cây bút máy. Chỉ vài ngày nữa, nó sẽ lên lớp trên. Người mẹ gọi con lại và nói: “Nếu con học xong trung học th́ định làm ǵ? Mười tám tuổi rồi, phải đi làm để kiếm công điểm giúp gia đ́nh. Năm ngoái có một bạn cùng lớp của con, học cũng chẳng hơn con là mấy, đă nghỉ học đi làm, giờ c̣n đính hôn rồi.” Bà vốn luôn giữ tiền để đóng những khoản học phí ít ỏi cho con, nhưng lần này đánh liều, bà ra chợ. Ở đó có cửa hàng duy nhất trong bán kính hơn năm cây số, tên chính thức là “Hợp tác xă cung ứng và tiêu thụ X”, nhưng mọi người chỉ gọi đơn giản là “hợp tác xă”. Nhân viên ở đó ai nấy đều ra vẻ quyền lực như cán bộ Đảng. Bà hỏi mua một đôi tất sợi acrylic màu xám đậm; vừa xem xét kỹ lưỡng, bà vừa nghĩ: nếu mua, chỉ là để có như người ta, và chỉ thỉnh thoảng mang vào dịp lễ. Rồi bà đặt chúng xuống, thong thả đi một ṿng quanh cửa hàng, sau đó lại đi dạo một ṿng chợ. Khi bà đi hết một lượt, trời đă chạng vạng mà bà không hay. Bỗng nhiên bà nhận ra chợ gần như vắng tanh, và bà cảm thấy choáng váng, đầu óc như bị những tiếng đập hỗn loạn dồn dập. Bà nghĩ ḿnh phải về lo cho gia đ́nh, và thầm xin lỗi đứa con trai thông minh, ngoan ngoăn mà bà sinh ra—trong khi chính bà lại nghèo khổ và ngu dốt. Và rồi, bà đột ngột đưa ra một quyết định: bà mua hai cân thịt lợn. Bi kịch xảy ra như sau: khi về đến làng, bà ghé vào nhà vệ sinh một lát, trước khi vào th́ buộc miếng thịt vào một cái cọc bên ngoài; nhưng khi bước ra, miếng thịt đă biến mất. Chỉ có bà là vẫn c̣n đứng đó. Từ đó, bà bắt đầu một “nhiệm vụ nặng nề”: đ̣i lại công lư cho hai cân thịt bị mất. Bỏ bê công việc và bếp núc, gần như quên ăn quên uống, bà đứng trước cửa nhà, ngày nào cũng chửi rủa kẻ đă lấy trộm thịt của ḿnh. Những người phụ nữ trong làng cố gắng khuyên nhủ bà, nói rằng ai cũng tin bà đă mua thịt, nhưng có thể một con chó đói nào đó đă tha đi. Thế là bà quay sang chửi chó; nghe bà chửi, cứ như đang mắng người, mà c̣n thô tục hơn. Lần này, không ai c̣n cố khuyên bà nữa, v́ mọi dấu hiệu đều cho thấy bà đă phát điên. Trái lại, con trai bà lại gặp may hơn. Sau khi về làng làm ruộng, anh trở thành kế toán của đội sản xuất: cô bạn học đă tặng anh cây bút máy là con gái thứ ba của bí thư đội. Cô có bệnh tim nhẹ, hơi hen suyễn và bị lác mắt, nhưng anh vẫn cưới cô. Nhờ đó, mới ngoài hai mươi tuổi, anh đă trở thành đội trưởng, phụ trách hơn bốn mươi hộ gia đ́nh, tức hơn hai trăm con người. Trong truyện “Sợi dây của Tư Mă”, tôi đă kể rằng sau đó, rất nhiều người từng “bị đưa về nông thôn” bắt đầu quay trở lại thành phố. Gia đ́nh chúng tôi cũng nằm trong số đó, và sau vụ xét xử chú Đường, vợ ông dẫn theo các con trở về… Chú Đường chính là người đă giết con trai của người phụ nữ nghèo ấy. Người ta kể rằng sự việc diễn ra như sau: đội trưởng sản xuất có quan hệ t́nh cảm với vợ của người tên Đường; người chồng đă dùng súng săn bắn chết đội trưởng. Chú Đường tên là Đường Vũ Lâm. Ông nội bên nội của ông là một Hoa kiều ở