Thân Trng Sơn

 

TÙ BINH


(Guy de Maupassant)
( 1850 - 1893 )

 

 

          Tên thật là Henri René Albert Guy de Maupassant, sinh ra trong một gia đ́nh quư tộc bị phá sản. V́ cha mẹ bất hoà, ngay từ nhỏ Maupassant theo mẹ về sống tại Étretat, vùng quê cạnh biển, lớn lên trong t́nh yêu thiên nhiên. Khi tṛn 13 tuổi, Maupassant được gởi đến học một trường ḍng tại Yvetot nhưng vốn hiếu động và đa cảm, Maupassant tỏ ra không thích nghi với kỷ luật nghiêm khắc của nhà trường: trong giờ học thường hay vẽ viết bậy trên giấy và làm đầu têu nhiều tṛ nghịch ngợm. Bị đuổi học, Maupassant được gởi đến học ở trường trung học tại Rouen, rồi trường luật ở Caen.

Năm 20 tuổi, ông nhập ngũ, tham gia cuộc chiến tranh Pháp - Phổ ( 1870-1871 ). Sau đó ông làm viên chức ở Bộ Hải quân (1873) rồi Bộ Giáo dục (1878 ).

Được sự d́u dắt tận t́nh của nhà văn Gustave Flaubert, một người bạn thân của mẹ ông, năm 1873, Maupassant bắt đầu viết văn. Nhưng măi đến năm 1880, ông mới thực sự nổi tiếng với truyện ngắn Boule de suif, với bối cảnh cuộc chiến tranh Pháp - Phổ, trong đó, ông kịch liệt châm biếm, đả kích bọn quư tộc hèn nhát, bạc nhược, không hề tỏ ra chút dũng khí nào trước kẻ thù. Bên cạnh những người thuộc tầng lớp thượng lưu, nhân vật cô gái điếm, biệt danh là Boule de suif, lại tỏ ra lương thiện và tử tế nhất. ( Truyện này, khoảng 40 trang, đă được dịch sang tiếng Việt với nhan đề " Viên mỡ ḅ ". Trước đây, Nguyễn Hiến Lê dịch là Thùng nước lèo. ) Thành công lớn của tác phẩm này khiến ông quyết định từ bỏ cuộc sống viên chức và chuyển hẳn sang nghề viết văn. Ông cộng tác với nhiều tờ báo ( Le Figaro, Gil Blas, Le Gaulois, l'Écho de Paris... ) và kư nhiều bút danh khác nhau.

Văn nghiệp của ông chỉ vẻn vẹn mười năm ( 1881-1890 ) nhưng ông cũng để lại cho đời trên 300 truyện ngắn, 6 tiểu thuyết, 3 tập kư sự du lịch và một tuyển tập thơ.

Về tiểu thuyết, ông thành công nhất với tác phẩm Une vie ( Một cuộc đời ) mà ông đă bỏ ra 6 năm để hoàn thành (1883). Trong ṿng một năm, tác phẩm đă phát hành được 25 ngàn bản và Lev Tolstoy không tiếc lời ca ngợi: " Đây là tác phẩm lớn nhất của văn học Pháp, sau Những kẻ khốn cùng. (1) ".

Đề tài trong các truyện ngắn của Maupassant rất phong phú, đa dạng, gắn liền với cuộc sống thường ngày của tầng lớp trung lưu và hạ lưu của xă hội đương thời. Maupassant là một trong những bậc thầy của thể loại truyện ngắn. Các tác phẩm của ông thể hiện tài quan sát chính xác, đi sâu vào bản chất sự vật, và nghệ thuật chọn lựa chi tiết điển h́nh làm nổi bật tâm lư và tính cách của nhân vật. Tất cả nội dung đó được diễn đạt bằng ng̣i bút trong sáng, giản dị, tự nhiên, súc tích.

Những năm cuối đời, Maupassant mắc bệnh thần kinh, luôn bị ám ảnh bởi sự cô đơn và cái chết. Người đọc theo dơi các tác phẩm của Maupassant sẽ nhận ra rằng từ năm 1883, ông đă viết nhiều truyện ngắn về đề tài cái chết, hoặc liên quan đến cái chết: Auprès d'un mort ( Bên một người chết ), Suicide ( Tự sát ), Lettre trouvée sur un noyé ( Bức thư t́m thấy ở người chết đuối ), La tombe ( Ngôi mộ ), La morte ( Người đă khuất ), Le Noyė ( Người chết đuối ), Le condamnė à mort ( Người bị kết án tử h́nh ) ...

Bệnh t́nh ngày càng trầm trọng, ông đă có lần tự sát nhưng không chết. Sau 18 tháng hầu như hôn mê hoàn toàn, năm 1893, ông từ trần trong một dưỡng trí viện ở Paris.

(1) Les misérables, tác phẩm của Victor Hugo.

