Thân Trng Sơn

 

NHỮNG VUỐT VE


(Guy de Maupassant)
( 1850 - 1893 )

 

Guy de Maupassant

( Ảnh trên Internet )

 

          Tên thật là Henri René Albert Guy de Maupassant, sinh ra trong một gia đ́nh quư tộc bị phá sản. V́ cha mẹ bất hoà, ngay từ nhỏ Maupassant theo mẹ về sống tại Étretat, vùng quê cạnh biển, lớn lên trong t́nh yêu thiên nhiên. Khi tṛn 13 tuổi, Maupassant được gởi đến học một trường ḍng tại Yvetot nhưng vốn hiếu động và đa cảm, Maupassant tỏ ra không thích nghi với kỷ luật nghiêm khắc của nhà trường: trong giờ học thường hay vẽ viết bậy trên giấy và làm đầu têu nhiều tṛ nghịch ngợm. Bị đuổi học, Maupassant được gởi đến học ở trường trung học tại Rouen, rồi trường luật ở Caen.

Năm 20 tuổi, ông nhập ngũ, tham gia cuộc chiến tranh Pháp - Phổ ( 1870-1871 ). Sau đó ông làm viên chức ở Bộ Hải quân (1873) rồi Bộ Giáo dục (1878 ).

Được sự d́u dắt tận t́nh của nhà văn Gustave Flaubert, một người bạn thân của mẹ ông, năm 1873, Maupassant bắt đầu viết văn. Nhưng măi đến năm 1880, ông mới thực sự nổi tiếng với truyện ngắn Boule de suif, với bối cảnh cuộc chiến tranh Pháp - Phổ, trong đó, ông kịch liệt châm biếm, đả kích bọn quư tộc hèn nhát, bạc nhược, không hề tỏ ra chút dũng khí nào trước kẻ thù. Bên cạnh những người thuộc tầng lớp thượng lưu, nhân vật cô gái điếm, biệt danh là Boule de suif, lại tỏ ra lương thiện và tử tế nhất. ( Truyện này, khoảng 40 trang, đă được dịch sang tiếng Việt với nhan đề " Viên mỡ ḅ ". Trước đây, Nguyễn Hiến Lê dịch là Thùng nước lèo. ) Thành công lớn của tác phẩm này khiến ông quyết định từ bỏ cuộc sống viên chức và chuyển hẳn sang nghề viết văn. Ông cộng tác với nhiều tờ báo ( Le Figaro, Gil Blas, Le Gaulois, l'Écho de Paris... ) và kư nhiều bút danh khác nhau.

Văn nghiệp của ông chỉ vẻn vẹn mười năm ( 1881-1890 ) nhưng ông cũng để lại cho đời trên 300 truyện ngắn, 6 tiểu thuyết, 3 tập kư sự du lịch và một tuyển tập thơ. Về tiểu thuyết, ông thành công nhất với tác phẩm Une vie ( Một cuộc đời ) mà ông đă bỏ ra 6 năm để hoàn thành (1883). Trong ṿng một năm, tác phẩm đă phát hành được 25 ngàn bản và Lev Tolstoy không tiếc lời ca ngợi: " Đây là tác phẩm lớn nhất của văn học Pháp, sau Những kẻ khốn cùng. (1) ".

Đề tài trong các truyện ngắn của Maupassant rất phong phú, đa dạng, gắn liền với cuộc sống thường ngày của tầng lớp trung lưu và hạ lưu của xă hội đương thời. Maupassant là một trong những bậc thầy của thể loại truyện ngắn. Các tác phẩm của ông thể hiện tài quan sát chính xác, đi sâu vào bản chất sự vật, và nghệ thuật chọn lựa chi tiết điển h́nh làm nổi bật tâm lư và tính cách của nhân vật. Tất cả nội dung đó được diễn đạt bằng ng̣i bút trong sáng, giản dị, tự nhiên, súc tích.

