|
Thân Trọng Sơn
NƠI TÔI ĐĂ LỚN LÊN
Shen Congwen
Thẩm Ṭng Văn
( 1902 - 1988 )


“Vào
đầu thế kỷ XX, Trung Quốc là một quốc gia già nua và đầy thương tích.
Thẩm Ṭng Văn muốn thổi vào đó một sức sống mới, biến nó thành một đất
nước trẻ trung và nhiệt huyết, vẫn c̣n say mê với chủ nghĩa lư tưởng của
những hiệp khách phiêu bạt và các thủ lĩnh bộ tộc… Những tác phẩm được
ca ngợi nhất của ông gợi lên một vùng biên giới hoang dă, nơi có các
lănh chúa quân phiệt và những người bản địa sinh sống; hoặc ngược lại,
là những khung cảnh mục đồng tinh tế, nơi những t́nh cảm sâu kín nhất
của con người nảy nở rồi tàn phai theo sự sắp đặt của số phận.”
Những ḍng này được trích từ phần
mở đầu của một cuốn sách viết về các truyện ngắn của Thẩm Ṭng Văn, do
Jeffrey C. Kinkley — người dịch và người viết tiểu sử của ông — biên
soạn. Với một phong cách rất gần gũi với chính tác giả, những ḍng ấy đă
nắm bắt được tinh thần của một sự nghiệp văn chương phong phú, mà phần
lớn trong đó chính là các truyện ngắn.
Chúng thể hiện sức hấp dẫn mà ngay
từ đầu những câu chuyện thường rất ngắn này đă tạo ra: được viết bằng
một phong cách riêng biệt, kết hợp giữa ngôn ngữ địa phương và sự sáng
tạo tinh tế, khiến người đọc phải tiếc nuối khi khép lại trang sách, với
cảm giác như vừa khám phá một thế giới mới chỉ mới hé mở, đồng thời khao
khát được t́m hiểu thêm.
Muốn làm được điều đó, cần bắt đầu
bằng việc t́m hiểu cuộc đời ông — mảnh đất đă nuôi dưỡng và làm nảy mầm
tất cả những sáng tác của ông. Thẩm Ṭng Văn khởi đầu là một người lính,
với nền giáo dục chỉ dừng ở bậc tiểu học, trong thời kỳ hỗn loạn khi các
lănh chúa quân phiệt nắm quyền thống trị phần lớn lănh thổ Trung Quốc.
Nhưng sinh ra ở một vùng có nhiều dân tộc thiểu số, ông mang trong đầu
những câu chuyện mà tuổi thơ đă nuôi dưỡng, cùng những kư ức theo thời
gian trở thành nỗi hoài niệm về một thiên đường vừa đẹp đẽ vừa đầy mâu
thuẫn — thứ đă tô màu và làm nền tảng cho toàn bộ tác phẩm của ông.
Tuy nhiên, sự nghiệp của ông không thể chỉ bị giới hạn trong h́nh ảnh
đó; Thẩm Ṭng Văn không chỉ là “nhà văn của quê hương” như người ta
thường thu hẹp ông vào vai tṛ ấy. Thậm chí người ta c̣n ngạc nhiên
trước tính hiện đại trong sáng tác của ông, và không khỏi tự hỏi ông c̣n
có thể viết thêm những ǵ nếu như năm 1949 ông đă không quyết định từ bỏ
việc sáng tác văn học hư cấu…
Thẩm Ṭng Văn sinh năm 1902 tại Phượng Hoàng, phía tây bắc tỉnh Hồ Nam ở
miền nam Trung Quốc, một thành phố cổ kính có cái tên — mang nghĩa là
Phượng Hoàng, ở dạng số nhiều, với hai chữ Hán lần lượt chỉ chim trống
và chim mái — bắt nguồn từ một truyền thuyết địa phương: hai con phượng
hoàng đă bay lượn trên vùng đất này trong một thời gian dài, say mê
trước vẻ đẹp của nó đến mức không nỡ rời đi.
Đó là một thành phố cổ được xây dựng dưới chân núi Nam Hoa và bên bờ
sông Đà Giang, nơi vẫn giữ được nét nguyên sơ vốn có của một đô thị vùng
biên giới, khép kín sau những bức tường thành bao quanh.
Ngày nay được gọi là Tương Tây và đă trở thành một châu tự trị, khu vực
này trước đây thuộc vương quốc Sở vào thời Chiến Quốc. Trên thực tế, nơi
đây từ lâu đă là một vùng biên giới, tiếp giáp với các dân tộc thiểu số
Mèo và Thổ Gia, những cộng đồng không dễ bị đồng hóa. Trong xă hội Trung
Hoa cổ đại, họ từng được xem là một phần của những “người man di phương
Nam” trong truyền thuyết, gọi chung bằng thuật ngữ mán.
Từ đầu thế kỷ XVII, các hoàng đế nhà Minh bắt đầu t́m cách pḥng thủ
trước họ bằng việc xây dựng một bức tường thành — những dấu tích của nó
chỉ mới được phát hiện cách đây khoảng mười năm — cùng với những ngôi
làng có tường bao quanh. Nhiều ngôi làng trong số đó vẫn c̣n tồn tại vào
những năm 1920, với cả một hệ thống tên gọi riêng biệt tùy theo quy mô
lớn nhỏ của chúng.
V́ vậy, Thẩm Ṭng Văn sinh ra và lớn lên trong một vùng đất mang hai đặc
điểm quan trọng: một vùng phương Nam nằm bên ngoài trung tâm của nền văn
minh Trung Hoa, bị xem là hoang dă với những dân tộc thiểu số chưa được
đồng hóa hoàn toàn; đồng thời là một vùng biên giới cần được bảo vệ
trước các cuộc nổi dậy của cư dân bản địa, nơi dưới thời nhà Thanh lại
chứng kiến một làn sóng mới các khu định cư quân sự. Những yếu tố ấy ông
bắt gặp ngay trong chính gia đ́nh ḿnh, và v́ thế đă để lại dấu ấn rất
sâu sắc trong ông.
Ông là người con thứ tư trong một gia đ́nh có chín anh chị em, nhưng lại
là con trai thứ hai, v́ vậy ông có biệt danh là “anh Hai”, cái tên xuất
hiện trong nhiều truyện ngắn của ông, cùng với người chị/em gái có biệt
danh “bé thứ chín” .
Ông nội của ông là một quân nhân từng thi trượt các kỳ thi khoa cử của
triều đ́nh, nhưng nhờ ḷng dũng cảm mà vẫn đạt được cấp bậc “tướng”.
Thậm chí đến năm 1865, ông c̣n trở thành tổng chỉ huy quân đội Quư Châu,
nhưng qua đời khi c̣n rất trẻ v́ bị thương trong chiến đấu.
Sau đó, người vợ góa của ông đă nhận nuôi con trai của em trai ḿnh —
người sau này trở thành cha của Thẩm Ṭng Văn. Người cha này được học
hành đầy đủ và trở thành một sĩ quan quân đội.