Guy de Maupassant là một trong những bậc thầy của truyện ngắn Pháp. Ông từng trực tiếp trải qua cuộc chiến tranh Pháp–Phổ (1870–1871), v́ vậy nhiều tác phẩm của ông phản ánh sâu sắc những đau thương, nghịch lư và bản chất con người trong chiến tranh. Les Prisonniers (Tù binh) là một trong những truyện tiêu biểu ấy. Không kể về những trận đánh lớn hay các vị tướng lừng danh, Maupassant đưa người đọc đến một căn nhà nhỏ giữa rừng, nơi một cô gái giữ rừng bằng sự b́nh tĩnh và thông minh đă bắt sống sáu người lính địch. Đằng sau câu chuyện tưởng như hài hước ấy là những suy ngẫm sâu sắc về ḷng yêu nước, sức mạnh của trí tuệ, bản chất chiến tranh và phẩm giá của con người.

Ngay từ những trang đầu, Maupassant dựng lên một khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp nhưng đầy ám ảnh. Tuyết phủ trắng khu rừng, mọi âm thanh dường như bị nuốt chửng trong sự tĩnh lặng mênh mông. Thiên nhiên hiện ra thanh b́nh, trong sáng, nhưng chính trong không gian ấy chiến tranh đang len lỏi từng bước. Cái đẹp của rừng tuyết càng làm nổi bật sự phi lư của cuộc xung đột giữa con người với con người. Thiên nhiên không đứng về phe nào; chỉ có con người mang theo ḷng thù hận, nỗi sợ hăi và khát vọng sinh tồn. Nhân vật trung tâm của truyện là Berthine. Maupassant không xây dựng cô như một nữ anh hùng theo kiểu sử thi. Cô chỉ là con gái của một người giữ rừng, quen lao động chân tay, khỏe mạnh và gan dạ. Chính sự b́nh thường ấy làm nên giá trị đặc biệt của nhân vật. Khi sáu người lính Phổ xuất hiện trong t́nh trạng đói khát và kiệt sức, Berthine không tấn công họ ngay mà trước hết vẫn đối xử như những con người cần được cứu giúp. Cô nấu súp, chia thịt, rót rượu táo cho họ. Hành động ấy phản ánh truyền thống nhân đạo của người dân nông thôn Pháp: ḷng hiếu khách và sự thương người không bị chiến tranh xóa bỏ.

Tuy nhiên, ḷng nhân hậu ấy không đồng nghĩa với sự ngây thơ. Berthine hiểu rất rơ rằng những người trước mặt vẫn là quân xâm lược. Khi cơ hội đến, cô lập tức nghĩ ra kế hoạch lừa họ xuống hầm rồi khóa chặt lại. Điều đáng chú ư là Maupassant không để nhân vật chiến thắng bằng sức mạnh thể chất mà bằng trí thông minh và sự b́nh tĩnh. Trong hoàn cảnh chỉ có hai người phụ nữ đối diện với sáu người lính có vũ trang, mọi hành động liều lĩnh đều đồng nghĩa với cái chết. Chính sự nhanh trí đă biến yếu thành mạnh, biến người bị đe dọa thành người làm chủ t́nh thế.

Berthine v́ thế trở thành biểu tượng cho sức mạnh của người dân thường trong chiến tranh. Cô không mang quân hàm, không chỉ huy binh lính, nhưng chính cô là người tạo nên chiến công. Qua nhân vật này, Maupassant khẳng định rằng ḷng yêu nước không chỉ thể hiện trên chiến trường mà c̣n hiện diện trong sự can đảm của những con người vô danh.

Một điểm đáng chú ư khác là cách Maupassant khắc họa những người lính Đức. Họ không bị mô tả như những con quỷ khát máu. Họ đói, mệt, lạc đường và chỉ xin được ăn. Họ ngồi ngoan ngoăn như những đứa trẻ, ngủ say sau bữa ăn, run rẩy khi tưởng quân Pháp kéo đến và cuối cùng đầu hàng khi nước dâng ngập hầm. Nhà văn không hạ thấp nhân phẩm của họ. Trái lại, ông cho thấy họ cũng là những con người b́nh thường bị chiến tranh cuốn vào cuộc xung đột.

Chính sự miêu tả ấy làm nổi bật tư tưởng nhân văn của Maupassant. Đối thủ trên chiến trường vẫn là con người. Điều đáng lên án không phải bản thân những người lính mà là chiến tranh đă biến họ thành kẻ xâm lược và đồng thời thành nạn nhân của hoàn cảnh lịch sử.

Yếu tố hài hước là một nét đặc sắc của truyện. Từ việc sáu người lính bị nhốt trong hầm, cảnh dân quân thi nhau chạy ngang ô thông hơi như trẻ con chơi tṛ đuổi bắt, cho đến kế hoạch bơm nước vào hầm để buộc đối phương đầu hàng – tất cả đều mang màu sắc trào lộng. Tiếng cười ở đây không nhằm chế giễu nỗi đau của chiến tranh mà nhằm làm giảm bớt sự căng thẳng, đồng thời phơi bày sự ngớ ngẩn của chiến tranh. Những người tự nhận là quân đội hùng mạnh cuối cùng lại bị khuất phục bởi một cô gái nông dân và một chiếc máy bơm nước. Chiến thắng ấy không dựa trên bạo lực mà dựa trên óc sáng tạo.