Indonesia; theo lời kể, khẩu súng săn ấy là một phần di sản để lại. C̣n vợ của Đường Vũ Lâm tên là Dao Mỹ Mỹ; khi sinh ra, cô đă có năm người anh trai, là con gái duy nhất trong nhà. Cha mẹ vừa vui mừng vừa tức giận, nên đơn giản đặt tên cô là “Mỹ Mỹ” (nghĩa là “em gái nhỏ”). Gần bốn mươi tuổi, cô vẫn mang cái tên ấy; lúc th́ hờn dỗi, lúc lại làm duyên, khi th́ bướng bỉnh. Khuôn mặt tṛn trắng của cô luôn mang vẻ trầm tư; nhưng cái vẻ quan sát ấy thực chất là để không bỏ lỡ bất kỳ dịp nào để cười vang sảng khoái. Cô lấy chồng khá muộn. Khi này cô đă ba mươi chín tuổi, c̣n con gái mới chín tuổi; đứa bé thích buộc nơ xanh ở hai bím tóc ngắn, mà người mẹ cũng thích như vậy, và cũng thích màu xanh. V́ thế, cô đề nghị với con: “Con yêu, nơ là dành cho người lớn, mẹ sẽ buộc cho con một dải ruy băng đỏ to trên đầu.” Cô bé không chịu, gọi cha đến. Người cha cố khuyên vợ: “Hay là đổi lại đi, để con bé đeo nơ xanh, c̣n em th́ buộc ruy băng đỏ.” Nhưng Dao Mỹ Mỹ không đồng ư. Sau một hồi căi vă vô ích, Đường Vũ Lâm tức giận tát cô hai cái thật mạnh. Dao Mỹ Mỹ ̣a khóc, khóc măi không dứt; cha mẹ cô tập tễnh chạy đến, ngồi trong pḥng khách, vừa rên rỉ vừa lau nước mũi: “Ôi, nuôi con gái đâu có dễ! Sinh nó ra cũng chẳng dễ! Chúng tôi c̣n chẳng nỡ đánh nó, vậy mà giờ giao cho người khác, lại bị tát như thế này!” Rồi năm người anh của cô cũng kéo đến. Mỗi khi có khách, Đường Vũ Lâm thường giới thiệu vợ và con gái: “Đây là con gái lớn của tôi, c̣n đây là con gái nhỏ của tôi.” Đường Vũ Lâm, Tư Mă và cha tôi là những người bạn chơi thân thiết. Ba người họ đều là “anh hùng” trong ṣng bài, mỗi người một kiểu: Tư Mă là anh hùng trí tuệ, cha tôi là anh hùng nghĩa hiệp, c̣n Đường Vũ Lâm là anh hùng kiểu hiệp khách. Ông nóng tính, cứng rắn, không nhượng bộ ai—trừ với vợ—và không sợ bất kỳ ai. Đôi khi ông mang theo cả súng săn đến chơi, khiến những con bạc nhỏ thấy ông là tránh xa, không dám quỵt tiền, càng không dám gian lận. Khoảng năm 1969, khi phong trào “đưa về cơ sở” bắt đầu, ba người họ hẹn với nhau rằng từ đó về sau, mỗi năm vào chiều mùng Một Tết, họ sẽ tụ họp, chơi suốt đêm, và sáng hôm sau tám giờ mới giải tán. Để đến gặp bạn bè và chơi suốt đêm, Đường Vũ Lâm phải đạp xe hơn một tiếng rưỡi trong cái rét cắt da. Thời gian ấy là b́nh thường—chưa tính những lúc dừng lại trên đường để săn bắn. Khi ấy, h́nh ảnh của ông thật khó quên: súng đeo vai, mặt đỏ bừng, mắt sáng, mồ hôi chảy dọc hai bên thái dương, phía sau xe buộc đầy quà Tết, trong đó c̣n có cả thú săn được bất ngờ. Mỗi khi thấy ông từ xa, chúng tôi liền nở nụ cười rạng rỡ. Ông luôn mang theo hạt bạch quả trong túi, dạy chúng tôi vùi vào tro nóng để nướng rồi ăn khi hạt nổ bung. Có lần, ông nói rất nghiêm túc rằng tiếng hạt nổ nghe giống hệt tiếng ông… đánh rắm. Thế là chúng tôi ném hết hạt đi, lao vào đánh ông một trận cho đến khi ông phải xin tha. Tóm lại, ông hoàn toàn không giống một kẻ giết người. Năm mà Dao Mỹ Mỹ theo