Trong cuộc nổi dậy Nghĩa Ḥa Đoàn năm 1900, ông được điều đến bảo vệ một
trong những pháo đài ở Đại Cô. Tuy nhiên, sự nghiệp của ông bị phá hủy
khi các pháo đài này thất thủ trước lực lượng nước ngoài.
Sau Cách mạng Tân Hợi năm 1911, ông cố gắng tranh cử vào hội đồng địa
phương nhưng thất bại. Sau đó ông tham gia một âm mưu chống lại Viên Thế
Khải và buộc phải trốn sang Nội Mông, nơi ông đổi tên để bắt đầu một sự
nghiệp khác tại các đồn biên giới Mông Cổ.
Thẩm Ṭng Văn chỉ gặp lại cha ḿnh vào năm 1922, tại Bắc Kinh.
Chính nguồn gốc bên ngoại đă tạo nên khía cạnh c̣n lại trong tính cách
của ông, đồng thời là một phần quan trọng trong nguồn cảm hứng văn học
của ông. Tuy nhiên, bản thân ông trong một thời gian dài chỉ nghi ngờ về
điều đó; trong cuốn tự truyện viết năm 1931, ông chỉ nhắc đến một cách
ngắn gọn. Măi đến khi mẹ ông qua đời vào năm 1934, bà mới tiết lộ cho
ông những chi tiết ấy: bà thuộc dân tộc Thổ Gia , c̣n bà nội bên cha của
ông thuộc dân tộc Mèo. Điều này cũng cho thấy rơ, qua đó, sự phổ biến
của những cuộc hôn nhân giữa các dân tộc khác nhau, góp phần vào quá
tŕnh đồng hóa các dân tộc thiểu số này.
Mẹ ông chính là một ví dụ cho quá tŕnh đồng hóa ấy: bà có tŕnh độ học
vấn tốt hơn cha ông. Người được xem như “bí mật bị giấu kín trong gia
đ́nh” suốt một thời gian dài lại chính là bà nội. Khi con trai bà được
nhận nuôi, bà bị đưa về vùng nông thôn và bị tuyên bố là đă qua đời;
thậm chí gia đ́nh c̣n tổ chức tang lễ chính thức cho bà.
Thẩm Ṭng Văn được mẹ nuôi dưỡng, nhưng ông lại cảm thấy bị thu hút
nhiều hơn bởi thế giới của người Mèo — một chủ đề chính hoặc bối cảnh
nền xuất hiện trong rất nhiều truyện ngắn của ông.
Một cách khá đặc trưng, ông chưa bao giờ viết một bộ tiểu thuyết trường
thiên về gia đ́nh theo kiểu, chẳng hạn, người bạn của ông là Ba Kim. Gia
đ́nh xuất hiện trong các truyện ngắn của ông như một hạt nhân nhỏ bé, ấm
áp, xoay quanh người mẹ cùng những đứa trẻ vui vẻ và nghịch ngợm.
Tuy nhiên, nhiều câu chuyện của ông cũng miêu tả cả một nhóm lớn những
người thân và bạn bè gần xa, những nhân vật đầy màu sắc tạo thành một
pḥng tranh chân dung: như “cha đỡ đầu” của ông, người chú thứ tư họ
Đằng, một người bán thảo dược, xem bói và dạy vơ thuật; người chú làm
nghề đao phủ, một nhân vật chính đầy thiện cảm trong truyện ngắn “Cái
mới và cái cũ”, hay người chị dâu của ông, một “cô dâu trẻ con” đáng
yêu, thất học, đă truyền cảm hứng cho nhân vật Tiêu Tiêu trong truyện
ngắn cùng tên.
Được nuôi dưỡng bằng những câu chuyện của mẹ và những điều ông nghe được
từ những người xung quanh, trái lại, ông chỉ nhận được một nền giáo dục
giới hạn ở bậc tiểu học. Chính mẹ ông đă dạy ông những chữ Hán đầu tiên,
sau đó ông theo học một “trường tư thục” kiểu cũ trước khi vào trường
công lập nam sinh kiểu mới ở Phượng Hoàng năm 1915.
Ông từng là thành viên của một trong những nhóm trẻ nghịch ngợm trong
trường, nhưng lại vô cùng chán nản trong giờ học. Thực ra, ước mơ của
ông là trở thành một vị tướng giống như ông nội. Hơn nữa, gia đ́nh ông,
do không c̣n sự hỗ trợ của người cha, buộc phải bán phần lớn ruộng đất
và rơi vào cảnh nghèo khó.
Thẩm Ṭng Văn nhập ngũ vào năm 1917, với tư cách là một binh sĩ dự bị,
ban đầu ở địa phương, sau đó tại Thần Châu , ngày nay là Nguyên Lăng .
Thực ra, nhiều truyện ngắn của ông kể lại những câu chuyện mà ông đă
nghe được trong chuyến đi bằng thuyền nối liền thành phố này với Phượng
Hoàng.
Có thể h́nh dung người nhà văn tương lai đến nơi ấy vào tháng 9 năm
1917, theo lời kể trong tự truyện của ông: vui mừng v́ được tự do và
khao khát những cuộc phiêu lưu.
Đó là một thời kỳ rất thích hợp cho những điều như vậy. Trung Quốc rơi
vào t́nh trạng hỗn loạn sau cái chết của Viên Thế Khải, quyền lực bị
tranh giành giữa các phe phái đối địch, c̣n quốc hội th́ bị giải tán vào
tháng 6 năm 1917. Khi Tôn Dật Tiên phải lánh sang Quảng Châu, một cuộc
nội chiến thực sự đă bùng nổ giữa hai phe lớn. Trong lúc đó, các vùng
địa phương nằm dưới sự kiểm soát của những lănh chúa quân phiệt.
Hồ Nam cũng không ngoại lệ. Người ta có thể trở thành kẻ cướp chỉ bằng
cách mua hoặc chiếm lấy một trong những khẩu súng mà quân đội đang tan
ră bỏ lại sau cái chết của Viên Thế Khải.
Trong một tác phẩm của ḿnh, Thẩm Ṭng Văn kể câu chuyện về một cô gái
trẻ mười bảy tuổi trở thành thủ lĩnh một băng cướp; hoặc câu chuyện về
một người thợ mỏ than trở thành một thủ lĩnh cướp khác sau khi bị vu
oan.
Người Mèo cũng có những thủ lĩnh riêng, và những cuộc xung đột giữa các
băng nhóm đối địch nhằm tranh giành quyền kiểm soát lănh thổ có thể
khiến cả những ngôi làng bị hủy diệt. Người dân, đặc biệt là các thương
nhân, phải đi lại dưới sự hộ tống bảo vệ.
