|
ĐIỆP KHÚC TÌNH TANG
Mấy mụ bán cá ở chợ Đông Ba nổi tiếng hàm hồ. Gặp dịp là mấy mụ cứ nhảy chồm chồm, vỗ đôm đốp, múa may xỉa xói trông thiệt khéo hơn tài tử múa bông, miệng ngoai ra như miệng cá ngão phun tràn ngập đủ thứ các con giống mượn của mấy ông cũng như cái giống của chính mụ xong oang oang hùng hổ kể tội địch thủ bắt đầu từ ba đời mụ cô nhọn mồm của bà cả Đoại đến tổ tông vạn đợi đành hanh của anh Hai Hót. Đánh nhanh, đánh mạnh, đánh nhịp nhàng vì mấy mụ còn phải bán cá, không có nhiều thì giờ, chứ kéo dằng dai thì cá ươn không ai mua. Chiến thuật phủ đầu của mấy mụ bán cá chợ Đông Ba thường thắng lợi vẻ vang vì đa số các bạn hàng hoặc những người đi chợ thường chủ trương chín bỏ làm mười, tranh chấp làm chi với quân bán cá cho ỏm óc. Vì vậy, trò ca kịch chớp nhoáng nầy thường có tính cách độc thoại, khán thính giả nhiều khi chưa kịp hiểu thì đã hạ màn. Buổi chợ vẫn tự nhiên như mọi khi. Mấy mụ bán cá lại thêm rạng danh tiếng hàm hồ, cho dẫu có người chưa hề chứng kiến khả năng của mấy mụ cũng vẫn đem lòng kiêng dè giữ thế. Ngôn ngữ hàng tôm hàng cá trơn tuột như lươn và nghe khó chịu như cái xương răm của con cá rô châm chích trong cổ họng. Lui tới cũng bấy nhiêu từ diễn qua âm thanh the thé như mảnh sành cạo nứa, thoát ra rồi thì gió bảy bụi tre, ồn ào thì có ồn ào thiệt, nhưng có chi mô mà ngại. Thiểm nhất là ánh mắt của mấy kẻ bàng quan, thiệt đúng với câu Quan trên xét xuống, người ta trông vào, có độn thổ cũng không hết trẻng! Chọc mấy mụ bán cá chỉ có nước lỗ. Lỗ ngay tại chỗ, lỗ tự lúc khởi đầu, nhưng khi ra khỏi phạm trường thì mạnh ai nấy sống! Dư âm trả lại cho tiếng con dao cạo vảy cá nghe rồn rột chẳng chút bận tâm! Sóng nước Thuận An vẫn rì rầm và tâm hồn mụ bán cá vẫn đơn giản bộc trực như hạt cát biển đông. Tấm áo màu lá chuối non, màu vàng nghệ hay màu đen nâu xôm xốp là điển hình của nền văn hóa miệt biển. Màu sắc sáng tươi lấp lánh như lân tinh trên mình con cá thu vừa kéo lên thuyền trong buổi sáng tinh sương, đơn giản trinh nguyên từ biển cả thấm nhập vào tâm hồn người dân chài qua bao nhiêu thế hệ. Từ màu thoáng vàng tươi khi mắc phải lưỡi câu, con cá thu đổi dần sang màu lục rồi cuối cùng là màu xanh đen đậm đặc nằm cuốn tròn tênh hênh trong rổ trước khi được cắt ra từng khúc bày bán trong chợ Đông Ba. Ngày Tết ngày nhứt, cần sắm manh áo mới, lựa màu nào cho hợp để khi tròng vào, bà con làng nước khỏi phải bàn ra. Nước da đen thiệt hợp với màu vàng, nhưng màu vàng nhạt lụa là óng ánh mỡ gà là màu vua chúa, dành cho mấy o ở mô trong Huế trong Dinh họ mặc. Dân ăn gạo nước mặn chan nước mắm biển như miềng thì nên mược màu vàng lục, màu nhựa chai là tốt nhứt. Màu lục là màu xanh lá mạ, là màu lá chuối non, là màu của con cá thu vừa mới kéo ra khỏi mặt biển hứa hẹn cho một ngày thiệt bề của dân xuất thân từ chiếc nốt. Màu dầu rái nâu đen trát thuyền, trát thúng u ám thân thương quen