chồng “về nông thôn” cũng chính là năm cô tṛn bốn mươi tuổi. Cô không hề buồn bă, nhưng nghĩ rằng từ nay sẽ phải thích nghi nhiều. C̣n Đường Vũ Lâm th́ trầm lặng; nơi này quá nghèo, một kiểu yên tĩnh như chết chóc, nhưng ông lại thích cái tĩnh lặng ấy—một cảm giác trống rỗng. Ông đi theo người dẫn đường, b́nh thản quan sát những người dân địa phương gặp trên đường, bằng ánh mắt giống như khi ông đánh giá đối thủ lúc chơi bài. Ông nhận ra ḿnh đă bước vào một thế giới hoàn toàn xa lạ. C̣n về phía Dao Mỹ Mỹ, dần dần, cô gặp con trai của người phụ nữ nghèo. Người phụ nữ ấy tên là Lư Dương Thị, c̣n con trai bà tên là Lư Đông Phương. Sau nhiều năm điên loạn, suốt ngày chửi bới, đúng vào ngày Đường Vũ Lâm cùng gia đ́nh đến làng, bà bất ngờ tỉnh táo trở lại. Không biết trạng thái tỉnh táo này sẽ kéo dài bao lâu, bà vội vàng chải tóc, rửa mặt, đi giày, rồi chạy ra sông gieo ḿnh xuống. Nơi bà nhảy xuống lập tức trở nên náo loạn. Người ta kéo đến đông nghịt, ai cũng la lên: “Chết rồi, chết rồi, hết cứu rồi!” Bỏ lại Đường Vũ Lâm và gia đ́nh, người dẫn đường chạy đi xem, rồi quay lại nói: “Là mẹ của đội trưởng chết rồi. Bà ấy mất hai cân thịt lợn nên phát điên. Nghe nói hôm nay bà ấy tỉnh táo, chải đầu, rửa mặt, đi giày, rồi ra sông nhảy xuống. Không hiểu sao lại phải rửa ráy làm ǵ—đằng nào cũng định chết.” Chính trong hoàn cảnh đó, Đường Vũ Lâm nh́n thấy Lư Đông Phương, và Lư Đông Phương nh́n thấy khẩu súng của ông. Cậu sững sờ, trong mắt thoáng hiện vẻ thất vọng; cậu chưa từng thấy một khẩu súng thật—nó hoàn toàn khác với những khẩu súng Nhật cũ mà dân quân địa phương dùng để tập luyện. Đó là một thứ ǵ đó tuyệt đẹp, biểu tượng của một sự giàu có xa lạ chỉ tồn tại ở thành phố, nhưng cũng mang chút ǵ đó đáng sợ—mà cậu không biết phải diễn tả ra sao. Làn da sạm đen, Lư Đông Phương gầy đến mức người ta có cảm giác ống tay áo và ống quần của cậu như trống rỗng; v́ không có mông, đôi vai rộng khiến dáng người cậu hiện lên thành một h́nh chữ T kỳ lạ, cứng đờ, như một tuyến pḥng thủ. Thế nhưng ánh mắt của cậu lại không mang vẻ pḥng bị; đôi mắt dài và hẹp ấy biểu lộ một sự nghiêm túc sâu sắc — phản ánh một thái độ cẩn trọng đối với mọi việc, nhưng đồng thời cũng không phải kiểu hay đặt câu hỏi. Đôi mắt với con ngươi sáng, hơi xếch về phía thái dương, khiến người ta liên tưởng đến một loài động vật ăn cỏ hiền lành. Hơn nữa, biểu cảm của cậu thay đổi theo hoàn cảnh bên ngoài, tạo cảm giác như một đứa trẻ ít suy nghĩ. Chính trong hoàn cảnh ấy, Đường Vũ Lâm đă gặp Lư Đông Phương lần đầu. Nói thật, Đường Vũ Lâm có phần khinh thường người đội trưởng này, nhưng ông hiểu rằng không thể để lộ cảm xúc ấy. Ông rất từng trải, biết cách làm chủ mọi t́nh huống, và tuyệt đối không bao giờ làm tổn thương người khác một cách vô ích. Nhưng Dao Mỹ Mỹ th́ lại rất giỏi làm tổn thương người khác. Cô vừa bịt mũi vừa nói: — Có ǵ mà ầm ĩ thế? Mẹ tôi vẫn nói, mấy người này chỉ giỏi làm chuyện bé xé ra to. Anh xem đi, có hai cân thôi… hai cân… chứ đâu phải hai trăm cân.