Khi Thẩm Ṭng Văn đến đồn trú của ḿnh ở Thần Châu, ông bắt đầu công
việc với vai tṛ vệ sĩ cho tổng chỉ huy Trương Học Tế, người đứng đầu
một đơn vị thuộc Đệ nhị quân của “Đạo quân liên hợp b́nh định đất nước”
, được Tôn Dật Tiên thành lập để chống lại quân Bắc Dương ở miền Bắc.
V́ là một trong số ít người biết chữ, chẳng bao lâu sau, chàng trai trẻ
Thẩm Ṭng Văn trở thành thư kư, phụ trách ghi chép sổ sách, đồng thời
tham dự các buổi hỏi cung tù nhân để ghi lại lời thú tội của họ.
Trương Học Tế nhanh chóng bị một đối thủ loại bỏ. Người đó là Trần Cừ
Trân, một quân nhân trẻ mới ba mươi lăm tuổi. Người này kiểm soát việc
buôn bán thuốc phiện trong vùng, thu các loại thuế và phần đóng góp khác
nhau, sau đó đă thành công trong việc cai trị khu vực này suốt gần ba
mươi năm. Trong kư ức dân gian, ông ta trở thành “vua Tương Tây” .
Đương nhiên, Thẩm Ṭng Văn cũng chuyển sang dưới quyền chỉ huy của ông
ta.
Những năm tháng đầy tính sử thi trong quân ngũ ấy đă truyền cảm hứng cho
nhà văn trẻ viết nên một loạt truyện ngắn, phần lớn được sáng tác trong
khoảng từ năm 1926 đến năm 1929. Những tác phẩm này miêu tả trải nghiệm
đó theo một cách đầy mâu thuẫn: một mặt, ông ghi lại những khía cạnh tăm
tối nhất của nó nhưng không đưa ra phán xét về mặt đạo đức; mặt khác,
ông ca ngợi tinh thần đồng đội b́nh đẳng và sự tự do mà ông t́m thấy
trong quân đội, khiến người đọc có thể cảm nhận được chủ nghĩa lư tưởng
vui tươi từng tồn tại trong con người ông.
Đồng thời, ông cùng trung đoàn của ḿnh đi qua vùng tây nam Trung Quốc,
các tỉnh Hồ Nam, Tứ Xuyên và Quư Châu, say mê trước cảnh sắc thiên
nhiên, ghi nhớ những câu chuyện nghe được ở khắp nơi. Vẻ đẹp của thế
giới nông thôn dần chồng lên sự tàn khốc của đời sống quân ngũ.
Tuy nhiên, ông dần dần cảm thấy mệt mỏi với cuộc sống ấy, cũng như với
bạo lực — điều khiến ông từ chối cả chủ nghĩa dân tộc lẫn chủ nghĩa cộng
sản như những giải pháp cho sự hỗn loạn của đất nước và con đường để đổi
mới.
Năm 1922, ông đến Bắc Kinh, mang theo trong đầu vô số câu chuyện.
Ông đến Bắc Kinh, trước hết là với ư định học đại học, nhưng ông đă
trượt kỳ thi đầu vào. Ông rơi vào cảnh phải sống trong một căn pḥng nhỏ
tồi tàn và bắt đầu điều mà suốt đời ông gọi là “những bài tập viết” của
ḿnh — bởi ngay từ đầu ông thậm chí c̣n chưa có khái niệm về dấu câu.
Thế nhưng, đến năm 1924, ông đă cộng tác với các tờ báo của nhà thơ Hồ
Dă B́nh, đặc biệt là chuyên san hàng tuần “Văn nghệ quần chúng” .
Cũng trong năm 1924, cô gái trẻ Đinh Linh rời Thượng Hải đến Bắc Kinh;
ban đầu bà theo học các lớp của Lỗ Tấn, nhưng bỏ học sau khi gặp Hồ Dă
B́nh — người mà bà sẽ chung sống sau đó. Không lâu sau, đôi vợ chồng này
được Thẩm Ṭng Văn gia nhập, điều này dĩ nhiên đă làm nảy sinh nhiều lời
đồn đại và những câu chuyện trên báo chí.
Những sáng tác đầu tiên
Tháng 3 năm 1925, Thẩm Ṭng Văn xuất bản tác phẩm đầu tiên của ḿnh, một
truyện ngắn rất ngắn có tên “Đánh cá đêm” . Sau đó truyện này được đưa
vào tập “Những con vịt” , tập hợp bảy truyện ngắn đầu tiên của ông, được
sáng tác trong khoảng từ tháng 3 năm 1925 đến tháng 5 năm 1926.
Truyện được đăng trên một tạp chí do nhà thơ Từ Chí Ma , người đă trở
thành bạn của ông, biên tập. Tạp chí này có tên là “Phụ san Tin sáng”,
một ấn phẩm của “Xă Tân Nguyệt” — hội văn học do Từ Chí Ma thành lập năm
1923, và Thẩm Ṭng Văn sau đó trở thành một trong những thành viên chủ
chốt.
Tại đây, ông làm quen với hai nhà văn khác: Văn Nhất Đa, người đồng sáng
lập hội, và đặc biệt là Hồ Thích, người sau này đă giúp đỡ ông rất
nhiều.
Vào thời điểm đó, ông hoàn toàn khác biệt với chủ nghĩa quốc tế vốn là
đặc điểm của phần lớn các nhà văn cùng thế hệ với ḿnh. Hai tập truyện
được xuất bản khi ấy, dù chất lượng không đồng đều, đều phản ánh đời
sống nông thôn vùng Tương Tây của ông — một thế giới tách biệt , bị xem
là hoang dă.
Từ đó, ông trở thành “nhà văn của quê hương” — danh xưng mà sau này
chính ông cũng từng nhắc đến:
“Tôi vẫn là một con người của quê hương, không thể thích nghi với cuộc
sống nơi đô thị, và đau đáu nhớ về những con người ở nơi ấy — cả những
người sống bên bờ sông lẫn những người ở xa ḍng nước — tôi cảm thấy
dường như không thể nào tách rời khỏi họ… Trong số những câu chuyện của
ḿnh, những tác phẩm tôi yêu thích nhất là những câu chuyện kể về những
số phận buồn đau của cư dân ven sông. V́ thế mà người ta gọi tôi là nhà
văn của quê hương.”
Năm 1927, ông rời Bắc Kinh đến Thượng Hải cùng Hồ Dă B́nh và Đinh Linh,
đúng lúc Từ Chí Ma cũng chuyển hoạt động của hội ḿnh đến đó. Hồ Dă
B́nh, Đinh Linh và ông cùng thành lập nhà xuất bản Hồng Hắc, và hai tạp
chí, nhưng dự án này không kéo dài được lâu. Năm sau đó, dù thiếu nền
tảng đào tạo học thuật chính quy, Thẩm Ṭng Văn vẫn có thể nhận được một
vị trí giảng viên tại một trường học ở Thượng Hải, nhờ sự giúp đỡ của Từ
Chí Ma, sau đó là Hồ Thích — người trở thành hiệu trưởng của trường vào
tháng 9 năm 1929.
