Thân Trọng Sơn

 

NỤ CƯỜI

John Galsworthy
( 1867 - 1933 )
Giải Nobel Văn học năm 1932

 

John Galsworthy


“ Love is not a hot-house flower, but a wild plant, born of a wet night, born of an hour of sunshine; sprung from wild seed, blown along the road by a wild wind. A wild plant that, when it blooms by chance within the hedge of our gardens, we call a flower; and when it blooms outside we call a weed; but, flower or weed, whose scent and colour are always, wild!”
― John Galsworthy,


“ T́nh yêu không phải là hoa nhà kính mà là cây dại, sinh ra từ đêm mưa, sinh ra từ một giờ nắng; mọc lên từ hạt giống dại, bị gió hoang thổi bay dọc đường. Một loại cây dại mà khi t́nh cờ nở hoa trong hàng rào vườn nhà chúng ta, chúng ta gọi là hoa; và khi nó nở hoa bên ngoài, chúng ta gọi là cỏ dại; nhưng, hoa hay cỏ dại, chúng luôn có hương thơm và màu sắc hoang dại!”

 


          John Galsworthy, nhà văn, nhà viết kịch người Anh, là con trai của một luật sư giàu có. Ông học phổ thông ở Harrow, học luật ở Đại học Oxford. Năm 1890, Galsworthy trở thành luật sư nhưng rồi bỏ nghề, năm 28 tuổi ông đi du lịch nhiều nơi ở Nga, châu Mỹ, châu Đại Dương, và bắt đầu viết văn do chịu ảnh hưởng của người t́nh ( lúc đó đang là vợ của một người anh họ, bảy năm sau, họ mới cưới nhau). Những tác phẩm đầu tiên của ông được xuất bản dưới bút danh John Sinjohn.


Sự nghiệp văn học đích thực của ông bắt đầu từ năm 1904 với tiểu thuyết The Island Pharisees ( Đảo của những người đạo đức giả ). Với tác phẩm này ông đă kư tên thật của ḿnh. Năm 1929, Galsworthy được tặng Huân chương Huân công của Anh. Năm 1932, ông nhận Giải Nobel, nhưng do bị đau nặng nên không thể đến dự lễ, gần hai tháng sau ông qua đời.

Với sự nghiệp sáng tác hơn 30 năm, Galsworthy là một trong những tác giả lớn nhất của nền văn học Anh, có khối lượng tác phẩm đồ sộ: 20 tiểu thuyết, 27 vở kịch, 3 tập thơ, 173 truyện ngắn, 5 tập tiểu luận, 700 bức thư và rất nhiều bút kư, ghi chép khác. Ông là một trong những người sáng lập và là Chủ tịch đầu tiên của International PEN ( 1921 ). John Galsworthy được tặng bằng danh dự của gần chục trường đại học, cao đẳng của nhiều nước trên thế giới. Ông mất ở Hampstead, London.

Ngày nay Galsworthy chủ yếu được nhớ đến với loạt phim The Forsyte Saga. Những người cùng thời đánh giá cao ông như một nhà viết kịch, người có những vở kịch thường đề cập đến các vấn đề xă hội về giai cấp và công lư. Bước đột phá của ông với tư cách là một tiểu thuyết gia đến từ việc xuất bản cuốn The Island Pharisees, cuốn sách chỉ trích tính ích kỷ của giới thượng lưu đầy quyền lực ở Anh. Với The Forsyte Saga – bao gồm ba cuốn tiểu thuyết và hai truyện ngắn – ông đă đi từ một nhà phê b́nh cấp tiến về văn hóa đương đại với sự châm biếm như một vũ khí chính đến việc phác họa chân dung nhân vật ngày càng phức tạp một cách ấm áp hơn.