Tuy nhiên, phía sau tiếng cười vẫn là bi kịch. Maloison – người thợ làm bánh béo tốt – bị bắn trọng thương chỉ v́ một tṛ nghịch ngợm tập thể. Chi tiết này nhắc người đọc rằng chiến tranh không bao giờ là tṛ chơi. Chỉ một viên đạn cũng đủ biến tiếng cười thành nước mắt. Maupassant luôn đặt sự hài hước cạnh cái bi để người đọc nhận ra sự mong manh của sinh mạng con người.

H́nh ảnh nước trong đoạn kết cũng mang ư nghĩa biểu tượng. Người Pháp không dùng thuốc nổ hay lửa để tiêu diệt đối phương mà dùng nước để buộc họ đầu hàng. Nước vốn là biểu tượng của sự sống, nhưng trong hoàn cảnh ấy lại trở thành công cụ chiến thắng. Cách kết thúc này vừa bất ngờ vừa thể hiện phong cách kể chuyện giàu sáng tạo của Maupassant. Đó không phải chiến thắng bằng sự hủy diệt mà là chiến thắng bằng mưu trí, giúp đối phương đầu hàng mà không cần đổ thêm máu.

Truyện c̣n đặt ra một nghịch lư đáng suy ngẫm. Berthine vừa cứu sống những người lính Đức khỏi chết đói, vừa bắt họ làm tù binh. Hai hành động tưởng như đối lập nhưng thực ra thống nhất với nhau. Cô tôn trọng sự sống của họ, nhưng vẫn trung thành với đất nước ḿnh. Đó là sự phân biệt rạch ṛi giữa ḷng nhân đạo và nghĩa vụ công dân. Maupassant qua đó gửi gắm một quan niệm tiến bộ: yêu nước không nhất thiết phải đồng nghĩa với ḷng căm thù vô hạn; bảo vệ Tổ quốc vẫn có thể đi cùng với sự tôn trọng phẩm giá của đối phương.

Về nghệ thuật, Tù binh thể hiện rơ tài năng của Maupassant trong việc xây dựng cốt truyện ngắn. T́nh huống truyện được phát triển tự nhiên nhưng liên tục tạo bất ngờ: từ cuộc gặp gỡ trong đêm tuyết, kế hoạch giam giữ, cuộc bao vây của dân quân đến màn “tấn công bằng nước” độc đáo. Nhịp kể nhanh, đối thoại sinh động, chi tiết chọn lọc và khả năng kết hợp giữa căng thẳng với hài hước khiến câu chuyện vừa hấp dẫn vừa giàu ư nghĩa. Đặc biệt, nhân vật Berthine được khắc họa chủ yếu qua hành động thay v́ những lời miêu tả dài ḍng, tạo nên một h́nh tượng sống động và đáng nhớ.

Có thể nói, Tù binh không chỉ là một truyện kể về việc bắt giữ sáu người lính Phổ. Đó là bản ca ngợi trí tuệ của người dân b́nh thường, ḷng yêu nước gắn với ḷng nhân ái, đồng thời là lời phê phán kín đáo đối với sự phi lư của chiến tranh. Maupassant cho thấy trong những thời khắc khốc liệt nhất, điều làm nên chiến thắng không chỉ là súng đạn mà c̣n là bản lĩnh, sự b́nh tĩnh và trí thông minh. Chính những phẩm chất ấy giúp con người giữ được nhân tính ngay giữa băo táp của lịch sử. Bởi vậy, sau hơn một thế kỷ, Tù binh vẫn là một truyện ngắn có giá trị bền vững, nhắc nhở người đọc rằng ḷng can đảm lớn nhất không phải lúc nào cũng nằm trên chiến trường, mà nhiều khi xuất hiện trong những căn nhà nhỏ, nơi những con người b́nh dị âm thầm bảo vệ quê hương bằng trí tuệ và ḷng nhân hậu.
 


 

          Trong khu rừng không một tiếng động, ngoài âm thanh khe khẽ của những bông tuyết rơi trên cành cây. Tuyết đă rơi từ giữa trưa, những hạt tuyết nhỏ mịn phủ lên cành lá một lớp rêu băng mỏng, trải trên đám lá khô dưới bụi cây một mái bạc mong manh, giăng trên các lối ṃn một tấm thảm trắng dày, mềm mại, đồng thời làm cho sự tĩnh lặng vô biên của biển rừng càng trở nên sâu thẳm.

Trước cửa ngôi nhà của người giữ rừng, một cô gái trẻ xắn tay trần đang bổ củi bằng chiếc ŕu trên một tảng đá. Cô cao lớn, mảnh mai nhưng khỏe mạnh, đúng là con gái của núi rừng, sinh ra và lớn lên trong gia đ́nh kiểm lâm.

Từ trong nhà, một giọng nói vọng ra:

— Chỉ c̣n hai mẹ con ḿnh ở nhà tối nay thôi, Berthine, vào đi con. Trời sắp tối rồi, biết đâu bọn Phổ với sói đang lảng vảng ngoài kia.

Người con gái vừa bổ mạnh một khúc gỗ vừa đáp. Mỗi nhát ŕu làm lồng ngực cô căng lên khi hai cánh tay vung cao.

— Con xong rồi, mẹ. Con vào ngay đây. Chẳng có ǵ phải sợ đâu, trời vẫn c̣n sáng mà.
Nói xong, cô mang những bó củi và khúc gỗ vào chất dọc theo ḷ sưởi, rồi lại bước ra đóng các cánh cửa chớp bằng gỗ sồi dày nặng. Sau cùng trở vào nhà, cô cài chặt những thanh then lớn nơi cửa chính.