Ngôi trường này có tên là “Trường Công lập Trung Hoa”, được thành lập
vào tháng 4 năm 1906 bởi những sinh viên trở về từ Nhật Bản. Thẩm Ṭng
Văn, lúc ấy đă bắt đầu có chút danh tiếng, được giao giảng dạy môn văn
học hiện đại.
Sau đó, ông xuất bản tiểu thuyết đầu tiên của ḿnh, cũng trên một tạp
chí văn học: “Nhật kư du hành của Alice ở Trung Quốc” . Tác phẩm được
giới thiệu một cách đầy mỉa mai như là phần tiếp theo tại Trung Quốc của
cuốn sách “Alice ở xứ sở thần tiên” của Lewis Carroll.
Đây là một tác phẩm châm biếm, chế giễu sở thích sính ngoại của một số
người Trung Quốc, đồng thời cũng khắc họa đất nước như một nơi nghèo
đói, lạc hậu, đứng trước nguy cơ nạn đói, với người dân thiếu hiểu biết
và ch́m trong mê tín.
Đó là một tác phẩm độc đáo, đánh dấu sự thay đổi trong ḍng sáng tác của
ông, vốn trước đó chủ yếu tập trung vào vùng Tương Tây.
Năm 1929, Đinh Linh và Hồ Dă B́nh chuyển đến sống ở Tế Nam. C̣n Thẩm
Ṭng Văn th́ phải ḷng một học tṛ của ḿnh, Trương Triệu Ḥa , người
con thứ ba trong số bốn cô con gái của một gia đ́nh danh giá ở Tô Châu.
Triệu Ḥa được gọi là “mẫu đơn đen” v́ nước da sẫm màu; ông đổi tên gọi
ấy thành “phượng hoàng đen” và gửi cho cô những bức thư t́nh, phần lớn
trong số đó đă thất lạc.
Tuy nhiên, vào tháng 5 năm 1930, Hồ Thích từ chức hiệu trưởng Trường
Công lập Trung Hoa, khiến Thẩm Ṭng Văn không thể tiếp tục ở lại đó. Ông
sau đó nhận một vị trí tại Thanh Đảo, rồi tại Đại học Vũ Hán. Năm 1933,
cuối cùng ông kết hôn với Triệu Ḥa, khi ông đủ can đảm để chính thức
xin phép cha cô.
Năm 1934, ông xuất bản tác phẩm nổi tiếng nhất của ḿnh, “Thành phố biên
giới” , kể về sự thức tỉnh t́nh cảm và bản năng của một cô gái tuổi mới
lớn ở vùng nông thôn Tương Tây, với nền văn hóa gồm những bài hát và
phong tục của người Mèo.
Cũng trong năm đó, ông trở thành biên tập viên chuyên san “Văn học nghệ
thuật” của tờ “Đại Công Báo” — một tờ báo được thành lập tại Thiên Tân
năm 1902, sau này trở thành một trong những nhật báo có ảnh hưởng nhất
Trung Quốc, tự nhận là không theo phe phái dù có khuynh hướng dân tộc
chủ nghĩa.
Năm 1937, ông rời Thượng Hải đến Côn Minh, nơi ông sống trong thời kỳ
chiến tranh Trung – Nhật và giảng dạy tại Đại học Liên hiệp Tây Nam.
Chính tại đây, năm 1943, ông xuất bản một tác phẩm nổi tiếng khác là
“Ḍng sông lớn” .
Trong tác phẩm này, ông kể lại những ǵ ḿnh đă chứng kiến và nghe được
trong bốn tháng sống tại một thị trấn nhỏ ở Tương Tây, miêu tả một thế
giới lư tưởng đang phải đối mặt với những thay đổi nhanh chóng do chiến
tranh và quá tŕnh hiện đại hóa mang lại.
Sau phần giới thiệu khái quát, câu chuyện tập trung vào một chủ vườn cam
và cô con gái của ông; cuộc sống yên b́nh của họ bị đe dọa bởi viên đội
trưởng lực lượng an ninh địa phương — kẻ khinh thường người dân nhưng
lại ham muốn cô gái trẻ.
Thẩm Ṭng Văn biến nhân vật này thành biểu tượng cho những mối đe dọa từ
bên ngoài đang đè nặng lên cuộc sống nông thôn giản dị và trong sáng,
khiến nó càng trở nên mong manh hơn. Ở đây, nghệ thuật của ông đạt đến
đỉnh cao, thấm đẫm tinh thần mục đồng hoài niệm, đồng thời vẫn kiên
quyết tránh xa chính trị.
Năm 1945, ông nhận được vị trí tại Đại học Bắc Kinh, đồng thời tiếp tục
công việc biên tập tại “Đại Công Báo” và một số chuyên san văn học của
các tờ báo khác. Ông vẫn tiếp tục viết truyện ngắn, với những nhân vật
thuộc tầng lớp b́nh dân phải đối mặt với những khó khăn trong cuộc sống,
được ông miêu tả bằng một sự dịu dàng hiếm có trong thời đại đó.
Tuy nhiên, ông ngày càng bị các nhà văn cánh tả chỉ trích v́ không quan
tâm đến đời sống chính trị và từ chối tham gia vào những cuộc đấu tranh
ư thức hệ, bất kể đứng về phía nào.
Năm 1948, ông bị các nhà văn cánh tả công kích dữ dội, đặc biệt là Quách
Mạt Nhược, người cáo buộc ông là kẻ phản động, cố ư hoạt động chống lại
cách mạng.
Sau khi những người cộng sản lên nắm quyền, ông hiểu rằng ở Trung Quốc
không c̣n chỗ cho một nhà văn như ḿnh. Ông đă hai lần t́m cách tự tử,
nhưng cuối cùng vẫn ở lại Bắc Kinh. Chính quyền cộng sản lên án các tác
phẩm của ông. V́ vậy, ông quyết định ngừng viết văn học hư cấu — bản
thân việc đó cũng là một dạng tự sát khác.
Từ năm 1950, ông làm việc tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Trung Quốc và
say mê nghiên cứu. Ông dành tới mười bốn giờ mỗi ngày để nghiên cứu các
báu vật trong bảo tàng; vào mùa đông, ông phải khoác áo bông dày để
chống rét v́ bảo tàng không có hệ thống sưởi.
Vương Tăng Kỳ từng nói rằng ông dành cho công việc nghiên cứu này niềm
say mê giống hệt niềm say mê ông từng dành cho quê hương Tương Tây của
ḿnh. Với ông, những hiện vật ấy, cũng giống như Tương Tây, đều lưu giữ
vẻ đẹp phản ánh nền văn hóa và lịch sử sâu sắc của dân tộc.