 



       Ông Thẩm phán BELLIVER bỏ tóc giả ra, ngồi lên chiếc ghế bành trong pḥng nghỉ của ḿnh sau khi đă kết thúc ngày làm việc, ngón tay cái và ngón trỏ vân vê một bên bộ lông mày hăy c̣n sẫm màu của ḿnh. Ông thường ngồi như thế trong mười phút, xem xét lại vụ việc trước khi vứt nó ra khỏi tâm trí cho đến sau bữa ăn tối. Cặp đầu gối muối tiêu của ông bắt chéo nhau, bàn tay c̣n lại gầy g̣, với những sợi lông hơi sẫm màu, xoa xoa chúng một cách vô thức. Khoảng sáu mươi lăm tuổi, và nếu không đẹp trai th́ ít nhất cũng rất ấn tượng, mặt ông vẫn c̣n phần nào nét bất nhân ông mang trong sáu giờ vừa qua. Do áp lực của thủ tục ly hôn, ông đă hủy bỏ các cuộc hôn nhân suốt cả tuần nay - đó không phải là tṛ giải quyết thông thường của ông, và ông sẽ thấy vui hơn nếu có thể làm khác đi; nhưng hôm nay trong đầu ông lại có một điểm khó chịu, giống như có một sợi tóc rơi nhầm vô miệng. Ông vừa tuyên bố quyết định ly dị tạm thời trong một vụ kiện mà Luật sư đă đưa ra kháng cáo rằng, bất chấp lỗi của cô ta thế nào, bị đơn vẫn nên được phép giữ đứa con của cuộc hôn nhân. Trong lời tuyên phán của ḿnh, ông đă nói rơ rằng v́ cô ấy không đề cập đến sự cám dỗ, không đổ lỗi cho người đồng phạm, nên đó là điểm chính của sự phán quyết: cô là một phụ nữ đă có gia đ́nh và đă không giữ đúng lời thề của ḿnh. Và ông đă không ngần ngại làm theo thông lệ là giao quyền nuôi con cho bên không có lỗi.

Ông không nghi ngờ ǵ về khả năng phán đoán của ḿnh, nhưng cảm thấy bất an v́ ông không thể xác định điểm khó chịu mơ hồ đó ở nơi nào. Và khi t́m kiếm nó, con mắt tinh thần của ông xem xét lại h́nh dáng của các bên: Nguyên đơn th́ lạnh lùng và ăn mặc bảnh bao; Bị đơn mặc đồ đen, có lẽ khoảng hai mươi sáu tuổi, mảnh khảnh, xinh đẹp, tóc vàng, ngồi cạnh một người phụ nữ cao, to lớn với khuôn mặt đầy đặn, cũng mặc đồ đen, và rơ ràng là mẹ cô ấy.

Ông sốt ruột đứng dậy, đi đến một ngăn kéo, lấy ra vài chiếc lược và bắt đầu chải mạnh mái tóc bạc của ḿnh.

À! Ông đă t́m ra rồi! Ai đó đă mỉm cười khi ông đưa ra lời phán xét. Lưỡi của ông đă t́m thấy sợi tóc: một kiểu khinh thường ṭa án. Nhưng ai - ở đâu? Là khách dự phiên ṭa ở hành lang? là nhân viên của ṭa án? là người trên băng ghế luật sư? Không, không phải! Người phụ nữ to lớn với khuôn mặt đầy đặn đó - người mẹ -chính bà ta đă mỉm cười! Khó có người mẹ nào lại có thể mỉm cười trong t́nh huống đó; và chính nụ cười - con mắt tinh thần của ông đă cô lập nó ra khỏi đôi môi dày và đôi mắt xanh lấp lánh; nó có một ư nghĩa kỳ lạ, tập trung, một kiểu đố kỵ đầy đe dọa, và - vâng, hoàn toàn, một sự xấc xược chết tiệt! Nếu chuyện đó xảy ra lần nữa, ông sẽ khiến ṭa án phải xóa sạch - hm - à ! một nụ cười!

Ông mở cửa pḥng vệ sinh rồi rửa mặt và rửa tay như thể đang lau vết bẩn. Sau đó, ông đội chiếc mũ chóp cao, nói vài lời với người hầu cận rồi đi ra khỏi Ṭa án. Trời đẹp, ông vẫy tay cho người tài xế  lái xe đi khỏi- ông sẽ đi bộ.