Bà mẹ ngồi quay sợi bên bếp lửa. Đó là một bà lăo đầy nếp nhăn, tuổi già khiến bà trở nên nhút nhát.

Bà nói:

— Mẹ không thích mỗi khi cha con đi vắng. Hai người đàn bà th́ yếu lắm.

Cô gái đáp:

— Dù sao th́ con cũng giết được một con sói hay một tên lính Phổ.

Vừa nói, cô vừa liếc nh́n khẩu súng lục lớn treo trên ḷ sưởi.

Chồng cô đă bị động viên nhập ngũ ngay từ đầu cuộc xâm lược của quân Phổ. Hai mẹ con ở lại với người cha là ông già Nicolas Pichon, biệt danh “C̣ Hương”, người giữ rừng già đă nhất quyết không chịu rời căn nhà để vào thành phố.

Thành phố gần nhất là Rethel, một thành tŕ cổ xây trên mỏm đá. Dân thành phố vốn rất yêu nước. Họ quyết định chống lại quân xâm lược, cố thủ trong thành và chịu đựng một cuộc vây hăm theo truyền thống của quê hương ḿnh.

Đă hai lần, dưới thời vua Henri IV và vua Louis XIV, người dân Rethel từng lập nên những chiến công pḥng thủ oanh liệt. Lần này họ cũng sẽ làm như thế, bằng mọi giá; hoặc họ sẽ bị thiêu cháy ngay trong chính những bức tường thành của ḿnh.

V́ vậy, họ mua đại bác và súng trường, tổ chức lực lượng dân quân, lập thành các tiểu đoàn và đại đội. Suốt ngày, họ tập luyện trên quảng trường Vũ Khí.

Từ người thợ làm bánh, chủ tiệm tạp hóa, người bán thịt, công chứng viên, luật sư, thợ mộc, người bán sách cho đến cả các dược sĩ đều thay phiên nhau diễn tập theo giờ giấc quy định dưới quyền chỉ huy của ông Lavigne, nguyên là hạ sĩ quan kỵ binh, nay là chủ tiệm tạp hóa sau khi cưới con gái và thừa kế cửa hàng của ông Ravaudan già.

Ông được phong làm chỉ huy trưởng lực lượng pḥng thủ thành phố. V́ tất cả thanh niên đều đă ra trận, ông tập hợp toàn bộ những người c̣n lại thành các đơn vị dân quân để luyện tập kháng chiến.

Những người béo đi ngoài đường đều bước thật nhanh để giảm cân và tăng sức bền; những người gầy th́ mang vác vật nặng nhằm rèn luyện cơ bắp.

Mọi người chờ quân Phổ kéo đến.

Nhưng quân Phổ vẫn chưa xuất hiện.

Tuy nhiên, chúng cũng không ở xa, v́ đă hai lần toán trinh sát của chúng băng qua khu rừng tới tận căn nhà của Nicolas Pichon, biệt danh “C̣ Hương”.

Ông lăo giữ rừng chạy nhanh như một con cáo đă vào thành báo tin. Đại bác lập tức được chĩa sẵn, nhưng quân địch vẫn không lộ diện.

Ngôi nhà của ông C̣ Hương trở thành tiền đồn giữa khu rừng Aveline. Mỗi tuần hai lần, ông vào thành mua lương thực, đồng thời mang cho dân trong thành những tin tức từ vùng nông thôn.

Hôm ấy, ông đi để báo rằng một toán bộ binh Đức nhỏ đă ghé nhà ông vào chiều hôm kia, khoảng hai giờ, rồi rời đi gần như ngay lập tức. Viên hạ sĩ quan chỉ huy nói được tiếng Pháp.

Mỗi lần đi như vậy, ông đều mang theo hai con chó dữ to lớn, mơm như sư tử, v́ sợ bầy sói ngày càng trở nên hung dữ. Ông dặn hai người phụ nữ phải khóa chặt cửa nhà ngay khi trời bắt đầu tối.

Người con gái chẳng sợ ǵ cả, nhưng bà mẹ th́ lúc nào cũng nơm nớp lo âu và luôn miệng nói:

— Thế nào rồi mọi chuyện cũng kết thúc chẳng lành. Mẹ biết chắc là vậy.

Tối hôm ấy, bà c̣n lo lắng hơn thường lệ.

Bà hỏi:

— Con có biết cha con mấy giờ mới về không?

— Chắc phải đến mười một giờ. Mỗi lần ăn tối với ông chỉ huy là cha đều về khuya.

Berthine đang treo nồi lên bếp nấu súp th́ bỗng khựng lại. Cô vừa nghe thấy một âm thanh mơ hồ vọng xuống theo ống khói.

Cô khẽ nói:

— Có người đang đi trong rừng. Ít nhất cũng bảy, tám người.

Bà mẹ hoảng hốt, dừng hẳn chiếc guồng quay sợi:

— Trời ơi! Mà cha con lại không có nhà!

Bà chưa dứt lời th́ những tiếng đập cửa dữ dội làm rung chuyển cả cánh cửa.