Con gái cô hỏi: Dao Mỹ Mỹ đáp: — Hai cân là một cân cộng một. Rồi cô bật cười phá lên. Câu trả lời ấy quả thật buồn cười đến mức không nhịn được. Nhưng Đường Vũ Lâm vẫn lạnh lùng, nghiêm giọng nói: — Dao Mỹ Mỹ, khi người ta gặp chuyện không may th́ không có ǵ đáng cười cả. Làm vậy sẽ khiến họ bị tổn thương. Chúng ta bị đưa xuống đây là để được người dân giáo dục lại. Mùa đông, c̣n ǵ hay hơn để giết thời gian? Ăn no, mặc ấm, những ngày không có gió th́ ngồi phơi nắng, ăn hạt hướng dương do Dao Mỹ Mỹ rang, uống trà xanh ngon nhất mang từ Tô Châu, nghe con gái hát những bài đồng dao giản dị. Đường Vũ Lâm dần thích nghi với sự sa sút đáng kể của đời sống, nhưng ông hiểu rằng một cuộc sống nhàn rỗi như thế có thể gây ra vấn đề. Khi Lư Đông Phương đi làm, cậu thường ṿng qua trước cửa nhà họ Đường, nhưng không nói ǵ, thậm chí không quay đầu lại, chỉ để lộ tấm lưng thẳng đơ. Là đội trưởng, cậu có thể trở thành một nguồn rắc rối, nên Đường Vũ Lâm biết ḿnh phải ḥa hợp với cậu. Ngày tang lễ của mẹ cậu, ông đến chia buồn. Ông mang theo khẩu súng săn trên vai, như một hiệp sĩ trong truyền thuyết, bước đến ngồi xuống bàn. Đám đông xung quanh lặng lẽ dạt ra như thủy triều rút, để lại Lư Đông Phương trơ trọi trước mặt ông. Tất cả diễn ra rất nhanh, và hai người đàn ông bỗng đối diện nhau trong khoảng trống ấy, khẩu súng đặt giữa họ. Đột nhiên, không hẹn mà cả hai cùng nở một nụ cười, mỗi người mang một ư nghĩa riêng; chính sự bối rối bất chợt ấy lại trở thành khởi đầu cho một sự giao tiếp thân thiện. Hôm đó, Đường Vũ Lâm thu hoạch được khá nhiều: một nụ cười ngập ngừng nhưng thiện chí của Lư Đông Phương, cùng một con thỏ và một con gà lôi nhiều màu sắc. Ông ném chiến lợi phẩm xuống chân Dao Mỹ Mỹ và nói: — Đi, ướp muối rồi treo lên nơi có gió. Vài ngày nữa mời Lư Đông Phương đến ăn cơm. Cảnh Lư Đông Phương đến ăn đáng để kể lại. Cậu mặc một chiếc áo khoác mới và đôi giày quân giải phóng sạch sẽ. Hai tay để sau lưng, đầu cúi xuống, đôi vai gầy nhưng rất thẳng, cậu đứng trước cửa nhà họ Đường, gọi nhỏ: — Đường! Đường Vũ Lâm, vợ và con gái đang bận trong bếp nên không nghe thấy. Đứng trước cửa, Lư Đông Phương chậm răi quay đầu nh́n quanh, rồi không hiểu sao đột nhiên cảm thấy sợ hăi, liền chạy ṿng ra phía sau nhà. Một lúc sau, cậu dường như thư giăn lại; một làn thư thái lan từ cổ xuống toàn thân, khiến cậu từ từ ngồi xổm xuống, mắt nh́n chằm chằm vào mấy cây lau bên bờ sông chưa bị chặt. Đường Vũ Lâm và Dao Mỹ Mỹ lần lượt ra cửa nh́n, đă quá giờ ăn trưa, Đường Vũ Lâm bắt đầu lo lắng. Dao Mỹ Mỹ nói: — Không phải cậu ta nhảy xuống sông rồi chứ? Đường Vũ Lâm vừa định trách th́ nghe tiếng reo vui của con gái: — Con t́m thấy rồi! Cô bé kéo tay Lư Đông Phương từ phía sau nhà ra. Hai vợ chồng bật cười lớn. Bữa ăn giúp Đường Ngọc Lâm đạt được một thỏa thuận với Lư Đông Phương: ông tạm thời được miễn lao động, đổi