  Khi ông đang rẽ từ Lincoln's Inn Fields vào Long Acre, một chiếc xe hơi đóng kín chạy ngang qua ông, di chuyển rất chậm. Ông Thẩm phán Belliver nh́n lên. Không gian cửa sổ được lấp đầy bởi khuôn mặt của một phụ nữ dưới chiếc mũ lớn màu đen. Chiếc xe di chuyển chậm đến mức trong gần nửa phút, khuôn mặt hồng hào, to tṛn, với đôi mắt xanh long lanh quay về phía ông, và trên khuôn mặt đó là nụ cười. Nó dường như di chuyển lên xuống thân người ông, tra hỏi ông từ đế giày đến đỉnh mũ; Nó dừng lại ở đôi mắt giận dữ của ông, đào bới, cào sâu vào chúng bằng một thứ ma quỷ đeo bám, khiến ông khó chịu và bối rối mănh liệt đến mức mắt ông không thể rời nó. Cái nh́n của đàn ông đôi khi được cho là sẽ lột bỏ quần áo của phụ nữ. Nụ cười của người phụ nữ này đă lột trần ông Thẩm phán Belliver, không phải quần áo, mà là tính tự chủ, ḷng tự trọng, gần như sức kiểm soát của ông. Ông thấy xấu hổ nếu ông đứng lại, quay đầu hoặc băng qua đường, nên ông chỉ vừa đi vừa chịu đựng, thần kinh run rẩy, mặt đỏ bừng; và lúc nào ông cũng có thể thấy người phụ nữ đó vô cùng hài ḷng với nụ cười của ḿnh. Sau đó, chiếc xe đột ngột tăng tốc, chỉ c̣n lại một ḿnh ông, dùng một từ thiếu tế nhị nhất.

Ư nghĩa của nó là ǵ? Ông vắt óc nhớ lại tên người phụ nữ - nó đă được nhắc đến trong vụ án; Mac - Mac - thứ ǵ đó - khá xa lạ với ông, và khuôn mặt của bà ta... không - trừ khi - không, hoàn toàn không rơ!

Một lần nữa ông lại sử dụng từ ngữ không đúng đắn, và với sức mạnh mà cuộc sống đă trao cho ḿnh, ông hướng tâm trí sang những thứ khác - gần như vậy.

Trước khi vào ṭa sáng hôm sau, ông đă đọc kỹ bản báo cáo tóm tắt của vụ án; tên của các bên không truyền đạt ǵ cho ông cả. Gần đến giờ ăn trưa, khi đang đọc quyết định tạm thời ly hôn thứ hai, đôi mắt của ông đảo quanh ṭa án và bị một chiếc mũ đen lớn ở hàng ghế đầu của pḥng trưng bày chặn lại. Bên dưới nó - đúng rồi! - khuôn mặt của người phụ nữ đó đang mỉm cười! Sự trơ tráo của nó! Lạy Chúa, ông sẽ đuổi cổ bà ta ra! LOẠI BỎ! Ông cụp mắt xuống, giận dữ đập găy cây bút trên bàn, cố gắng hoàn thành bản án và tạm hoăn phiên ṭa.

Ông ngồi trước bữa trưa mà không ăn, giận dữ. Ở khoảng cách đó, nụ cười, như thể có bùa mê, trở nên khó chịu, thách thức, khó hiểu hơn bao giờ hết. Đó là một sự khinh thường ṭa án mà ông chưa từng biết đến, nhưng cũng chẳng thể làm ǵ được! Ông phải đối mặt với sự xấc xược của bà ta bất cứ khi nào ông ngồi ở nơi công cộng, miễn là bà ta muốn. Vâng, ai mà quan tâm? Thật là ngớ ngẩn - một nụ cười! Tuy nhiên - có điều ǵ đằng sau nụ cười đó - nó mang một ư nghĩa đáng nguyền rủa nào đó mà ông không thể chạm tới được. Có phải hôm qua ông đă nói điều ǵ ngu ngốc trong phán xét của ḿnh không? Ông đọc quyết định lần thứ hai. Không có ǵ! Không có ǵ ngoài những ǵ ông sẽ nói lại vào phút này, ông đồng ư với từng lời của nó! Vâng, có một điều rơ ràng, nếu ông không thể kết tội bà ta khinh thường ṭa án, ông phải phớt lờ bà ta đi.

Ông thưởng thức món cơm của ḿnh, lúc này gần như đă nguội, uống cạn ly rượu vang đỏ; chải tóc, đội tóc giả và lại ra ṭa.