Ông làm việc cho đến tận trước ngày qua đời. Trong bốn mươi năm, ông đă
nghiên cứu hàng triệu cổ vật và viết các chuyên khảo về nhiều chủ đề
khác nhau: sau tác phẩm “Rồng và phượng trong nghệ thuật” xuất bản từ
năm 1960, gồm năm mươi ba chương dạng tiểu luận về các h́nh thức nghệ
thuật dân gian khác nhau, ông tiếp tục đào sâu nghiên cứu những chủ đề
cụ thể như gương đồng thời Đường – Tống, đồ sơn mài thời Chiến Quốc, và
“Lịch sử trang phục cổ đại Trung Quốc” xuất bản năm 1981 — tác phẩm nổi
tiếng nhất của ông trong lĩnh vực này.
Theo lời bạn bè, vào thời kỳ đó, mỗi khi nói về vẻ đẹp của nghệ thuật cổ
Trung Quốc, ông luôn nói với sự nhiệt t́nh và xúc động. “Cuộc sống thật
đẹp”, ông từng nói, và những bức ảnh chụp ông lúc ấy cho thấy ông đang
mỉm cười.
Có lẽ chính niềm đam mê ấy đă giúp ông chịu đựng được những thử thách,
dù gặp nhiều khó khăn về vật chất và cá nhân. Tuy nhiên, những bức thư
của ông trong thập niên 1950 và 1960 cho thấy ông đă kiệt quệ và chán
nản, đồng thời phản ánh những lo lắng về sức khỏe, khát khao được viết
nhưng lại không thể viết được.
Năm 1967, trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, ông bị đưa về nông thôn và bị
bắt làm công việc dọn nhà vệ sinh; tài sản của ông bị tịch thu và đốt
bỏ. Giống như nhiều nhà văn khác, ông được phục hồi danh dự vào năm
1978, sau khi Đặng Tiểu B́nh lên nắm quyền.
Tuy nhiên, ông vẫn bị lăng quên trong một thời gian dài: các tác phẩm
của ông bị cấm ở Trung Quốc, bị kiểm duyệt v́ bị xem là “phản động” và
“tư sản”. Ngay cả ở Đài Loan, Thẩm Ṭng Văn cũng từng bị xem là một
người cộng sản!
Nhà văn được công chúng biết đến rộng răi
Chính những đồng nghiệp văn chương đă giúp ông thoát khỏi sự lưu đày
trong đời sống tinh thần vào đầu những năm 1980: các tác giả như A
Thành, Giả B́nh Ao đều thừa nhận ảnh hưởng của ông, cũng như những người
đồng hương của ông ở Hồ Nam.
Tuy nhiên, năm 1983, ông vẫn tiếp tục bị công kích bởi Trần Vân (陈云),
một trong “Bát đại nguyên lăo” của Đảng Cộng sản Trung Quốc, lúc đó đă
chuyển sang công khai đối lập với Đặng Tiểu B́nh.
Trần Vân là một trong những người đầu tiên lên án cái gọi là “ô nhiễm
tinh thần”, dẫn đến chiến dịch được phát động vào tháng 10 năm 1983; và
chính trong bối cảnh đó đă xảy ra cuộc tấn công nhằm vào Thẩm Ṭng Văn.
Kết quả là một số truyện ngắn không xuất hiện trong tuyển tập đă được
chỉnh sửa và xuất bản vào thời điểm đó. Một số tác phẩm khác bị sửa đổi
để loại bỏ những đoạn bị xem là “không đúng về mặt chính trị”, hoặc thêm
vào những nội dung khác, thường nhằm làm cho văn bản trở nên rơ ràng hơn
và loại bỏ những cách hiểu mơ hồ.
Thẩm Ṭng Văn tiếp tục làm việc tại Viện Khoa học Xă hội, trước khi qua
đời tại Bắc Kinh vào năm 1988. Một phần tro cốt của ông được rải xuống
ḍng sông ở Phượng Hoàng, phần c̣n lại được an táng trong một ngôi mộ
đơn sơ giữa khu rừng trên một ngọn núi gần thị trấn nhỏ.
Ngôi mộ được đánh dấu bằng một tấm bia đá đơn giản, trên đó khắc vài câu
chữ trích từ một tác phẩm được người vợ góa của ông xuất bản sau khi ông
qua đời:"Trữ t́nh một cách trừu tượng”
Hiểu thấu tư tưởng của tôi có thể
giúp hiểu được “tôi”,
Hiểu thấu tư tưởng của tôi cũng có thể giúp hiểu được “con người” là ǵ.
Thư gia đ́nh
Ngày nay, Thẩm Ṭng Văn đă đi từ sự lăng quên đến ánh sáng của một danh
tiếng được truyền thông rộng răi. Năm 1987, lệnh cấm các tác phẩm của
ông tại Đài Loan được dỡ bỏ, dẫn đến một “cơn sốt Thẩm Ṭng Văn” ở đó.
Đặc biệt, năm 1998, cuốn “Thư gia đ́nh”: 1930-1966 được xuất bản, gồm
những bức thư trao đổi giữa ông và vợ từ năm 1930 đến năm 1966, được
Trương Triệu Ḥa chọn lọc và biên tập sau khi nhà văn qua đời.
Ở Trung Quốc đại lục, ông trở thành một nhân vật được ưa chuộng, một nhà
văn hợp với thời đại, được các tiểu sử chính thức gọi là “nhà văn người
Mèo” — điều này phù hợp với chính sách công khai nhằm hỗ trợ các nền văn
hóa được gọi là văn hóa thiểu số. Ông cũng được tôn vinh là “cha đẻ của
văn học quê hương” — một cách gọi vừa có phần cường điệu trong trường
hợp thứ nhất, vừa thu hẹp ông trong trường hợp thứ hai.
Hăy quay trở lại với việc đọc các tác phẩm của ông, cố gắng “thấu hiểu
tư tưởng của ông”, hoặc đơn giản hơn, để bản thân được cuốn theo niềm
vui thuần túy của việc đọc…
Phần lớn sáng tác của Thẩm Ṭng Văn là truyện ngắn — có hơn hai trăm tác
phẩm. Một số truyện rất ngắn, được viết với sự cân nhắc kỹ lưỡng từng
câu chữ, và đôi khi được ông sửa đi sửa lại hàng chục lần.
Không phải tất cả các tác phẩm ấy đều lấy Tương Tây và những kư ức của
ông làm chủ đề, nhưng ngay cả khi ông viết về thành phố, th́ bằng cách
này hay cách khác, chúng vẫn luôn liên hệ với đời sống nông thôn.
Điều này phản ánh bầu không khí chính trị của thời kỳ ấy.
Trong ḍng chảy văn học hiện đại Trung Quốc, Thẩm Ṭng Văn là một nhà
văn đặc biệt bởi ông không chỉ kể những câu chuyện về con người mà c̣n
tái tạo cả một thế giới đă mất: thế giới Tương Tây — vùng biên giới phía
tây Hồ Nam, nơi ông sinh ra và trưởng thành. Truyện ngắn “Nơi tôi đă lớn
lên” không đơn thuần là một hồi ức cá nhân về quê hương, mà c̣n là một
bức tranh lịch sử, văn hóa và nhân sinh sâu sắc, thể hiện t́nh cảm gắn
bó của tác giả với vùng đất tuổi thơ và những biến đổi của xă hội Trung
Quốc trong thế kỷ XX.