Những năm cuối đời, Maupassant mắc bệnh thần kinh, luôn bị ám ảnh bởi sự cô đơn và cái chết. Người đọc theo dơi các tác phẩm của Maupassant sẽ nhận ra rằng từ năm 1883, ông đă viết nhiều truyện ngắn về đề tài cái chết, hoặc liên quan đến cái chết: Auprès d'un mort ( Bên một người chết ), Suicide ( Tự sát ), Lettre trouvée sur un noyé ( Bức thư t́m thấy ở người chết đuối ), La tombe ( Ngôi mộ ), La morte ( Người đă khuất ), Le Noyė ( Người chết đuối ), Le condamnė à mort ( Người bị kết án tử h́nh ) ...

Bệnh t́nh ngày càng trầm trọng, ông đă có lần tự sát nhưng không chết. Sau 18 tháng hầu như hôn mê hoàn toàn, năm 1893, ông từ trần trong một dưỡng trí viện ở Paris.

(1) Les misérables, tác phẩm của Victor Hugo.

 

Guy de Maupassant là một trong những bậc thầy của truyện ngắn Pháp. Ông từng trực tiếp trải qua cuộc chiến tranh Pháp–Phổ (1870–1871), v́ vậy nhiều tác phẩm của ông phản ánh sâu sắc những đau thương, nghịch lư và bản chất con người trong chiến tranh. Les Prisonniers (Tù binh) là một trong những truyện tiêu biểu ấy. Không kể về những trận đánh lớn hay các vị tướng lừng danh, Maupassant đưa người đọc đến một căn nhà nhỏ giữa rừng, nơi một cô gái giữ rừng bằng sự b́nh tĩnh và thông minh đă bắt sống sáu người lính địch. Đằng sau câu chuyện tưởng như hài hước ấy là những suy ngẫm sâu sắc về ḷng yêu nước, sức mạnh của trí tuệ, bản chất chiến tranh và phẩm giá của con người.

Những vuốt ve không phải là một truyện ngắn theo nghĩa thông thường, bởi hầu như không có cốt truyện, không có diễn biến hành động hay xung đột bên ngoài. Tác phẩm được cấu tạo từ hai bức thư đối lập: một của Geneviève – người phụ nữ xem t́nh yêu tinh thần là lư tưởng tối thượng; một của Henri – người đàn ông cho rằng t́nh yêu chỉ được kiểm chứng bằng sự ḥa hợp xác thịt. Đến cuối cùng, người đọc chỉ biết hai bức thư ấy được nhặt dưới bệ quỳ của một nhà thờ. Chính kết cấu ấy đă biến tác phẩm thành một cuộc tranh luận triết học về bản chất của t́nh yêu, thân xác, đạo đức và tự nhiên.

Geneviève đại diện cho quan niệm truyền thống, nơi t́nh yêu được đồng nhất với sự trong sạch của tâm hồn.

Đối với nàng, t́nh yêu là ánh mắt dịu dàng, là giọng nói vuốt ve trái tim, là sự hiện diện khiến con người thanh thản. Nhưng ngay khi t́nh yêu bước sang địa hạt của dục tính, nó trở thành điều đáng xấu hổ. Nàng xem hành vi xác thịt là “vực thẳm ô nhục” sẽ phá hủy mối quan hệ tinh thần giữa hai người. Quan điểm ấy phản ánh nền đạo đức Kitô giáo và xă hội tư sản Pháp thế kỷ XIX, nơi dục vọng thường bị coi là tội lỗi cần che giấu.

Henri lại đứng ở phía đối lập.

Theo ông, chính sự vuốt ve mới là phép thử chân thật của t́nh yêu. Nếu sau sự kết hợp mà t́nh cảm lụi tàn, đó chỉ là ham muốn nhất thời. Nếu sau đó t́nh yêu càng sâu sắc hơn, th́ đó mới là t́nh yêu đích thực.

Ở đây Maupassant không đơn giản đứng về phía Henri, mà để hai quan điểm tồn tại song song như hai cực của một vấn đề muôn thuở: liệu t́nh yêu có thể tách rời thân xác hay không?