Thấy trong nhà im lặng, một giọng nói khàn và nặng vang lên:

— Mở cửa!

Rồi sau một lát lại quát:

— Mở cửa, nếu không tôi phá cửa!

Berthine lặng lẽ nhét khẩu súng lục lớn vào túi váy, ghé tai sát cửa rồi hỏi:

— Ai đấy?

Giọng nói đáp:

— Chính là toán lính hôm trước.

— Các ông muốn ǵ?

— Chúng tôi lạc đường từ sáng trong rừng cùng cả đơn vị. Mở cửa đi, nếu không tôi sẽ phá cửa.

Berthine không c̣n lựa chọn.

Cô nhanh tay rút các thanh then, kéo cánh cửa nặng ra.

Trong ánh sáng nhợt nhạt phản chiếu trên nền tuyết, cô thấy sáu người lính Phổ — đúng là những người đă đến hôm trước.

Cô cất giọng cứng rắn:

— Giờ này các ông đến đây làm ǵ?

Viên hạ sĩ quan lặp lại:

— Chúng tôi lạc đường, hoàn toàn lạc đường. Tôi nhận ra ngôi nhà này. Từ sáng đến giờ chúng tôi chưa ăn ǵ cả, cả đơn vị cũng vậy.

Berthine đáp:

— Nhưng tối nay chỉ có tôi với mẹ tôi ở nhà.

Người lính có vẻ hiền lành nói:

— Không sao đâu. Chúng tôi sẽ không làm hại ai. Chỉ xin bà cho chúng tôi chút ǵ ăn. Chúng tôi đói và kiệt sức lắm rồi.

Người phụ nữ lùi lại:

— Vào đi.

Họ bước vào, người phủ đầy tuyết. Trên những chiếc mũ sắt là lớp tuyết dày như kem trắng khiến họ trông giống những chiếc bánh trứng đường. Ai nấy đều mệt lả, kiệt sức.

Berthine chỉ vào hai dăy ghế dài hai bên chiếc bàn gỗ lớn.

— Mời ngồi. Tôi sẽ nấu súp cho các ông. Thật t́nh trông các ông mệt quá.

Rồi cô khóa cửa lại.

Cô đổ thêm nước vào nồi, cho bơ và khoai tây vào, sau đó lấy từ ống khói xuống một miếng thịt muối treo sẵn, cắt đôi và thả một nửa vào nồi nước dùng.

Sáu người lính chăm chú theo dơi từng cử động của cô với ánh mắt của những người đói khát. Họ đặt súng và mũ sắt vào một góc rồi ngoan ngoăn ngồi trên ghế dài như những cậu học tṛ.

Bà mẹ lại tiếp tục quay sợi nhưng thỉnh thoảng vẫn nh́n trộm những người lính xâm lược bằng ánh mắt đầy sợ hăi.

Trong căn nhà chỉ c̣n nghe tiếng guồng quay khe khẽ, tiếng củi nổ lách tách trong ḷ và tiếng nước sôi lục bục.

Bỗng nhiên, một âm thanh kỳ lạ khiến tất cả cùng giật ḿnh.

Đó là tiếng thở kḥ khè ngay dưới cánh cửa, tiếng thở mạnh và nặng như của một con thú.

Viên hạ sĩ quan Đức lập tức nhảy bổ về phía những khẩu súng.

Berthine ra hiệu ngăn lại rồi mỉm cười:

— Sói đấy. Chúng cũng giống các ông thôi: đi lang thang v́ đói.

Người lính bán tín bán nghi, muốn tận mắt nh́n.

Vừa khi cánh cửa mở ra, ông ta thấy hai con sói xám to lớn phóng đi bằng những bước chạy dài và nhẹ trên nền tuyết.

Viên hạ sĩ quan quay lại ngồi xuống, lẩm bẩm:

— Tôi không ngờ lại có sói thật.

Rồi ông ta ngồi chờ bữa ăn được dọn.

Sáu người lính ăn ngấu nghiến. Miệng họ há rộng đến tận mang tai như muốn nuốt được nhiều hơn; đôi mắt trợn tṛn theo từng nhịp quai hàm, c̣n từ cổ họng phát ra những tiếng ùng ục như nước chảy trong máng xối.

Hai người phụ nữ lặng lẽ nh́n những bộ râu đỏ rung lên theo từng miếng ăn. Những củ khoai tây dường như biến mất giữa những đám râu xồm chuyển động ấy.

Nhưng v́ khát nước, cô gái giữ rừng xuống hầm lấy rượu táo cho họ. Cô ở dưới khá lâu.

Đó là một căn hầm nhỏ có mái ṿm. Người ta kể rằng vào thời Cách mạng Pháp, nơi này từng được dùng làm ngục giam và chỗ ẩn náu. Muốn xuống hầm phải đi theo một cầu thang xoắn hẹp, được đậy kín bằng một cánh cửa sập nằm ngay giữa nền bếp.

Khi Berthine trở lên, cô mỉm cười một ḿnh, nụ cười đầy vẻ tinh nghịch và kín đáo. Rồi cô đưa b́nh rượu cho những người lính Đức.

Sau đó, cô và mẹ cũng ngồi ăn ở đầu bên kia của gian bếp.