thuộc chẳng sợ kẻ khác tranh giành. Sau khi thuyền vào bãi, cá được lựa ra bán cho các bạn hàng chờ sẵn. Một số nhỏ cá tôm được xếp sang một bên để vợ hoặc con gái đem vô làng hoặc chợ quận đổi gạo chứ không cần phải gánh đi mô cho ngái cho xa. Tính tình của những người trong gia đình dân chài phần đông hiền lành như củ khoai. Chỉ mấy mụ bạn hàng chuyên môn buôn qua bán lại mới trần đời rộn chuyện. Thiệt là cảnh một con sâu làm rầu nồi canh dù rằng mấy mụ bán cá ở bên chợ Đông Ba cũng xuất thân từ miệt biển thể hiện qua giọng nói mặn mòi như hạt muối sống của họ, và không hiểu tại sao họ vẫn cứ mãi hàm hồ? Không những hàm hồ mà còn mang nặng thói làm đày quá độ trần sanh. Trời mùa đông ướt át, chợ búa khó khăn, lượn quanh chờ mua cho được khúc cá dỡ vừa ý về kho nước cũng nhọc lòng. Mua khúc cá dỡ ăn đỡ qua ngày, mụ bán cá làm đày miệng nói dày tay cắt mỏng. Mang tên là cá dỡ nhưng lại là loại cá ngon nhứt chợ. Chắc có lẽ càng bán cá ngon, mụ càng lộ sự hàm hồ! Hàm hồ mặc mụ, trách cá dỡ kho đúng điệu ăn vẫn thấy thiệt ngon. Biết đâu chừng, bữa cơm càng thêm khoái khẩu vì những lời phê bình dí dỏm về sự hàm hồ của mụ bán cá. Con đường từ Thuận An lên chợ Đông Ba, ngang qua thôn Vỹ Dạ và phủ Thoại Thái tức phủ Ba Cửa bình an chi lạ. Mấy mụ bán cá hàm hồ vẫn qua lại hàng ngày. Cau liên phòng và trúc Quan Âm vẫn xanh mát hai bên đường. Ngồi trên xe đang chạy, mấy mụ ăn trầu vẫn hồn nhiên nhổ phẹt qua cửa mặc gió đánh tạt tứ tung. Nói chuyện về ai cần phải lôi luôn cả tên cha hay mẹ người đó ra kèm một bên xác tín, vì chỉ nội trong vòng chưa tới mười cái tên xấu nhất của đất nước Thừa Thiên được dùng tới dùng lui cho tất cả những người sinh trưởng ở các vạn đò dễ gây lầm lẫn. Tên gọi hàng ngày, cho dù thiệt có xấu và khó nghe cách mấy đi nữa lúc bình thường còn gọi được, huống chi gặp lúc cả ba mụ Bành ngồi lại với nhau. Có dịp xem tế làng, nghe bài Đăng Đàn Cung mà tụi con nít sửa lại là bài Chè Xôi Chuối mấy mụ khen hay rối rít, lại còn bàn lén với nhau là một khi ống trúc lớn thổi nghe kêu ò è, ống trúc nhỏ nghe kêu liu ly, hai ống hợp lại nghe thiệt hay. Nếu như cắt nguyên cả bụi trúc đem vô làm ống sáo xong kêu đủ người thổi một lần thì chắc nghe hay không biết chừng mô mà kể. Ngôn ngữ bày tỏ sự bất bình của mấy mụ bán cá ở chợ Đông Ba dính liền với đời sống của họ như một nét đặc thù, dễ dàng như trong bữa cơm họ vẫn thường bưng nguyên tô canh lên húp kêu xoẹt một tiếng ngon lành khỏi cần chan ra bát làm chi cho mất công kiểu cách như mấy người trong Huế trong Dinh. Trong buổi hò giả gạo, họ có thể cười mím chi trong khi ông Hè, ông Chái và cô Sen đối đáp với nhau trong lối huê tình đâm xóc; hoặc biết trước khi Hạng Võ sẽ làm gãy chèo vì quá mạnh tay trong màn hát Bội lộ thiên trước sân đình. Tâm hồn của mấy mụ hàm hồ nầy chắc vẫn dễ dàng như ăn cơm với cá, không óc mó chua cay như của một số người thuộc thành phần