Một trong những đoạn sâu sắc nhất của truyện là khi Henri nhắc đến triết gia cho rằng:

Thiên nhiên dùng t́nh yêu và khoái lạc như chiếc mồi để duy tŕ ṇi giống. Đó là tư tưởng
gần với Arthur Schopenhauer:  con người tưởng ḿnh hành động v́ hạnh phúc cá nhân, nhưng thực chất chỉ là công cụ của “ư chí sinh tồn”.

Henri chấp nhận điều đó nhưng không chịu khuất phục.

Ông nói: Nếu thiên nhiên dùng sự vuốt ve để đánh lừa con người, th́ con người hăy đánh lừa lại thiên nhiên bằng cách biến sự vuốt ve thành nghệ thuật.

Đó là tư tưởng rất hiện đại.

Từ một bản năng sinh học, Henri muốn nâng nó thành sáng tạo văn hóa.

Giống như trái nho trở thành rượu vang, hay viên đá thô trở thành tượng điêu khắc, t́nh dục cũng có thể trở thành nghệ thuật của t́nh yêu. Đây là điểm rất táo bạo đối với một tác phẩm cuối thế kỷ XIX.

Henri dành nhiều trang để ca ngợi vẻ đẹp cơ thể người phụ nữ.

Ông phản bác cách nh́n thuần túy sinh học khi dẫn định nghĩa khô khan trong sách y học:

“Bầu ngực phụ nữ vừa hữu ích vừa đem lại khoái cảm.”

Ông xóa bỏ chữ “hữu ích”, chỉ giữ lại chữ “đẹp”.

Theo Henri, thân xác không chỉ để sinh sản.

Nó c̣n là một tác phẩm nghệ thuật.

Maupassant ở đây đặt nghệ thuật đối lập với khoa học.

Khoa học nh́n thân thể như cơ quan.

Nghệ thuật nh́n thân thể như vẻ đẹp.

Hai cách nh́n đều đúng, nhưng không cái nào bao quát toàn bộ con người.

Điều thú vị là Henri không phủ nhận mặt tối của dục vọng.

Ông từng trải qua những cuộc t́nh chóng vánh.

Ông biết cảm giác trống rỗng sau những cuộc ái ân không t́nh yêu.

Ông gọi đó là: “nỗi buồn cay đắng.”

Như vậy, ông không cổ vũ sự buông thả.

Điều ông bảo vệ không phải dục vọng. Ông bảo vệ t́nh yêu có thân xác.

Theo ông, điều làm cho sự vuốt ve trở nên thiêng liêng không phải hành vi, mà là người ḿnh yêu.

Đó là khác biệt rất quan trọng.

Henri công kích: các nhà đạo đức, các giáo sĩ, các học giả giáo điều, những thi sĩ chỉ ca ngợi t́nh yêu thuần khiết.Ông cho rằng xă hội luôn ca tụng linh hồn nhưng lại sống nhờ bản năng.Điều bị cấm đoán nhiều nhất lại chính là điều tự nhiên nhất.Đó là một nghịch lư mà Maupassant nhiều lần khai thác trong các tác phẩm của ḿnh.Ông không chống đạo đức. Ông chống sự giả dối của đạo đức.

Chi tiết cuối cùng rất ngắn:

Hai lá thư được t́m thấy dưới bệ quỳ trong nhà thờ Madeleine.

Chi tiết này chứa nhiều tầng nghĩa.

Thứ nhất, nhà thờ là biểu tượng của đức tin, của sự thanh khiết.

Hai lá thư bàn về t́nh yêu xác thịt lại nằm ngay dưới nơi cầu nguyện.

Hai thế giới đối lập chạm vào nhau.

Thứ hai, Maupassant không cho biết số phận của Henri và Geneviève. Họ có đến được với nhau không? Họ chia tay?

Hay một trong hai đă bỏ lại những lá thư? Không ai biết.