Ăn xong, sáu người lính đều ngủ gục quanh chiếc bàn. Thỉnh thoảng một cái đầu gục mạnh xuống mặt gỗ phát ra tiếng “cộp” khô khốc, rồi người lính giật ḿnh tỉnh dậy, lại ngồi thẳng lên.

Berthine nói với viên hạ sĩ quan:

— Các ông cứ nằm ngủ trước ḷ sưởi đi. Chỗ rộng đủ cho cả sáu người đấy. Tôi với mẹ lên pḥng trên.

Hai người phụ nữ lên tầng. Người ta nghe tiếng họ khóa cửa pḥng, đi lại một lúc, rồi tất cả ch́m vào im lặng.

Những người lính Phổ trải áo choàng xuống nền đá, gối đầu lên những chiếc áo cuộn tṛn, chân hướng về phía lửa. Chẳng bao lâu sau, cả sáu cùng ngáy vang, mỗi người một giọng, lúc cao lúc trầm, ḥa thành một bản hợp xướng đều đều và dữ dội.

Họ đă ngủ rất lâu th́ đột nhiên một tiếng súng nổ vang lên, gần đến mức tưởng như phát ra ngay sát bức tường ngôi nhà.

Sáu người lính bật dậy tức th́.

Nhưng ngay sau đó lại thêm hai phát súng nữa, rồi tiếp theo là ba phát liên tiếp.
Cánh cửa tầng trên bật mở.

Berthine xuất hiện, chân đất, chỉ mặc áo lót và chiếc váy ngắn, tay cầm ngọn nến, vẻ mặt hốt hoảng.

Cô lắp bắp:
— Quân Pháp đến rồi! Ít nhất cũng hai trăm người! Nếu họ phát hiện các ông ở đây, họ sẽ đốt cả ngôi nhà. Mau xuống hầm đi, đừng gây tiếng động. Chỉ cần các ông gây tiếng động là tất cả chúng ta đều chết.

Viên hạ sĩ quan kinh hăi nói:

— Được… được… xuống bằng lối nào?

Berthine vội mở cánh cửa sập vuông nhỏ.

Sáu người lính lần lượt đi xuống chiếc cầu thang xoắn, lùi từng bước để ḍ bậc bằng chân.

Ngay khi chóp chiếc mũ sắt cuối cùng khuất hẳn, Berthine lập tức sập mạnh cánh cửa gỗ sồi dày như một bức tường, cứng như thép, được gắn bản lề và ổ khóa chắc chắn như cửa ngục.

Cô xoay ch́a khóa hai ṿng dài.

Rồi cô bật cười.

Một nụ cười không thành tiếng, đầy khoái chí.

Cô chỉ muốn nhảy múa ngay trên đầu những tên tù binh của ḿnh.

Dưới hầm hoàn toàn im lặng.

Họ bị nhốt trong một chiếc hộp đá kín mít, chỉ c̣n nhận được chút không khí từ ô cửa thông hơi có chấn song sắt.

Berthine liền nhóm thêm lửa, đặt nồi lên bếp nấu lại nồi súp và lẩm bẩm:

— Đêm nay cha sẽ mệt lắm đây.

Rồi cô ngồi chờ.

Chỉ c̣n tiếng quả lắc đồng hồ đưa đi đưa lại đều đặn trong căn pḥng tĩnh mịch.

Thỉnh thoảng cô lại nh́n mặt đồng hồ với vẻ sốt ruột như muốn nói:

— Sao thời gian trôi chậm thế!

Không lâu sau, cô nghe thấy những tiếng nói khe khẽ dưới chân ḿnh.

Những lời th́ thầm lẫn lộn vọng lên xuyên qua mái ṿm bằng đá.

Những người lính Phổ bắt đầu hiểu rằng họ đă bị mắc mưu.

Chẳng mấy chốc, viên hạ sĩ quan leo lên cầu thang, đấm mạnh vào cửa sập và hét:

— Mở cửa!

Berthine bước lại gần rồi cố t́nh bắt chước giọng Đức của ông ta:

— Ông muốn ǵ?

— Mở cửa!

— Tôi không mở đâu.

Viên hạ sĩ quan nổi giận:

— Mở ra, không th́ tôi phá cửa!

Cô phá lên cười:

— Cứ phá đi, ông bạn! Cứ phá đi!

Ông ta liền dùng báng súng nện liên tiếp vào cánh cửa gỗ sồi.

Nhưng cánh cửa ấy có lẽ c̣n chịu nổi cả máy bắn đá công thành.

Berthine nghe ông ta bước xuống.

Sau đó, từng người lính thay nhau thử sức, t́m cách phá khóa.

Nhưng rồi họ hiểu mọi cố gắng đều vô ích, đành quay xuống hầm và tiếp tục bàn bạc.

Berthine lắng nghe một lúc, rồi mở cửa ngoài, đưa tai lắng nghe màn đêm.

Từ xa vọng lại tiếng chó sủa.

Cô huưt sáo như một người thợ săn.

Gần như ngay lập tức, hai con chó khổng lồ lao ra khỏi bóng tối, nhảy chồm lên mừng chủ.

Cô túm cổ chúng giữ lại rồi hét thật lớn:

— Cha ơi!