cao hơn trong xã hội. Dùng lời nói để hành hạ người đối thoại theo ý của mình được thể hiện tùy theo trình độ từ chỗ văn dĩ tải đạo của kẻ bộc trực đơn giản đến ý tại ngôn ngoại của kẻ bóng bẩy giàu ngôn ngữ và sau hết có thể nói huấn ca diễn nghĩa của giới thượng lưu. Bình thường, lối hàm hồ như những mụ bán cá ngoài chợ Đông Ba thì bất kỳ ở đâu cũng có. Từ chỗ ầm ầm giông bão Nam kỳ như của bà Tùng Long trong ngày Đại Hội Văn Bút Việt Nam thời Đệ Nhị Cọng Hòa, đến chói lói càn khôn Hà Nội qua giai thoại Ba Giai Tú Xuất, hoặc cần phải xuất cảng qua Pháp để chửi lủng tai Đức tặc trong thời đệ nhị thế chiến theo như lời bàn của Vũ Năng Khiếu trong cuốn Đất Lề Quê Thói, khẩu chiến đạt đến mức độ thượng hạng ngoại hạng ở chốn Đế đô. La hét múa may, bày tỏ sự giận dữ chứng tỏ sự tầm thường của những kẻ lục lục thường tài như mấy mụ hàng cá hàng tôm. Các từ gây bậy, đánh bậy, cãi bậy, chửi bậy... đều rõ ràng là bậy tuốt. Đã cho là bậy thì đừng làm. Có làm thì làm cho đúng, nếu không người ta cười cho đến độ cắt mặt vứt đi không kịp. Do đó, người ta thường tránh dùng tiếng chưởi, vì chưởi là bậy, trong những lúc chẳng đặng đừng. Thường dùng trong các hình thức răn bảo, nói cho chừa, khuyên nên chấm dứt những việc mà ta cho là khó coi...Từ một vài lời nói đơn sơ, nhẹ nhàng dễ nghe đến những câu văn hoa vần luật mà người nghe cần phải có trình độ mới hiểu thấu. Y như mụ bán cá ở chợ Đông Ba, chắc hẳn mấy mụ phải qua nhiều lần xem hát và phải thuộc tuồng bản mới hiểu được cảnh Hạng Võ Quá Ô Giang hoặc cảnh Trung Hiếu Vẹn Toàn trong tuồng San Hậu. Tuy vậy, trình độ thẩm thấu của mụ bán cá khác với anh làm vườn, và càng khác xa với trình độ của các ông Phán, bà Đốc, bà Tham vẫn thường vô ra rạp hát bà Tuần ở ngả giữa. Ngoài ra, nói làm chi cho ngạ với các mệ các cô trong mấy phủ phòng, chỉ cần phán một vài lời là cũng đủ làm thiên hạ nứt óc, đổ hào quang. Anh làm vườn có thể than phiền với chị bếp là cậu ấm hôm nay có vẻ bạc tình với mục đích ám chỉ bình nước chè chị om không được đậm. Trong bữa ăn, cụ Phán kể chuyện làm gàu múc nước, trỏ việc dọn canh mà quên cái muỗng cái thìa, hoặc anh Cả tỏ ý sắp đi Đà Nẵng chơi, tiện thể ghé Nam Ổ la mấy người làm nước mắm vì họ không chịu gánh ra bán cho cậu như đã hứa nên tô canh bữa ni có vẻ hơi lạt. Tô canh lỏng bỏng được chấm giải cho làm tô canh toàn quốc. Chê người ta là tra, là già mà cứ ngọt ngào khen em ngây thơ bách diệp. Nói lái ba đời ai cũng phải chạy mặt kiểu tư hiền. Cần chi phải to tiếng nặng lời. Cho dẫu có dài dòng văn tự chút tí cũng chỉ tô điểm thêm chút thân mật văn hoa. Chim khôn kêu tiếng rảnh rang, người khôn ăn nói dịu dàng dễ nghe. Dịu dàng luôn ngay cả trong những lời phiền trách. Dịu dàng trong những lúc thốt ra những lời thấm thía chua cay. Trời vừa chớm lạnh, vội khoác thêm chiếc áo len thì được người ta khen rằng mình là hiện thân của một con người căn