Chính sự bỏ ngỏ ấy khiến câu chuyện tiếp tục sống trong trí tưởng tượng người đọc.

Thứ ba, người nhặt được thư lại mang cái tên “Maufrigneuse”, có thể được hiểu như một người kể chuyện hư cấu, tạo cảm giác đây là những tài liệu “t́nh cờ”  được phát hiện.

Thủ pháp này tăng tính chân thực nhưng cũng nhắc người đọc rằng đây là một cuộc đối thoại mở, không phải một chân lư đă được định sẵn.

Điều đáng quư nhất của Những vuốt ve là tác phẩm không áp đặt kết luận.

Geneviève không hoàn toàn sai. Henri cũng không hoàn toàn đúng.

Một người bảo vệ sự cao quư của t́nh yêu.

Người kia bảo vệ tính toàn vẹn của con người.

Nếu chỉ có linh hồn mà phủ nhận thân xác, t́nh yêu có thể trở thành lư tưởng xa vời.

Nếu chỉ có thân xác mà thiếu linh hồn, t́nh yêu dễ biến thành khoái lạc chóng tàn.

Maupassant để người đọc tự t́m điểm cân bằng giữa hai thái cực ấy.

Những vuốt ve không đơn thuần là một câu chuyện về t́nh dục hay những lá thư t́nh. Đó là một khảo luận văn học về mối quan hệ giữa bản năng và văn hóa, giữa đạo đức và tự nhiên, giữa linh hồn và thân xác. Qua hai tiếng nói đối lập, Maupassant khẳng định rằng con người không thể bị giản lược thành một sinh thể chỉ biết dục vọng, cũng không thể sống như một linh hồn tách rời cơ thể. T́nh yêu chỉ thực sự trọn vẹn khi hai chiều kích ấy gặp nhau trong sự tôn trọng, tự nguyện và chân thành. Chính v́ vậy, hơn một thế kỷ sau khi ra đời, Những vuốt ve vẫn gợi lên những suy ngẫm về một câu hỏi chưa bao giờ cũ: liệu t́nh yêu đích thực bắt đầu từ tâm hồn, từ thân xác, hay chỉ nảy nở khi cả hai ḥa quyện thành một.
 


 

          Không, bạn thân mến, xin đừng nghĩ đến điều ấy nữa. Điều anh đ̣i hỏi ở tôi khiến tôi ghê tởm và phản cảm. Có cảm giác như Thượng Đế – bởi tôi tin có Thượng Đế – đă muốn làm hỏng tất cả những ǵ Người tạo ra tốt đẹp bằng cách gắn vào đó một điều ǵ khủng khiếp. Người đă ban cho chúng ta t́nh yêu, điều dịu dàng nhất trên đời; nhưng rồi, có lẽ thấy nó quá đẹp, quá trong sạch đối với loài người, Người lại nghĩ ra dục tính – những bản năng xác thịt đê tiện, nhơ nhớp, ghê gớm và thô bạo; những bản năng như thể được nặn ra để giễu cợt, rồi trộn lẫn với mọi thứ ô uế của thân xác. Người tạo ra chúng đến mức chỉ cần nghĩ đến cũng khiến ta đỏ mặt, và chỉ có thể nói về chúng bằng giọng th́ thầm. Hành vi đáng sợ ấy luôn bị bao phủ bởi sự hổ thẹn. Nó phải ẩn giấu, làm tâm hồn kinh tởm, làm đôi mắt khó chịu; bị đạo đức lên án, bị pháp luật truy đuổi, nó chỉ diễn ra trong bóng tối như thể là một tội ác.

Xin đừng bao giờ nói với tôi về chuyện ấy nữa, đừng bao giờ!