Khi Luật sư ngồi xuống sau khi mở vụ án mới, ông Thẩm phán Belliver nh́n thấy trong khoảng trống do người mặc áo choàng thả xuống, người phụ nữ dưới chiếc mũ đen lớn đó - đang mỉm cười, vẫn với tính cách ma quỷ, với sự chế giễu, t́m ṭi sự kích động trên khuôn mặt của ông. Cái nh́n chằm chằm của ông, dữ dội trong giây lát, trở nên tàn nhẫn và lạnh lùng. Ông ngả người ra sau, nắm chặt ghế bằng cả hai tay. Ông đă từng nói: “Nếu một người nào đó không thể xử sự đàng hoàng, tôn trọng công lư tại phiên ṭa, tôi sẽ đuổi cổ hắn ra”.

Phù! Thật là một lối thoát! Đây là một câu hỏi về sức mạnh ư chí! Người ta sẽ xem liệu một người phụ nữ có thể đánh bại ông ta ở điểm đó hay không! Bây giờ ông đă thấy rơ rằng bà ta đang muốn hành hạ ông một cách ti tiện. Nếu là vậy—ông sẽ xem sao! Và ông đă làm được. Bởi v́ bất cứ khi nào ông ngước mắt lên để giải quyết vụ án, khuôn mặt của người phụ nữ đó lại xuất hiện và ngay lập tức nụ cười nở ra.

Chưa bao giờ - kể cả sau trận cúm nặng - ông lại phải căng thẳng đến thế khi phải tập trung vào công việc của toà án. Cuối cùng khi tạm dừng, ông ra hiệu cho người dẫn chỗ. Ông định chỉ tay về phía người phụ nữ, đưa ra chỉ dẫn để đuổi bà ta ra.

“Vâng, thưa ngài ?”
"Chiều nay hệ thống thông gió có thể không chạy tốt. Hăy trông chừng điều đó nhé?”
“Vâng, thưa ngài .”

Rồi ông đứng dậy, và khi ông đứng dậy, người phụ nữ cũng đứng dậy và mỉm cười.

Hôm đó lái xe về nhà, ông ngồi nhắm mắt lại. Không phải là một người đặc biệt thiếu trí tưởng tượng, nhưng ông đủ thiếu trí tưởng tượng để nhận ra rằng ḿnh đang tự biến thành kẻ ngốc. Người phụ nữ này đă làm phiền ông để trả thù cho sự phán xét của ông đối với đứa con gái bà ta, nhưng nếu một thẩm phán không có đủ nghị lực để bỏ qua những hành vi ngược đăi nhỏ nhặt như vậy th́ ông ta không phù hợp với công việc của ḿnh! Dù sao th́ ông cũng sẽ cười đẹp nhất, và là người cười sau cùng! Tuy nhiên, vắt óc t́m cách mỉm cười lần cuối, ông vẫn không t́m được.

Sáng hôm sau, ông buộc ḿnh phải xem xét ngay lập tức ở mọi ngóc ngách của ṭa án. Không có người phụ nữ - không có nụ cười! Bà ta đă không xuất hiện. Ngày hôm sau là chủ nhật. Đến sáng thứ Hai, vấn đề đó gần như đă biến mất khỏi tâm trí ông, để lại vết hằn khó chịu của một giấc mơ nham hiểm. Ông cũng đă trở lại King's Bench với công việc cũ của ḿnh; và ông mỉa mai nghĩ rằng không có người phụ nữ nào chịu đựng sự nhàm chán của các vụ án Thông luật chỉ v́ muốn làm phiền ông.

Nhưng nụ cười của bà ta gần như là điều đầu tiên ông nh́n thấy khi bước vào, và ông hoảng hốt trước ảnh hưởng của nó đối với ḿnh. Ư thức rằng nó đă sẵn sàng lao vào khoảnh khắc ông liếc mắt, dường như đă tước đi sự thanh thản và kiên nhẫn rất cần thiết cho việc xét xử các vụ án Thông luật.

Và ngày hôm sau cũng vậy, và ngày tiếp theo nữa.