lại sẽ giúp đội giáo dục xử lư một số phần tử xấu hay lang thang ngoài chợ, uống rượu, cờ bạc, gây rối trật tự. Trong bữa ăn, Dao Mỹ Mỹ uống nhiều hơn hai người kia. Say khướt, cô ghé sát Lư Đông Phương than thở: — Nói thật với anh, tôi muốn rời khỏi đây. Tôi là người thẳng thắn, nói thật, v́ từ nhỏ được gia đ́nh chiều chuộng nên tôi tự tin lắm, không sợ làm mất ḷng ai. Tôi xuất thân khá giả, chưa từng chịu khổ. Anh là nông dân, tôi là công nhân. Mà nông dân với công nhân th́ phải chân thành. Vậy nên tôi nói thật nhé, chỗ này của các anh đúng là cái nơi khỉ ho c̣ gáy, chẳng có ǵ cả. Tôi cá là anh chưa từng thấy bánh bao hấp kiểu Thượng Hải, hay bánh tôm chiên. Bị cuốn hút, Lư Đông Phương hỏi: — Bánh tôm chiên là thế nào? Đường Vũ Lâm chưa bao giờ kiểm soát được Dao Mỹ Mỹ. Ông đứng dậy, nói với đội trưởng đang vui vẻ: — Khi cô ấy nói kiểu này, đáng lẽ phải bắn chết. Tôi giao cô ấy cho anh cải tạo, tôi phải đi đây. Cầm súng, ông đi vội ra ngoài. Đến chiều tối mới quay về, tay không. Dao Mỹ Mỹ đă ngủ trong pḥng, khuôn mặt tṛn ửng hồng trong giấc ngủ. Lư Đông Phương vẫn ngồi trong bếp, vẻ mặt đờ đẫn. Thấy Đường Vũ Lâm trở về, cậu không biểu lộ ǵ, đứng dậy rồi đi. Đường Vũ Lâm ra ngoài hỏi con gái đang chơi: — Mẹ con chiều nay làm ǵ? — Không có ǵ đặc biệt — đứa bé đáp.
Trong bộ ba gồm Đường Vũ Lâm, Tư Mă và cha tôi, cha tôi là người lương thiện, Tư Mă là người trí tuệ, c̣n Đường Vũ Lâm là kẻ hiệp sĩ. Trong ba người, chỉ có kẻ hiệp sĩ là mang một tính cách hai mặt: một mặt, ông khiến người khác khiếp sợ bởi sự tàn nhẫn không khoan nhượng; mặt khác, ông lại luôn thể hiện ḷng trắc ẩn sâu sắc đối với những người bất hạnh. Đường Vũ Lâm đă thực hiện đúng thỏa thuận với Lư Đông Phương: ngày nào ông cũng ra chợ một ṿng. Đám du côn quả thực rất khó quản lư, nhưng Đường Vũ Lâm có nhiều mưu mẹo; chỉ trong vài ngày, ông đă khuất phục được chúng và khiến chúng không c̣n quấy nhiễu cuộc sống của dân làng nữa. Thực ra, ông đă dùng bạo lực, trút cơn giận lên chúng. Ông đặt khẩu súng sang một bên, tuốt lá khỏi vài cành liễu, rồi quật chúng tới tấp vào mông, đánh đến khi chúng hoảng loạn chạy tán loạn khắp nơi. Sau đó, ông lại dạy chúng cách sử dụng súng, kể cho chúng nghe những câu chuyện về thành phố, nói cho chúng biết về chi tiêu ăn mặc, rồi c̣n nấu cho chúng những món như vịt hoang kho x́ dầu, gà lôi hầm dưa hấu, và đủ thứ khác. Nhờ vậy, chỉ trong chưa đầy nửa năm, ông đă trở thành khách quen của gia đ́nh những tên du côn ấy. Họ cùng nhau làm rất nhiều việc: đi săn, vui chơi, tṛ chuyện, và cho rằng cuộc gặp gỡ này là một may mắn hiếm có. Đường Vũ Lâm nói với chúng: — Thỉnh thoảng, tôi là bạn của các cậu… Bọn du côn lập tức đồng thanh: — Bạn! Ông lại nói: — Thỉnh thoảng, tôi là cha già của các cậu… Chúng cũng lặp lại: — Cha già! Rơ ràng, Đường Vũ Lâm t́m thấy niềm vui lớn trong mối quan hệ đa tầng ấy; nếu không, sao ông lại thường xuyên ở ngoài mà quên cả việc về nhà, quên cả