Tôi không biết ḿnh có yêu anh hay không, nhưng tôi biết rằng tôi thấy dễ chịu khi ở gần anh, ánh mắt anh thật dịu dàng với tôi và giọng nói của anh vuốt ve trái tim tôi. Nhưng kể từ ngày anh lợi dụng sự yếu đuối của tôi để đạt được điều anh mong muốn, anh sẽ trở thành kẻ đáng ghét trong mắt tôi. Mối dây mong manh gắn kết chúng ta sẽ bị cắt đứt. Giữa chúng ta sẽ mở ra một vực thẳm của sự ô nhục.

Hăy cứ giữ nguyên như hiện nay. Và… nếu anh muốn yêu tôi th́ cứ yêu, tôi cho phép điều đó.

 

Người bạn của anh,

Geneviève
 

**

Thưa bà, xin bà cũng cho phép tôi được nói với bà một cách thẳng thắn, không chút khách sáo hay ga-lăng, như tôi vẫn nói với một người bạn muốn thề nguyền yêu măi măi.

Tôi cũng không biết ḿnh có yêu bà hay không. Và quả thật, chỉ sau điều mà bà ghê tởm đến thế, tôi mới có thể biết được.

Bà đă quên những câu thơ của Musset sao:

“Tôi vẫn c̣n nhớ những cơn co thắt dữ dội ấy,
Những nụ hôn câm lặng, những bắp thịt rực cháy,
Con người tái nhợt, nghiến chặt hai hàm răng.

Nếu những khoảnh khắc ấy không phải là thần thánh, th́ chúng quả thật kinh hoàng.”

Cảm giác kinh hăi và ghê tởm không thể vượt qua ấy, chính chúng tôi cũng từng nếm trải mỗi khi, bị sức mạnh cuồng nhiệt của ḍng máu cuốn đi, chúng tôi buông ḿnh vào những cuộc ái ân t́nh cờ. Nhưng khi một người phụ nữ là đối tượng duy nhất mà chúng tôi lựa chọn, là hiện thân của sức quyến rũ bền bỉ và vô tận – như bà đối với tôi – th́ sự vuốt ve lại trở thành niềm hạnh phúc mănh liệt nhất, trọn vẹn nhất và vô biên nhất.

Thưa bà, sự vuốt ve chính là phép thử của t́nh yêu. Nếu sau ṿng ôm, ngọn lửa trong chúng tôi vụt tắt, th́ ấy là chúng tôi đă lầm tưởng. Nhưng nếu nó bùng cháy mănh liệt hơn, th́ đó là v́ chúng tôi thật sự yêu bà.

Một triết gia – tuy chính ông không thực hành những học thuyết ấy – đă từng cảnh báo chúng ta về cái bẫy của tự nhiên. Ông nói: tự nhiên muốn sinh ra những con người mới, và để buộc chúng ta tạo ra họ, nó đă đặt hai miếng mồi nhử là t́nh yêu và khoái lạc bên cạnh chiếc bẫy. Rồi ông nói thêm: ngay khi chúng ta đă mắc bẫy, khi cơn mê cuồng chốc lát qua đi, một nỗi buồn mênh mông sẽ xâm chiếm chúng ta, bởi ta hiểu được mưu mẹo đă đánh lừa ḿnh; ta nh́n thấy, cảm nhận và chạm tới nguyên nhân kín đáo, được che giấu, đă thúc đẩy ta trái với ư muốn của ḿnh.

Điều đó đúng, thường xuyên, rất thường xuyên. Khi ấy, chúng ta đứng dậy với tâm trạng chán chường. Tự nhiên đă chiến thắng chúng ta, đă ném chúng ta, theo ư nó, vào những ṿng tay đang mở sẵn, chỉ v́ nó muốn những ṿng tay ấy phải mở ra.

Vâng, tôi biết những nụ hôn lạnh lẽo mà mănh liệt trên đôi môi xa lạ; những ánh mắt cháy bỏng nh́n vào đôi mắt mà ta chưa từng gặp và sẽ chẳng bao giờ gặp lại; tôi biết tất cả những điều mà tôi không thể nói thành lời, tất cả những ǵ chỉ để lại trong tâm hồn một nỗi u sầu cay đắng.