bản, chắc ăn... nghe thiệt là muốn bể cái đầu. Ban đêm họp bạn, nếu lỡ lớn tiếng đàn hát vui đùa thì y như rằng sáng hôm sau được hàng xóm hỏi là nghe nói có mấy người bạn trong Biên Hòa ra thăm phải không? Cứng cựa thì xác nhận ngay là có mấy người bạn đến chơi nhà, nhưng phủ nhận mạnh mẽ rằng thì là không phải từ Biên Hòa mà là Chợ Quán cho ra vẻ tám lạng nửa cân, để bên nầy có điên thì bên kia cũng mất trí là huề. Thì cũng là những lời thăm hỏi thông thường, nhưng lắm lúc mang hai ba ý nghĩa. Có khi, vì quá bóng bảy cao siêu thành thử hóa ra cảnh đàn gảy tai trâu, như cảnh ngươi (ngươi: không có dấu huyền) sinh viên kia vốn dân khác xứ, gốc bạch đinh, đến nhà người bạn chơi. Sau khi qua khỏi tấm bình phong và cái bể cạn, gặp ngay ông cụ thân sinh của bạn đang đứng trong sân ngắm mây hoàng hôn bay. Ngươi sinh viên huỵch toẹt vô đề ngay: “Bác...Bác...Cho hỏi thăm...” thì được đáp lại bằng những lời ngọt ngào êm như ru: “Kính bẩm dạ thưa anh, xin phép anh cho tôi vài phút để tôi sửa soạn, sau đó mời rước anh vô nhà xong sẽ hân hạnh hầu chuyện cùng anh...”. Ngươi sinh viên kia ngây thơ cười toe, đứng chờ hoài chẳng thấy ai ra. Rất lâu, thấy đứa nhỏ ra bảo là cả nhà đi vắng, hẹn lần khác hãy tới chơi. Mấy năm sau ra trường, đến ngày về xứ ngươi sinh viên kia vẫn không hiểu tại sao người ta lại đối xử một cách kỳ cục khó hiểu như dzậy?! Xét cho cùng, ông thân sinh người bạn anh sinh viên kia thuộc loại khó khăn hiếm có. Người Bắc vẫn cho tiếng chào cao hơn mâm cỗ. Người Huế có kẻ xét nét, bắt lỗi bắt phải nói năng xóc óc khó vàng trời. Có chi với chẳng có chi! Hồi còn nhỏ tí tì ti cũng đã học đòi thứ đối đáp làm đày làm láo cho ra kiểu thượng lưu văn vẻ với bạn đồng lớp: “Ta mô có giận mi làm chi cho mệt... Ta chỉ vái trời đừng để ta khinh mi thôi...! Ta mất dạy hỉ? Rứa thì mi làm ơn chỉ dùm ta mất dạy ở chổ mô để ta sửa, ta rất đội ơn mi” . Lớn lên chút nữa, lời nói trở thành tra rụi thêm chút dạy đời: “Nói như mi thiệt rõ ràng là không biết kiêng nễ cha già mẹ yếu. Nói như mi chứng tỏ mi là một kẻ ăn chưa no lo chưa tới khiến cho ta rất lấy làm thương tiếc cho mi. Một kẻ như mi, thoáng trông qua cũng có vẻ bình thường, nhưng xét cho cùng chẳng qua mi chỉ là một con người bệnh hoạn tinh thần, đói ăn kiến thức. Thôi ta khuyên mi ráng về đọc thêm vài vạn cuốn sách để mở mang thêm tí hiểu biết, hoặc ít ra cũng có chút căn bản để may ra có thể nói chuyện với người vốn rất kém cõi như ta.” Càng ngày, ngôn ngữ càng tinh tiến. Càng dịu ngọt, càng dễ lọt tới xương. Nghe cứ y như là ca dao. Nghe cứ như là một khúc huê tình. Cần chi phải học cho cao, giữ chức cho lớn mới nói được những câu nặng gánh trần đời. Kẻ nho nhã có dáng điệu thong dong, lời nói vào khuôn vào phép, thượng hạ phân minh. Không cần phải là con nhà quan để mỗi khi mở miệng nói ra mới có gang có thép. Con nhà bình dân nói ra nghe cũng nhức nhối như dần! Nói gần