Một giọng nói từ rất xa đáp lại:

— Berthine!

Cô đợi vài giây rồi gọi nữa:

— Cha ơi!

Giọng nói đă gần hơn:

— Berthine!

Cô lập tức dặn:

— Đừng đi ngang qua ô thông hơi! Có lính Phổ dưới hầm!

Ngay lúc ấy, bóng dáng cao lớn của ông già hiện ra giữa hai thân cây.

Ông lo lắng hỏi:

— Lính Phổ dưới hầm à? Chúng làm ǵ ở đó?

Berthine cười lớn:

— Chính là bọn hôm qua đấy. Chúng lạc trong rừng, con dọa chúng bằng mấy phát súng rồi nhốt luôn xuống hầm.

Cô kể lại toàn bộ câu chuyện.

Ông già nghiêm nghị hỏi:

— Giờ ḿnh làm ǵ với chúng?

— Cha vào thành gọi ông Lavigne cùng dân quân đến. Họ sẽ bắt chúng làm tù binh. Ông Lavigne chắc mừng lắm.

Ông Pichon mỉm cười:

— Đúng là ông ấy sẽ thích lắm.

Berthine nói tiếp:

— Súp c̣n nóng đấy. Cha ăn nhanh rồi đi ngay.

Ông già ngồi xuống ăn, đồng thời đặt hai đĩa đầy xuống đất cho hai con chó.

Nghe tiếng người nói chuyện, bọn lính Phổ dưới hầm đều im bặt.

Mười lăm phút sau, ông Pichon lên đường.

Berthine chống cằm bằng hai tay, lặng lẽ chờ đợi.

Dưới hầm, đám tù binh lại bắt đầu náo động.

Họ la hét, gọi nhau, liên tục dùng báng súng đập điên cuồng vào cánh cửa sập không hề lay chuyển.

Sau đó họ bắn nhiều phát súng qua ô thông hơi, hy vọng một đơn vị quân Đức đi ngang sẽ nghe thấy.

Berthine vẫn ngồi bất động.

Nhưng tiếng ồn khiến cô bực bội.

Một cơn tức giận dữ dội dâng lên.

Cô chỉ muốn giết quách cả bọn để chúng câm miệng.

Rồi v́ quá sốt ruột, cô liên tục nh́n đồng hồ, đếm từng phút.

Cha cô đă đi được một tiếng rưỡi.

Hẳn giờ này ông đă tới thành.

Trong trí tưởng tượng, cô thấy ông kể lại sự việc với ông Lavigne.

Ông chỉ huy tái mặt v́ xúc động, gọi người hầu mang quân phục và vũ khí đến.

Cô như nghe thấy tiếng trống báo động vang khắp các con phố.

Những khuôn mặt hoảng hốt hiện ra bên cửa sổ.

Các chiến sĩ dân quân vội vă lao khỏi nhà, vừa chạy vừa cài thắt lưng, hối hả tập trung về nhà vị chỉ huy.

Rồi cả đội quân, ông Pichon dẫn đầu, lên đường trong đêm tuyết hướng về khu rừng.

Berthine lại nh́n đồng hồ.

“Có lẽ chỉ một giờ nữa họ sẽ tới.”

Sự nôn nóng khiến cô gần như không chịu nổi.

Từng phút dài như vô tận.

Cuối cùng kim đồng hồ cũng chỉ đúng thời điểm cô dự tính.

Cô mở cửa bước ra lắng nghe.

Một bóng người đang tiến lại cẩn thận.

Cô giật ḿnh kêu lên.

Đó là cha cô.

Ông nói:

— Họ cử cha đến xem có ǵ thay đổi không.

— Không. Mọi chuyện vẫn thế.

Ông già lập tức huưt một hồi c̣i dài và chói tai.

Chẳng bao lâu, một bóng đen từ từ hiện ra dưới những hàng cây.

Đó là toán tiên phong gồm mười người.

Ông Pichon liên tục nhắc:

— Đừng đi ngang ô thông hơi!

Những người đến trước cũng chỉ cho những người mới vị trí chiếc ô cửa nguy hiểm.

Sau cùng, toàn bộ lực lượng kéo đến: hai trăm dân quân, mỗi người mang theo hai trăm viên đạn.

Ông Lavigne run lên v́ kích động.

Ông bố trí quân bao vây kín ngôi nhà, chỉ chừa một khoảng trống rộng trước ô thông hơi nhỏ sát mặt đất.

Sau đó ông bước vào nhà hỏi t́nh h́nh quân địch.

Dưới hầm hoàn toàn im lặng, đến mức người ta có thể tưởng rằng chúng đă biến mất.

Ông Lavigne giậm chân lên cửa sập rồi gọi:

— Thưa sĩ quan Phổ!

Không ai đáp.

Ông gọi lần nữa.

Vẫn im lặng.

Trong suốt hai mươi phút, ông liên tục kêu gọi viên sĩ quan đầu hàng cùng toàn bộ binh lính, hứa bảo đảm tính mạng và dành đầy đủ danh dự quân sự.

Nhưng không nhận được bất kỳ câu trả lời nào.

T́nh h́nh trở nên khó xử.