Trước hết, tác phẩm là một khúc hồi tưởng về quê hương và kư ức cá nhân.
Ngay từ đầu, tác giả thừa nhận sự khó khăn khi bắt đầu viết về nơi ḿnh
đă sống suốt hai mươi năm: đó là một nơi quá quen thuộc nhưng lại khó
diễn đạt bằng lời. Cảm giác ấy thể hiện mối quan hệ đặc biệt giữa con
người và quê hương: quê hương không chỉ là một địa điểm địa lư mà c̣n là
nơi lưu giữ kư ức, cảm xúc và sự h́nh thành nhân cách. Dù Thẩm Ṭng Văn
rời Phượng Hoàng khi mới mười lăm tuổi và gần như không trở lại, ông vẫn
khẳng định nơi ấy luôn hiện diện trong tâm trí ḿnh. Quê hương v́ thế
trở thành một “không gian tinh thần”, tồn tại vượt qua thời gian và
khoảng cách.
Một ư nghĩa quan trọng khác của tác phẩm là sự phục dựng một vùng biên
giới mang tính lịch sử. Phượng Hoàng không được miêu tả như một thị trấn
b́nh thường mà là kết quả của một quá tŕnh lịch sử phức tạp. Nơi đây
từng là vùng tranh chấp giữa chính quyền trung ương và các dân tộc thiểu
số như người Mèo , từng có hệ thống thành lũy, đồn quân sự và các lực
lượng bảo vệ biên giới. Qua việc kể lại nguồn gốc của thành phố, tác giả
cho thấy quê hương ḿnh không chỉ là nơi sinh sống mà c̣n là nơi ghi dấu
những xung đột giữa quyền lực nhà nước, quân sự và cộng đồng địa phương.
Tuy nhiên, điều đặc biệt trong cách nh́n của Thẩm Ṭng Văn là ông không
chỉ nh́n lịch sử bằng con mắt chính trị. Ông không đơn giản kể về chiến
tranh hay sự cai trị, mà tập trung vào đời sống của con người b́nh
thường. Trong tác phẩm, người lính, người nông dân, thương nhân, phụ nữ,
trẻ em, người Mèo đều hiện lên với những nét riêng. Họ có niềm tin,
phong tục, lao động và những ước vọng giản dị. Chính những chi tiết như
lễ cầu mùa, nghi thức thờ thần, các bài hát dân gian, hoạt động buôn bán
vùng núi đă tạo nên một thế giới văn hóa phong phú.
Qua đó, tác phẩm thể hiện quan niệm văn học đặc trưng của Thẩm Ṭng Văn:
con người và đời sống văn hóa mới là trung tâm của lịch sử. Những con
người b́nh dị, dù không xuất hiện trong các sách sử chính thống, vẫn tạo
nên linh hồn của một vùng đất. Nhà văn muốn lưu giữ những giá trị tinh
thần có nguy cơ biến mất trước quá tŕnh hiện đại hóa.
Bên cạnh việc ca ngợi vẻ đẹp của quê hương, tác phẩm c̣n chứa đựng một
cảm giác hoài niệm và mất mát. Thẩm Ṭng Văn nhiều lần nhấn mạnh rằng
mọi thứ đă thay đổi: các pháo đài bị phá hủy, doanh trại trở thành nhà
dân, xă hội cũ biến mất. Sự phát triển hiện đại mang lại thay đổi nhưng
đồng thời cũng xóa đi những dấu vết của quá khứ. Đây chính là nỗi buồn
xuyên suốt sáng tác của ông: nỗi buồn trước sự biến mất của một thế giới
từng tồn tại.
Thiên nhiên trong tác phẩm cũng mang ư nghĩa biểu tượng sâu sắc. Những
ngọn núi, ḍng sông, rừng cây, ruộng lúa, cá dưới sông… không chỉ là
cảnh nền mà trở thành một phần của đời sống con người. Ḍng sông Tương
Tây vừa nuôi dưỡng con người vừa kết nối các cộng đồng. Thiên nhiên hiện
lên như biểu tượng của sự nguyên sơ, hài ḥa — đối lập với những biến
động xă hội và xung đột lịch sử.
Ngoài ra, tác phẩm c̣n phản ánh quan điểm nhân văn của Thẩm Ṭng Văn về
một nền văn hóa đa dân tộc. Sinh ra trong một gia đ́nh có nguồn gốc Mèo
và Thổ Gia, ông luôn quan tâm đến đời sống của các dân tộc thiểu số.
Trong văn bản, người Mèo không bị mô tả như những “đối tượng” cần được
thống trị mà là một cộng đồng có phong tục, tín ngưỡng và bản sắc riêng.
Đây là điểm tiến bộ trong tư tưởng của ông: ông cố gắng nh́n các cộng
đồng bên ngoài trung tâm văn hóa Trung Hoa bằng sự tôn trọng và cảm
thông.
Về nghệ thuật, “Nơi tôi đă lớn lên” thể hiện phong cách đặc trưng của
Thẩm Ṭng Văn: sự kết hợp giữa hồi kư, tự truyện và miêu tả văn hóa.
Ngôn ngữ của ông giàu h́nh ảnh, nhiều chi tiết đời thường nhưng luôn gợi
cảm giác trữ t́nh. Ông không xây dựng một quê hương hoàn toàn lư tưởng
mà là một không gian vừa đẹp vừa chứa đầy mâu thuẫn: có sự yên b́nh
nhưng cũng có bạo lực, có vẻ đẹp nhưng cũng có dấu vết của áp bức và
xung đột.
Tóm lại, “Nơi tôi đă lớn lên” không chỉ là câu chuyện về một thị trấn
nhỏ mà là một tác phẩm về kư ức, căn tính và sự biến đổi của thời đại.
Qua việc tái hiện Phượng Hoàng, Thẩm Ṭng Văn đă lưu giữ h́nh ảnh một
thế giới văn hóa đang dần biến mất, đồng thời thể hiện t́nh yêu sâu sắc
đối với con người b́nh thường. Tác phẩm cho thấy quê hương không chỉ tồn
tại trên bản đồ mà c̣n sống trong kư ức và tâm hồn con người — nơi quá
khứ luôn tiếp tục đối thoại với hiện tại.

“Khi cầm bút viết, tôi chợt muốn viết về hai mươi năm tôi đă sống ở nơi
ấy, về những người tôi đă gặp, những điều tôi đă nghe và cảm nhận; nói
ngắn gọn, là viết về quá tŕnh học hỏi cuộc sống thực sự của tôi. Nhưng
khi nhắc đến thị trấn nhỏ vùng biên giới nơi tôi sinh ra và lớn lên, tôi
thật sự không biết nên bắt đầu từ đâu. Có lẽ tôi nên nói như những người
trong thị trấn vẫn thường nói: “Đó thật sự là một nơi kỳ lạ!”