hạt hướng dương rang của Dao Mỹ Mỹ hay trà xanh từ Tô Châu? V́ thế, Dao Mỹ Mỹ cảm thấy bị bỏ rơi. Và chính lúc ấy, cô đă phải ḷng Lư Đông Phương. Đây là một điều tưởng như hoàn toàn không thể, phi lư đến mức khiến người ta nghi ngờ cả trí tuệ của ḿnh. Nhưng chuyện như vậy không phải lần đầu xảy ra, và chắc chắn cũng không phải lần cuối. Nó khiến người ta suy nghĩ rất nhiều; nh́n lại, giống như một thử thách đối với lư trí. Điều duy nhất có thể nói là: nó không b́nh thường. Đầu mùa hè, một ngày nọ, Đường Vũ Lâm như thường lệ mang súng đến nhà một tên du côn. Ngồi dưới gốc cây tử đinh hương Ấn Độ trước nhà, ông uống rượu và chơi tṛ kéo búa bao đến tận nửa đêm. Khi cảm thấy hơi sương bắt đầu rơi, ông nói: — Thôi, dừng lại, tôi về đây. Bọn du côn giữ lại: — Ông không nói là tối nay ở lại ngủ sao? Đường Vũ Lâm ngạc nhiên: — Tôi nói khi nào? Chúng đồng thanh: — Ông có nói. Ông suy nghĩ một lúc nhưng không nhớ ra, rồi dứt khoát đứng dậy: — Không, tôi không nói. Tôi về. Nói xong, ông bỏ đi. Bọn du côn đi theo, nài nỉ: — Ở lại đi, cha già! Ngủ một chút thôi, trời sắp sáng rồi, không lâu đâu, rồi ông về cũng được. Nhưng Đường Vũ Lâm không nghe. Ông chỉ muốn về nhà thật nhanh. Bỗng ông nghĩ rằng thế giới rộng lớn này khiến con người dễ sinh ra những ư nghĩ điên rồ. Ông bước nhanh, cảm thấy phía sau có điều ǵ đó lạ. Quay lại, ông thấy bọn du côn đang lặng lẽ đi theo, như một bầy ma — chẳng trách không nghe thấy tiếng động. Ông nổi giận, giơ súng đe dọa. Nhưng lần này, chúng không bỏ chạy như thường lệ. — Được rồi, cha già, chúng tôi không tiễn nữa. Nhưng ông đi cẩn thận, chậm thôi nhé. Ngày mai nhớ quay lại uống rượu. Sương mù dày dần, phủ kín con đường, bao lấy chân ông. Xung quanh là những cánh đồng lúa ḿ ướt đẫm. Những mầm non căng nước, thức giấc giữa đêm, tỏa ra một mùi hương kỳ lạ. Có gió nhẹ, không đủ xua tan sương mù, nhưng đủ làm lạnh khuôn mặt ông. Ông về đến nhà. Đó là một căn nhà tranh ba gian, đông ấm hè mát. Gian ăn ở phía tây, giường nhỏ của con gái ở giữa, c̣n giường lớn của hai vợ chồng ở phía đông. Đó là thiên đường của ông. Nhưng từ thiên đường ấy vang ra những âm thanh lạ — đó chính là lư do bọn du côn đă đi theo ông một đoạn dài. Đường Vũ Lâm đứng sững trước cửa sổ, chết lặng. Ông nghe thấy hai câu nói. Một câu của Dao Mỹ Mỹ: — Chồng tôi nói da tôi mịn như nhung. Một câu của Lư Đông Phương: — Tôi muốn làm giấy vệ sinh cho em. Ông đặt khẩu súng dưới cửa sổ, rồi đi sang nhà hàng xóm, nơi có một đống rơm cũ. Ông ngồi xuống, co người lại. Ông hối hận v́ đă về nhà — b́nh thường sau nửa đêm ông vẫn ngủ lại nơi khác. Khi tỉnh dậy th́ trời đă sáng. Ông lê bước trở về nhà. Dao Mỹ Mỹ đang nấu cháo trong bếp. Ông ngồi xuống bên cạnh, đặt súng vào tường, nói: — Lại đây. Cô liếc ông: — Không. Ông nói lại: — Lại đây. Cô vẫn từ chối: — Không. Ông hỏi: — Hay là cô có lư do chính đáng hơn tôi? Không nh́n ông, cô đáp: — Tôi phải nấu xong nồi cháo. Ông nói: — Được, tôi