Trong khi đó, các chiến sĩ dân quân đứng dậm chân trên tuyết để chống rét, đập mạnh hai cánh tay vào vai cho ấm người.

Ai nấy đều ṭ ṃ nh́n ô thông hơi, càng lúc càng muốn chạy thử ngang qua.

Cuối cùng một người tên Potdevin, thân h́nh nhanh nhẹn, lấy đà rồi lao vụt qua như một con nai.

Không có phát súng nào.

Một tiếng reo vang lên:

— Không có ai cả!

Một người khác cũng chạy qua.

Thế là thành tṛ vui.

Từng người một chạy băng qua khoảng trống như trẻ con chơi tṛ đuổi bắt.

Lửa được nhóm lên sưởi ấm.

Trong ánh lửa, bóng những người lính dân quân vụt qua từ bên này sang bên kia.

Có người hét:

— Đến lượt Maloison!

Maloison là một bác thợ làm bánh rất béo, cái bụng khiến ai cũng phải cười.

Ông ngần ngừ.

Mọi người trêu chọc.

Cuối cùng ông hít một hơi, bước những bước nhỏ đều đặn, cái bụng lớn rung lên theo từng nhịp.

Cả toán cười nghiêng ngả.

Họ reo:

— Cố lên, Maloison!

Ông vừa đi được khoảng hai phần ba quăng đường th́…Một luồng lửa đỏ dài phụt ra từ ô thông hơi.

Tiếng súng nổ vang.

Bác thợ bánh ngă sấp xuống tuyết với một tiếng kêu kinh hoàng.

Không ai dám lao đến cứu.

Một lúc sau, người ta thấy ông ḅ bằng cả hai tay hai chân trên tuyết, rên rỉ đau đớn.

Ra khỏi khoảng trống nguy hiểm, ông bất tỉnh.

Viên đạn cắm vào phần trên của bắp đùi, nơi đầy thịt.

Sau giây phút kinh hăi đầu tiên, đám đông lại bật cười.

Đúng lúc ấy, ông Lavigne bước ra khỏi căn nhà.

Ông đă nghĩ xong kế hoạch.

Ông hô lớn:

— Anh thợ thiếc Planchut và các thợ của anh!

Ba người bước tới.

— Tháo toàn bộ máng xối của ngôi nhà!

Chỉ mười lăm phút sau, họ mang đến khoảng hai mươi mét máng xối.

Ông Lavigne cẩn thận khoan một lỗ tṛn nhỏ ở mép cửa sập, nối các đoạn máng từ chiếc máy bơm nước đến lỗ ấy rồi vui vẻ tuyên bố:

— Chúng ta sẽ mời các ngài người Đức uống nước!

Một tiếng hoan hô vang dội bùng lên.

Mọi người cười, reo ḥ không ngớt.

Ông chia quân thành nhiều tổ, cứ năm phút thay nhau bơm.

Rồi ra lệnh:

— Bơm!

Chiếc cần sắt bắt đầu chuyển động.

Tiếng nước chảy dọc theo máng rồi đổ ào xuống hầm, róc rách như một ḍng thác nhỏ.

Một giờ trôi qua.

Rồi hai giờ.

Rồi ba giờ.

Ông Lavigne đi đi lại lại trong bếp, thỉnh thoảng áp tai xuống nền nhà nghe ngóng.

Dưới hầm vang lên tiếng kéo thùng, tiếng nước b́ bơm, tiếng người nói.

Đến khoảng tám giờ sáng, từ ô thông hơi vang lên tiếng gọi:

— Tôi muốn nói chuyện với viên chỉ huy Pháp.

Ông Lavigne đứng bên cửa sổ đáp, không dám tḥ đầu ra quá xa:

— Các ông đầu hàng chứ?

— Chúng tôi đầu hàng.

— Vậy hăy ném súng ra ngoài.

Ngay lập tức từng khẩu súng được đẩy qua ô thông hơi, rơi xuống tuyết.

Giọng nói lại vang lên:

— Chúng tôi hết súng rồi. Mau lên! Chúng tôi sắp chết ch́m.

Ông Lavigne ra lệnh:

— Ngừng bơm!

Chiếc máy bơm dừng lại.

Ông cho lính đứng kín trong bếp, súng sẵn sàng, rồi từ từ mở cửa sập.

Bốn cái đầu tóc vàng ướt sũng nhô lên trước.

Tiếp đó, cả sáu người lính Đức lần lượt trèo ra, run lập cập, nước nhỏ tong tong, gương mặt thất thần.

Họ lập tức bị trói chặt.

Để pḥng bất trắc, đoàn người lên đường ngay.

Một đoàn áp giải tù binh.

Đoàn kia khiêng Maloison trên một tấm nệm buộc vào hai cây sào.

Họ trở về Rethel trong tiếng reo ḥ chiến thắng.

Ông Lavigne được trao huân chương v́ đă bắt sống một toán tiền quân Phổ.

C̣n bác thợ làm bánh béo Maloison được tặng Huân chương Quân công v́ bị thương trước quân thù.
 


THÂN TRỌNG SƠN
Dịch và giới thiệu
Tháng 7 / 2026

 


Nguồn:
http://maupassant.free.fr/textes/prisonniers.html


 

art2all.net