Nhưng khi thứ đám mây dịu dàng mang tên t́nh yêu đă bao bọc hai con người; khi họ đă nghĩ về nhau rất lâu, măi măi; khi trong những ngày xa cách, kư ức không ngừng thức tỉnh suốt ngày đêm, mang đến cho tâm hồn h́nh bóng khuôn mặt, nụ cười và âm thanh của giọng nói người kia; khi người ta bị ám ảnh, bị chiếm hữu bởi h́nh bóng vắng mặt mà vẫn luôn hiện hữu – th́, xin bà hăy nói xem, chẳng phải việc những cánh tay cuối cùng cũng mở rộng, đôi môi t́m đến nhau và thân xác ḥa làm một là điều hết sức tự nhiên sao?

Bà chưa từng khao khát một nụ hôn ư? Hăy nói cho tôi biết: chẳng phải đôi môi luôn gọi mời đôi môi hay sao? Và chẳng phải ánh mắt trong trẻo, như thể chảy vào từng mạch máu, cũng khơi dậy những ngọn lửa cuồng nhiệt, không thể cưỡng lại được hay sao?

Đúng vậy, đó chính là cái bẫy, cái bẫy ghê tởm như bà nói chăng? Th́ đă sao! Tôi biết điều đó, tôi vẫn tự nguyện sa vào, và tôi yêu chính cái bẫy ấy!

Tự nhiên ban cho chúng ta sự vuốt ve để che giấu mưu mẹo của ḿnh, để buộc chúng ta, trái với ư muốn, phải duy tŕ ṇi giống. Vậy th́ hăy cướp lấy sự vuốt ve ấy khỏi tay Tự nhiên, biến nó thành của riêng chúng ta, tinh luyện nó, biến đổi nó, lư tưởng hóa nó nếu bà muốn. Đến lượt chúng ta hăy đánh lừa Tự nhiên – kẻ chuyên đi lừa dối. Hăy làm nhiều hơn điều nó mong muốn, nhiều hơn điều nó có thể hoặc dám dạy chúng ta. Hăy coi sự vuốt ve như một chất liệu quư vừa được khai quật từ ḷng đất: hăy cầm lấy, gọt giũa, chế tác và hoàn thiện nó, không cần bận tâm đến mục đích ban đầu hay ư chí kín đáo của điều mà bà gọi là Thượng Đế. Và v́ chính tư tưởng đă thi vị hóa mọi sự, th́ hăy thi vị hóa cả sự vuốt ve ấy, ngay cả trong những khía cạnh dữ dội nhất, trong những kết hợp tưởng như tạp uế nhất, thậm chí trong những phát minh táo bạo nhất của nó.

Hăy yêu sự vuốt ve ngọt ngào như yêu men rượu làm người say, như trái cây chín thơm ngát nơi đầu môi, như mọi điều thấm vào thân thể và mang đến hạnh phúc. Hăy yêu thân xác v́ nó đẹp, v́ nó trắng ngần, săn chắc, đầy đặn, mềm mại và tuyệt diệu dưới đôi môi cũng như dưới bàn tay.

Khi các nghệ sĩ t́m kiếm h́nh dáng hoàn mỹ và tinh khiết nhất cho những chiếc chén dùng để nâng men say của nghệ thuật, họ đă chọn đường cong của bầu ngực người phụ nữ, mà nụ hoa của nó giống như nụ hồng.

Vậy mà tôi đă đọc trong một cuốn sách bác học mang tên Từ điển Khoa học Y học, một định nghĩa về bộ ngực phụ nữ, nghe như thể do ngài Joseph Prudhomme sau khi trở thành bác sĩ y khoa nghĩ ra:

“Bầu ngực của người phụ nữ có thể được xem vừa là một cơ quan hữu ích, vừa là một đối tượng đem lại khoái cảm thẩm mỹ.”