Hai trăm năm trước, khi người
Măn Châu cai trị vùng đất Trung Quốc, họ đă phái một đội quân đồn trú
đến nơi này nhằm khuất phục và đàn áp những người Mèo cuối cùng c̣n sót
lại. Chính từ thời điểm đó, một thị trấn có tường thành bao quanh và cư
dân bắt đầu h́nh thành ở đây.
Sự ra đời của nơi chốn kỳ lạ này cùng toàn bộ quá khứ của nó được ghi
chép trong Những bản kê về việc pḥng thủ chống lại người Mèo, một tác
phẩm tập hợp các tài liệu hành chính, nhưng chỉ là một tập hồ sơ chính
thức khô khan, nhàm chán và thiếu sức sống.
Tôi muốn giới thiệu ở đây thị trấn nhỏ mà tôi đă từng miêu tả sơ lược
trong một cuốn sách. Dù đó chỉ là một bức phác họa với những nét vẽ lớn,
nhưng ngày nay tất cả những cảnh tượng ở nơi ấy lại hiện lên trong tâm
trí tôi, cứ như thể tôi gần như có thể chạm tay vào chúng.
Nếu một người ṭ ṃ xem một tấm bản đồ có niên đại hơn một thế kỷ, họ có
thể t́m thấy ở một góc rất xa xôi, nằm giữa phía bắc Quư Châu, phía đông
Tứ Xuyên và châu Tương Tây thuộc Hồ Nam, một chấm nhỏ đánh dấu sự tồn
tại của một thị trấn. Giống như tất cả những chấm khác trên bản đồ, trên
thực tế nó biểu thị một thành phố có từ ba đến năm ngh́n cư dân.
Sự tồn tại của một thành phố thường phụ thuộc vào mức độ thuận tiện
trong việc đi lại, các sản phẩm mà nó tạo ra cũng như hoạt động kinh tế
của nó; tất cả những yếu tố này là nền tảng cho sự thịnh vượng hoặc suy
tàn của thành phố. Thế nhưng, lư do tồn tại của nơi này lại hoàn toàn
khác, không phụ thuộc vào những khía cạnh ấy.
Hăy h́nh dung nơi ấy: ở chính giữa là một bức tường thành h́nh tṛn được
xây bằng những khối đá thô sơ nhưng vững chắc, trải rộng ra mọi hướng và
bao quanh thành phố nằm ở vùng biên giới xa xôi ấy; nơi đây có hơn bảy
ngh́n pháo đài nhỏ và khoảng hai trăm doanh trại.
Những pháo đài nhỏ này, được xây từ những khối đá lớn, nằm trên đỉnh núi
và uốn lượn men theo các dăy núi. Các doanh trại được bố trí rất ngay
ngắn dọc theo những tuyến đường chính. Tất cả những thứ đó đă được xây
dựng từ một trăm tám mươi năm trước theo một kế hoạch nghiêm ngặt.
Các pháo đài và doanh trại cách đều nhau, được phân bố một cách đồng đều
trong phạm vi hàng trăm ki-lô-mét xung quanh, nhờ đó giải quyết được vấn
đề những cuộc nổi loạn của người Mèo, vốn thường ẩn náu ở những vùng hẻo
lánh để âm mưu khởi nghĩa. Hai thế kỷ của chính sách chuyên chế dưới
triều đại Măn Thanh nhà Thanh, cùng với những cuộc nổi dậy chống lại chế
độ ấy, đă nhuốm máu mọi con đường và mọi pháo đài.
Giờ đây, tất cả đă kết thúc: phần lớn những pháo đài ấy đă bị phá hủy,
đa số doanh trại đă trở thành nhà ở dân sự, và hơn một nửa các dân tộc
bản địa đă bị đồng hóa.
Vào lúc mặt trời lặn, khi tôi đứng trên đỉnh cao nhất của thành phố uy
nghi, cô độc và bị bao quanh bởi vô số ngọn núi, tôi nh́n những pháo đài
đă đổ nát, gần cũng như xa, và vẫn có thể mơ hồ nh́n thấy lại những cảnh
tượng của thời kỳ mà tiếng trống và ánh đuốc từng vang lên để báo động.
Ngày nay, nơi này đă biến thành một trung tâm quân sự khác. Tất cả mọi
thứ đă thay đổi và phát triển rất nhanh chóng, đồng thời sự tiến bộ ấy
cũng khiến mọi dấu tích của quá khứ biến mất.
Những lữ khách và thương nhân có dịp ngược ḍng sông Nguyên, con sông
trong xanh quanh năm, theo dấu chân của Khuất Nguyên, khi họ dự định đi
vào Quư Châu hoặc Tứ Xuyên bằng đường bộ mà không đi qua vương quốc cổ
Dạ Lang, Vĩnh Thuận hay núi Long, đều biết rằng thị trấn này là nơi an
toàn và dễ chịu nhất để dừng chân nghỉ ngơi.
Ở đây, phần lớn cư dân hiếm khi nghe đến từ “kẻ cướp”. Những người lính,
cũng thân thiện như dân thường, sống ḥa thuận với người dân địa phương.
Tất cả những người nông dân, dũng cảm và trung thực, đều tôn kính thần
linh và tuân theo pháp luật.
Các thương nhân, với đôi quang gánh trên vai, mang theo những tấm vải
hoa in cùng các sản phẩm khác. Một ḿnh họ vẫn ung dung đi đến những
ngôi làng sâu trong núi, buôn bán với người dân địa phương để kiếm một
chút tiền.
Có nhiều loại người cai quản địa phương: ở cấp cao nhất là các vị thần;
đứng thứ hai là các quan lại – những người có học thức; chỉ đứng thứ ba
mới đến những người hầu cận thần linh và các trưởng làng thực hành thuật
phù thủy.
Mọi người đều thành kính và có niềm tin, tôn trọng pháp luật cũng như
những người đại diện cho nhà nước. Trong mỗi gia đ́nh đều có người thực
hiện nghĩa vụ quân sự, và mỗi tháng, mỗi tân binh có thể đến doanh trại
quân đội để nhận một khoản tiền nhỏ cùng một phần gạo và ngũ cốc.
Các tân binh cũng có thể được các quan chức cấp cho một mảnh đất để canh
tác; đó là những phần ruộng đất đă bị chính quyền tịch thu từ hai trăm
năm trước.
Mỗi năm, tùy theo hoàn cảnh kinh tế của gia đ́nh, người dân trong thành
phố đến đền Thiên Vương, nơi họ dâng lễ vật gồm lợn, cừu, chó, gà trống
và cá. Họ cầu xin các vị thần ban cho mùa màng bội thu của năm loại ngũ
cốc, đàn gia súc sáu loại được phát triển thịnh vượng, con cái khỏe
mạnh; đồng thời họ cũng cầu nguyện để tránh khỏi tai ương trong những
lúc bệnh tật, kết hôn hoặc tang lễ.