Ngồi trong câu lạc bộ vào buổi tối thứ ba trước bữa tối, ông nghiêm túc xem xét các phiên ṭa mở ra cho ḿnh để giảm bớt sự phiền toái này. Chỉ c̣n chưa đầy hai tuần nữa là đến kỳ nghỉ lễ Phục sinh, nhưng ông cảm thấy như thể chỉ hai tuần với sự khó chịu hàng ngày này sẽ khiến ông phát ốm. Ư tưởng đuổi bà ta ra hoặc kết tội bà ta khinh thường ṭa án không thực sự quay trở lại với ông - nó quá giống Vua Đỏ trong “Alice in Wonderland;” và điều ǵ sẽ xảy ra nếu giống như Mèo Cheshire, bà ta bỏ lại nụ cười của ḿnh phía sau - v́ vấn đề không phải là người phụ nữ mà là ư nghĩa của nụ cười của bà ta, điều mà giờ đây khiến ông rất lo lắng. Nó có nghĩa ǵ đó—và ông không thể hiểu được ư nghĩa đó! Sau này sẽ c̣n xảy ra những chuyện ǵ nữa đây ? Đến nhà người phụ nữ đó và đối mặt thẳng thắn với bà ta? Không thể nào! Sự cao quư của văn pḥng của ông đă cấm điều đó.

Tương tự, nó không xứng đáng để viết cho bà!

Khai ốm và bắt đầu kỳ nghỉ của ḿnh ngay lập tức? Đó là để lại cho bà ấy chiến thắng!

Nhờ một người bạn can thiệp? Ông không thể tâm sự điểm yếu của ḿnh với một người bạn.

Dùng những ly hun khói? Chúng sẽ chỉ làm mờ tầm nh́n của ông về Luật sư và các nhân chứng, và để lại nụ cười không hề mờ nhạt; giờ đây nó đă trở thành một ám ảnh, quá nặng về mặt tinh thần để có thể loại bỏ theo cách đó. — Người phụ nữ chắc chắn sẽ vui mừng!

Cười nhạo chính ḿnh, và vào bà ta ? Sẽ rất tốt nếu đó chỉ là một thủ đoạn trả thù; nhưng người ta không thể cười vào điều ǵ đó mà người ta không hiểu được.

Ông đứng dậy sau buổi suy nghĩ ngọt ngào, im lặng đó, bất lực, không có phương thuốc hay thuốc an thần. Ông phải kiên tŕ và tin tưởng vào thời gian để hạ gục người phụ nữ. Và với một tiếng thở dài sâu sắc, ông dùng bữa tối.

Người phụ nữ không bỏ lỡ một ngày nào trong mười ngày tiếp theo; trong hai đến ba giờ, sáng hay chiều, bà ta ngồi trong sân của ông và mỉm cười bất cứ khi nào ông cho bà ta cơ hội; và điều đó thường xuyên hơn ông mong muốn, có Chúa biết; v́ khi người cưỡi ngựa gặp một điểm yếu, v́ quá lo lắng, ông ta sẽ luôn ngă vào đó.

Lúc này ông gần như đă mất ư thức về việc mọi chuyện đă bắt đầu như thế nào; người phụ nữ và nụ cười của bà ta vừa hư ảo vừa đau đớn đến vô vọng, như một cơn ác mộng tái diễn. Khi ông tạm hoăn ṭa án để nghỉ lễ Phục sinh, khuôn mặt ông có vẻ vàng vọt, đôi mắt bồn chồn và không vui, đôi lông mày đen nhíu lại dường như mất đi hàng lông rậm quyến rũ. Và người phụ nữ trông tươi tắn, đầy ư nghĩa, như đang giễu cợt dưới chiếc mũ đen lớn như ngày đầu tiên ông thấy bà ta . Bà đă hạ ông.

Chưa bao giờ ông lên tàu đi nghỉ với tâm trạng nhẹ nhơm đến thế. Không khí Brighton sẽ giúp ông ổn định, loại bỏ tất cả những rắc rối thần kinh ngớ ngẩn và sự bực tức này. Ông lái xe từ nhà ga về khách sạn với tâm trạng phấn chấn của một người đàn ông lần đầu tiên ra ngoài sau cơn bạo bệnh. Đi đến bàn làm việc xuyên qua hành lang, ông đi ngang qua hai người phụ nữ. Một người trong số họ quay lại và mỉm cười. Trong một khoảnh khắc ông cảm thấy choáng váng; rồi với ư nghĩ: “Ha! nhưng ở đây tôi không phải là thẩm phán: tôi là đàn ông!”, ông bước tới bàn và đăng kư. Ở đây bà ta không phải là yêu quái có đặc quyền, ông không phải là quan chức bất lực. Ông là đàn ông, bà ta là đàn bà - và bà ta nên biết điều đó!