Nếu bà muốn, hăy bỏ đi cái gọi là “hữu ích”, chỉ giữ lại sự “đẹp đẽ”. Liệu nó có mang h́nh dáng đáng yêu đến mức không cưỡng được mời gọi sự vuốt ve, nếu nó chỉ được tạo ra để nuôi dưỡng trẻ thơ?

Vâng, thưa bà, cứ để các nhà đạo đức giảng giải về sự đoan trang; cứ để các thầy thuốc khuyên người ta phải thận trọng; cứ để các thi sĩ – những kẻ luôn lừa dối và cũng luôn tự lừa dối chính ḿnh – ca ngợi sự kết hợp trong trắng của hai tâm hồn và thứ hạnh phúc phi vật chất; cứ để những người phụ nữ kém sắc lo tṛn bổn phận, những người đàn ông quá lư trí bận rộn với những công việc vô vị; cứ để các nhà giáo điều giữ lấy giáo điều của họ, các giáo sĩ giữ lấy những điều răn của họ; c̣n chúng ta, hăy yêu trên hết sự vuốt ve làm người say đắm, cuồng loạn, ră rời, kiệt sức rồi lại hồi sinh; thứ c̣n dịu dàng hơn hương thơm, nhẹ hơn làn gió, sắc nhọn hơn mọi vết thương; thứ đến nhanh và thiêu đốt, khiến người ta phải bật thành tiếng kêu, khiến con người có thể phạm mọi tội lỗi và cũng làm nên mọi hành động anh hùng! Hăy yêu nó, không phải trong sự b́nh lặng, thông thường hay hợp lẽ, mà trong cơn cuồng nhiệt, mănh liệt và không biết chừng mực! Hăy kiếm t́m nó như người ta t́m vàng và kim cương, bởi nó c̣n quư hơn thế: vô giá và chóng qua. Hăy măi măi theo đuổi nó; hăy sống v́ nó và nếu cần, hăy chết v́ nó.

Và nếu bà muốn tôi nói với bà một điều mà, theo tôi, sẽ chẳng t́m thấy trong bất kỳ cuốn sách nào, th́ đây là sự thật ấy: những người phụ nữ hạnh phúc duy nhất trên đời là những người không bao giờ thiếu sự âu yếm. Họ sống không lo âu, không bị giày ṿ bởi những ư nghĩ nặng nề, không c̣n ước muốn nào khác ngoài nụ hôn sắp đến – nụ hôn sẽ dịu dàng và b́nh yên như chính nụ hôn vừa qua.

Trái lại, những người phụ nữ chỉ nhận được những vuốt ve ít ỏi, không trọn vẹn hoặc quá hiếm hoi th́ luôn bị dày ṿ bởi muôn vàn nỗi bất an tầm thường, bởi khát vọng tiền bạc, hư danh và bởi mọi biến cố nhỏ nhặt đều hóa thành đau khổ.

Nhưng những người phụ nữ được yêu thương và âu yếm đến viên măn th́ chẳng c̣n cần ǵ nữa, chẳng c̣n mong ǵ nữa, cũng chẳng c̣n tiếc nuối điều ǵ. Họ mơ màng, thanh thản và mỉm cười; những điều mà với người khác là tai họa không thể cứu văn th́ với họ chỉ lướt qua rất nhẹ, bởi sự vuốt ve có thể thay thế mọi thứ, chữa lành mọi thứ và an ủi mọi thứ!

Ôi, tôi c̣n biết bao điều muốn nói nữa!…

Henri

 

Hai bức thư này, được viết trên giấy Nhật làm bằng rơm lúa, đă được t́m thấy trong một chiếc ví nhỏ bằng da Nga, nằm dưới bệ quỳ cầu nguyện trong nhà thờ La Madeleine, vào chiều Chúa nhật hôm qua, sau thánh lễ một giờ, bởi Maufrigneuse.


THÂN TRỌNG SƠN
Dịch và giới thiệu
Tháng 7 / 2026


Nguồn:
http://maupassant.free.fr/textes/caresses.html.html.


 

art2all.net