Mỗi người đều đảm nhận trách nhiệm của ḿnh bằng cách đáp ứng những lời
kêu gọi quyên góp do chính quyền quy định, đồng thời cũng tự nguyện trao
tiền cho những người phụ trách việc thắp hương trong các ngôi đền hoặc
cho các thầy cúng riêng lẻ. Mọi thứ đều vận hành theo một thói quen giản
dị và những phong tục cổ xưa: vào mùa xuân và mùa thu, khi các hoạt động
nông nghiệp bắt đầu và kết thúc, theo truyền thống, những người cao tuổi
đi qua từng nhà để quyên góp tiền và tổ chức các buổi biểu diễn múa rối
để tôn kính các vị thần cai quản đất đai và mùa màng.
Để cầu mưa trong những thời kỳ hạn hán, trẻ em cầm những cành liễu hoặc
những con rồng làm bằng rơm, cùng nhau diễu hành trong khi mang theo
những con chó sống.
Khi mùa xuân đến, người ta thường thấy những người hành lễ mặc áo vàng
đi khắp nơi, vừa di chuyển vừa ngâm những bài hát về nông nghiệp.
Khi một năm sắp kết thúc, người dân khoác lên vị thần sức khỏe được đặt
giữa căn pḥng một bộ trang phục màu đỏ, đồng thời gơ mạnh vào trống tạo
ra âm thanh vang dội như tiếng sấm; những thầy cúng người Mèo, mặc trang
phục đỏ như máu, ca hát và nhảy múa cuồng nhiệt để làm vui ḷng các vị
thần, trong khi tay cầm chiếc tù và bằng sừng ḅ được chạm khắc bằng
bạc, tay kia cầm một thanh kiếm đồng.
Cư dân trong thành phố phần lớn là những binh lính trước đây được phái
đến đây để bảo vệ biên giới và khai khẩn đất đai. Ngoài ra c̣n có những
người đến từ Giang Tây bán vải, những người từ Phúc Kiến bán thuốc lá,
và những người khác từ Quảng Đông bán thuốc.
Xă hội địa phương gồm một số ít những người có học thức và phần lớn là
các quan vơ. Họ h́nh thành một liên minh vừa về chính trị vừa về hôn
nhân, từ đó tạo nên một tầng lớp thượng lưu.
Một mặt, tầng lớp này áp dụng một chính sách quản lư hành chính mang
tính bảo thủ và ổn định nhằm duy tŕ lâu dài; mặt khác, họ kiểm soát
phần lớn đất đai tư nhân.
Tuy nhiên, nguồn gốc của tầng lớp này bắt nguồn từ những người lính được
nhắc đến trước đó.
Ở vùng ngoại ô thành phố, trên những ngọn đồi có những cây ngô đồng và
cây tuyết tùng; trong các mỏ có thần sa và thủy ngân; trong những khu
rừng thông có nấm; trong các hang động có diêm tiêu.
Cả trong thành phố lẫn vùng nông thôn, không thiếu những người lính dũng
cảm và trung thành, đúng với h́nh mẫu của một người lính lư tưởng, cũng
như những người phụ nữ dịu dàng và chăm chỉ, hoàn hảo cho cuộc sống gia
đ́nh.
Từ những căn bếp của trường quân sự tỏa ra những món ăn ngon tuyệt, c̣n
từ miệng những người tiều phu vang lên những bài hát đầy nhiệt huyết và
tuyệt đẹp.
Cách bốn mươi dặm về phía đông nam, gần con sông lớn, một ḍng sông tưới
mát cả thung lũng, nơi sản sinh ra rất nhiều lúa gạo, quưt và bưởi.
Cách hai mươi dặm về phía tây bắc, người ta tiến gần đến vùng cao nguyên
và cộng đồng người Mèo; những dăy núi cao thấp nối tiếp nhau được bao
phủ bởi những cây tuyết tùng lớn xanh tươi và rực rỡ quanh năm.
Một con sông nhỏ bắt nguồn từ một ḍng thác đă tập hợp nhiều nhánh suối
trên núi rồi chảy vào thung lũng được bao quanh bởi những rừng tuyết
tùng.
Dọc theo con sông, những người nông dân đă chế tạo và lắp đặt những
guồng nước bằng tre để dẫn nước lên cao và tưới cho ruộng đất của họ.
Con sông lúc nào cũng trong vắt, có rất nhiều cá rô Trung Quốc, cá diếc
và cá chép; những con lớn nhất có thể dài hơn cả một gang chân của một
người đàn ông.
Trong những ngôi nhà nằm ven sông, người ta thường thấy những cô gái trẻ
cao lớn, nước da sáng, mỉm cười với người qua đường.
Con sông nhỏ ṿng qua phía bắc thị trấn rồi chảy qua một quăng đường dài
một trăm sáu mươi dặm trước khi ḥa vào sông Thần, con sông đổ vào hồ
Động Đ́nh.
Nơi này, c̣n được gọi là Phượng Hoàng Thính, sau khi nước Cộng ḥa được
thành lập đă được nâng lên thành một huyện và mang tên huyện Phượng
Hoàng.
Sau Cách mạng Tân Hợi năm 1911, vị tướng phụ trách miền tây Hồ Nam và
quan đứng đầu khu vực đă đến đóng tại đây.
Dân số địa phương không vượt quá năm đến sáu ngh́n người, trong khi số
binh lính thuộc các đơn vị chính quy đóng tại những cứ điểm pḥng thủ
khác nhau lên tới bảy ngh́n người.
V́ nơi này có đặc điểm riêng biệt, chế độ nghĩa vụ quân sự địa phương
trong quân đội “lục doanh” vẫn c̣n được duy tŕ cho đến ngày nay; và
trên toàn Trung Quốc, đây là hệ thống duy nhất c̣n được bảo tồn.
Tôi đă lớn lên ở thị trấn nhỏ này, nơi mà tôi chỉ rời đi khi mới mười
lăm tuổi. Hai năm rưỡi sau đó, tôi chỉ quay lại nơi ấy một lần duy nhất.
Sau đó, cho đến tận ngày nay, tôi chưa từng đặt chân trở lại nơi này.
Tuy nhiên, nơi ấy vẫn luôn rất quen thuộc đối với tôi. Ngày nay, vẫn c̣n
rất nhiều người đang sống ở đó, c̣n tôi th́ thường xuyên sống trong
những kư ức về thị trấn nhỏ mà quá khứ đă khắc sâu trong tâm trí tôi.
THÂN TRỌNG SƠN
Dịch và giới thiệu
Theo bản tiếng Pháp của Brigitte Duzan
Tháng 6 / 2026
Nguồn:
http://www.chinese-shortstories.com/Nouvelles_de_a_z_SHEN_CONGWEN_prepa_agreg_
202324.htm

Trang Thân Trọng
Sơn
art2all.net |