đợi. Nhưng xong rồi, tôi sẽ đánh cô một trận. Cô đáp: — Được. Một lúc sau, cô nấu xong. Cô dọn rau muối và đũa ra trước mặt ông, rồi bưng một bát cháo đầy, nóng hổi bằng hai tay. Đến trước mặt ông, cô quỳ xuống, đặt bát lên bàn, ngẩng đầu nói: — Đánh đi. Đánh xong, cả hai chúng ta sẽ dễ chịu hơn. Đường Vũ Lâm nghĩ: nếu muốn sống với người đàn bà này, th́ tốt nhất nên từ bỏ hy vọng về một cuộc sống b́nh thường. Một người phụ nữ đẹp có thể hủy hoại một người đàn ông; c̣n người phụ nữ ngốc nghếch này có thể hủy hoại hai người. Ông vuốt mái tóc rối của cô và nói trầm giọng: — Cô đă đẩy một người đến chỗ chết. Người hiệp sĩ Đường Vũ Lâm, một tay đỡ Dao Mỹ Mỹ dậy, đặt cô ngồi lên đùi ḿnh; tay kia cầm bát cháo uống cạn một hơi. Sau đó, ông đẩy bát sang một bên, đẩy cô ra, cầm súng và bước ra ngoài. Đường Vũ Lâm đă chờ suốt ba ngày trên con đường mà Lư Đông Phương buộc phải đi qua. Đến ngày thứ tư, Lư Đông Phương xuất hiện: hai tay không, khuôn mặt tiều tụy, ống tay áo và ống quần trông c̣n trống rỗng hơn trước, thân h́nh chữ T dường như cũng thấp bé đi một chút. Thật lạ, đối diện với khẩu súng săn, anh vẫn giữ được b́nh tĩnh; đôi mắt vẫn sáng, nhưng không c̣n như trước nữa: trước kia, ánh sáng ấy là sự nghiêm nghị, c̣n bây giờ lại phản ánh một trạng thái suy kiệt v́ thiếu ăn. Đường Vũ Lâm biết rằng ba ngày là đủ để người con của kẻ điên này t́m ra cách sinh tồn — anh ta c̣n ham sống hơn mẹ ḿnh nhiều. Đường Vũ Lâm hạ súng xuống, để anh ta nói. Lư Đông Phương nói với giọng không hèn nhát, không kiêu ngạo, không lạnh nhạt cũng không xúc động — không có ǵ để Đường Vũ Lâm có thể chê trách. “Tôi phải chết,” anh nói, như thể đang nói về một chuyện không liên quan đến ḿnh, “nhưng có một điều tôi không hiểu, và điều đó khiến tôi không thể chết thanh thản.” Đường Vũ Lâm gật đầu. Lư Đông Phương tiếp tục, không đổi sắc mặt: “Nhung là ǵ?” Đường Vũ Lâm lại giương súng lên:
“Nhung là một loại vải.” “Đó là một loại vải rất mịn, hơi giống cỏ thấp, hoặc bột ḿ.” Lần này, trên khuôn mặt Lư Đông Phương hiện lên vẻ bối rối quen thuộc — sự bối rối trước thực tại, thứ mà anh thường không thể che giấu trong cuộc sống hằng ngày. Đường Vũ Lâm nghĩ: đây đúng là một mưu kế — nhưng là một mưu kế khác thường. Nó dựa trên một điều không thể xem nhẹ: không thể giết một người mà c̣n mang theo những tiếc nuối thật sự. Nhất là một người có một người mẹ như thế. Đường Vũ Lâm hạ súng xuống, gật đầu. Lư Đông Phương chậm răi rời đi. Vấn đề lúc này là: Đường Vũ Lâm phải làm cho Lư Đông Phương hiểu được “nhung” là ǵ. Nếu anh ta không hiểu, kế hoạch của Đường Vũ Lâm sẽ bị tŕ hoăn vô hạn. Ông vác súng lên vai và trở về nhà. Ông chưa từng hối hận điều ǵ. Dân làng nhanh chóng nhận ra vẻ u ám của cả hai người. Có người hỏi Lư Đông Phương: “Anh đang làm ǵ vậy?” Anh đáp, giọng nặng nề: “Tôi đang suy nghĩ.” Có người hỏi Đường Vũ Lâm: “C̣n ông?” Ông đáp, vẻ khó chịu: “Tôi cũng đang suy nghĩ.” V́ thế, mọi người đều