Ông dành một giờ trước bữa tối để rèn luyện quyết tâm cưng nựng bà ta ở một góc yên tĩnh nào đó và cho bà nửa giờ cuộc đời.

“Thưa bà,” ông sẽ bắt đầu, “tôi nghĩ tôi có lư do để biết mặt bà. Tôi nghĩ bà đă thật tốt khi dành cho tôi những nụ cười nhất định trong ba tuần qua.” Trời ơi, lưỡi của ông sẽ xé nát da bà ta!

Trong pḥng cà phê, ông t́m kiếm từng bàn, nh́n từng khuôn mặt; bà ta không có ở đó. Có lẽ bà ta đă mơ hồ biết được điều ǵ đang xảy ra trước mắt ḿnh; có lẽ bà đă ăn năn về sự liều lĩnh của ḿnh khi theo đuổi ông ở đây.

Sau bữa tối, ông tiếp tục không ngừng t́m kiếm từng khuôn mặt; ông không nh́n thấy bà ở đâu cả, và cuối cùng, mệt mỏi, ông ngồi xuống pḥng khách, nơi có một tấm b́nh phong ngăn gió lùa, và ngả lưng vào ghế hút điếu x́ gà một cách yếu ớt. Thất vọng, kiệt sức v́ cảm giác man rợ dâng trào này, ông ngủ gật.

Ông bị đánh thức bởi những giọng nói. Hai người phụ nữ đang nói chuyện ở đâu đó gần ông.

“Và anh ấy không biết là em từ Eve tới - điều đó chẳng phải là vô giá sao? Chị ơi, em đă có khoảng thời gian tuyệt vời trong đời. Ngay từ lúc anh ấy phán quyết rằng cháu Kathleen không được trao quyền nuôi con, chế nhạo nó và không hiểu rằng chính Charles đă truy đuổi cháu, em đă quyết định phải trả đũa anh ấy. Anh ấy—anh ấy—sao lại là anh ấy trong số tất cả đàn ông chứ? Tại sao, chị có biết không, hai mươi bảy năm trước, trong cuộc hôn nhân đầu tiên của em, khi em mới hai mươi ba tuổi, thon thả và xinh đẹp như một thiên thần - Chị à, em đẹp như vậy đấy, mặc dù chị sẽ không nghĩ vậy! - anh ấy - anh ấy - lúc đó anh ấy đang là một luật sư, và khá giả - anh ấy yêu em hết sức cuồng nhiệt; muốn em trốn đi cùng anh. Và đúng ra em cũng tính làm vậy đó chị, nếu lúc đó em đang không mang bầu cháu Kathleen. Anh ấy - anh ấy! Anh ấy hoàn toàn quên mất rằng anh ấy cũng từng là người trần với máu và xác thịt ! Và bây giờ! Ôi chúa ơi! Thật là một kẻ lừa đảo! Thật là một kẻ giả dối, trong bộ tóc giả quư giá của ḿnh! Xin chào!”

Tấm b́nh phong bỗng nhiên chao đảo. Ông Thẩm phán Belliver, bật dậy khỏi chiếc ghế bị đẩy vội vă, ông đứng một tay đỡ lấy tấm b́nh phong đang rơi xuống, tay kia nắm chặt ve áo khoác dạ, như muốn giấu đi những cảm xúc trong lồng ngực. Môi ông run rẩy, mỏng và không c̣n chút máu v́ bị nén; với đôi mắt sâu hoắm, ông nh́n người phụ nữ vừa nói, và khi ông nh́n, bà mỉm cười.

Ông khẽ gục đầu, thả rơi tấm b́nh phong rồi run rẩy bước đi; và trong gương, ông thấy nụ cười của bà ta dần nhạt đi, thay vào đó là sự ăn năn, gần như thương xót.


THÂN TRỌNG SƠN
dịch và giới thiệu
( tháng 2 / 2025 )


Nguồn:
https://americanliterature.com/author/john-galsworthy/short-story/the-smile/


 

 

Trang Thân Trng Sơn

art2all.net