cho rằng Dao Mỹ Mỹ chính là nguyên nhân khiến hai người suy nghĩ như vậy. Một tháng trôi qua. Đường Vũ Lâm biết rơ rằng Lư Đông Phương không có cách nào thực sự hiểu được “nhung” là ǵ. V́ thế, anh vượt qua nỗi sợ cái chết, dồn hết tâm trí vào việc t́m một thứ tương tự. Ở một khía cạnh nào đó, anh rất giống mẹ ḿnh: vừa kiên tŕ vừa mong manh, ranh giới giữa hai điều đó cực kỳ mong manh — đến mức họ vừa tự bảo vệ, vừa tự hủy diệt chính ḿnh. Đường Vũ Lâm hiểu điều này. Ông thương hại Lư Đông Phương — nhưng đồng thời, ông cũng không c̣n lựa chọn. Thêm một tháng nữa trôi qua. Trời bắt đầu oi nóng. Một buổi chiều , Đường Vũ Lâm đứng trước nhà, nh́n hoàng hôn buông xuống. Bầu trời phía tây không ngừng đổi màu: từ cam đỏ sang vàng cam, rồi sang hồng đỏ, tím, xanh tro, xám tro — như những cái liếc mắt thoáng qua. Khói bếp dâng lên, biểu hiện của những khát vọng đơn giản của con người. Mỗi cây trồng, mỗi thân cây, mỗi bụi cỏ mọc lên từ đất đều toát ra hơi thở của sự sống. Cuộc sống thật đơn giản — nhưng đồng thời cũng vô cùng rộng lớn, sâu thẳm và lay động ḷng người. Cũng tối hôm đó, Đường Vũ Lâm lên đường đến Tô Châu. Quyết tâm của ông ngày càng lung lay; nếu không hành động, có lẽ ông sẽ không bao giờ giải quyết xong chuyện với Lư Đông Phương. Ở Tô Châu, không cửa hàng nào có thứ ông cần. Ông đi Thượng Hải — nơi có họ hàng từng giàu có, nơi ông từng thấy nhung trong tay phụ nữ. Nhưng cũng không có. Ông tiếp tục đến Bắc Kinh, t́m người quen trong giới quan chức. Tất cả đều nói: loại vải ấy cực kỳ hiếm, chỉ những quan chức cấp cao mới có thể mua, với tem phiếu và giấy tờ đầy đủ. Ông trở về tay không. Chỉ mang theo vài dải lụa cho tóc Dao Mỹ Mỹ, một con búp bê vải cho con gái, và vài chai rượu cho đám du côn. Khi về đến nơi, trời nhá nhem tối. Ông thấy Lư Đông Phương đang chăm luống rau sau nhà. Ông cầm súng và đi đến. Dao Mỹ Mỹ đi theo một đoạn rồi dừng lại. Hai người đối mặt. Lư Đông Phương ngồi xổm, nh́n ông như thể ông từ trên trời rơi xuống. Đường Vũ Lâm hỏi: “Tôi đă đi khắp nơi mà vẫn không t́m được. Vậy giờ làm sao?” Lư Đông Phương đứng dậy chậm răi, nói: “Không cần t́m như thế. Tôi đă hiểu rồi.” “Nhung là ǵ?” “Là làn da của Dao Mỹ Mỹ.” Đường Vũ Lâm lập tức giương súng và bóp c̣. Lư Đông Phương chết ngay tại chỗ. Ông cuối cùng đă t́m được cơ hội hành động — và biết rằng nếu bỏ lỡ, có lẽ sẽ không bao giờ có lại. Sau đó, Đường Vũ Lâm bị bắt và vẫn đang ở trong tù, chịu đựng những đêm dài vô tận. Mỗi năm, vào dịp Tết, cha tôi lại nhớ đến ông — buồn như một người vợ không bao giờ nguôi ngoai. Và câu hỏi đặt ra là: Nếu Lư Đông Phương không hiểu “nhung”, liệu Đường Vũ Lâm có thể giữ măi sinh mạng anh ta trong ṇng súng của ḿnh không? Câu trả lời là: có. Theo mọi người, Đường Vũ Lâm là một con người hiệp nghĩa nhưng mềm ḷng. Nếu ông thực sự muốn giết, ông đă làm từ lâu, không cần chờ đến lúc bị dồn ép.
Có thể nói — chính Lư Đông Phương đă chọn cái chết cho ḿnh.
Nguồn:
|