nói xa chẳng qua nói thiệt, ở một nơi mà ai cũng quen nhau như ri, lỡ có điều chi không nên không phải sợ gây ra cảnh không vừa ý chẳng bằng lòng thì cũng nên đóng cửa dạy nhau, chứ chơi cảnh vạch áo cho người xem lưng coi không đặng. Mấy anh thanh niên, khi đứng chung với nhau thì họ dùng thứ ngôn ngữ riêng của mấy anh. Mấy mệ cũng rứa, nhất là những lúc làm cho mệ bực, cảm thấy khó ở, thành thử mệ phải giải tỏa sự bực dọc của mệ bằng vài câu ...hát ru em! Thuở thiếu thời, nhiều em ưa thò què thọt quẹt, phá xóm phá làng theo kiểu lục lặc lửa hay lục lăng trái ấu như xuýt chó cắn bậy lấy làm vui. Lớn lên, có kẻ hết chuyện chơi, bèn nghĩ cách chọc cho người ta hát nhạc ngoại quốc rồi khoái tỉ lắng nghe, lòng vui như tham dự buổi chầu văn có phát lộc. Nghe xong còn chấm điểm theo kiểu tuyển lựa ca sĩ để chọn người ca hát hay, có dịp lần sau tìm cách nghe lại theo kiểu học ôn cho đỡ ghiền. Cuộc đời phải thiệt đại ra chi vui vì chuyện tối hôm qua đi chơi về khuya bị ông bà già ca quá chừng, đến bữa nay lại nghe bà hàng xóm nói vè lời cổ bản. Không biết sự thật có đúng như vậy hay không, hơn nữa không biết việc xảy ra từ hồi mô, nhưng những lời trù ẻo cạn trào ráo máng có vần có luật, bỗng trầm lã lướt thiệt đáng được ghi vào văn học sử Việt Nam. Chọn ngay lúc nửa ngày đứng bóng hay nắng xế chiều tà vào lúc cả nhà quây quần đông đủ trong bữa ăn trưa hay ăn tối để xướng lên bài ca cho cả làng nước nghe mới thiệt đúng tay bà già giàu kinh nghiệm. Thử tò mò để ý mà xem, bà cụ đứng nhìn vô dãy hàng rào cao rậm, tay trái chống hông, tay phải khoan thai múa lượn chỉ chỏ vô hàng rào bắt theo thế bộ bông rất mềm dẻo theo lời nói. Thường thường, một chân lập bộ vững vàng, chân kia hơi nhớm tới, thỉnh thoảng nhịp nhịp theo bàn tay khiến thân hình đong đưa trông thiệt khéo. Chẳng cần phải la to làm chi cho khan hơi rát cổ. Nói làm răng mà ai cũng nghe thấu, hiểu thấu mà không làm mất tư cách của mình mới hay, mới đáng. Nói làm răng mà không ai bắt bẻ được thì hãy nói. Nói làm răng mà những kẻ vô can cũng đồng một ý với mình không tỏ lời chống đối mới tài. Nói làm răng mà những kẻ trong cuộc từ đó về sau kiềng mặt không dám ngo ngoe bén mảng lại gần để làm tầm bậy lần nữa mới tuyệt. Chỉ mất có mỗi con gà, bà cụ hàng xóm bày tỏ nỗi niềm ấm ức trước cái cảnh ký ca ký cóp cho cọp nó tha của bà qua bài hát tràng giang đại hải nhịp nhàng cao thấp ngân nga đầy tiếng á với hí, thì, mà, là... đại khái có khúc mở đầu như sau: “Ngày hôm qua tau vừa mới mất con gà mái dầu khoang cổ, Sáng hôm nay tau lại mất thêm con gà mái nổ khoang bông. Đứa mô mà bắt mất con gà của tau đó (á), Nếu như mà là con gái (á),thì đúng là thứ con gái trốn chúa lộn chồng (hí). Nếu đứa ăn cắp mà là con trai, đàn ông (á), thì thiệt đúng là thứ ba dòng đi ở đợ (hí). Tau mắng cho mà chừa (hí). Tau la cho mà nhớ (hí). Nhưng tụi bay tưởng được được tau mắng, tau la cho là dễ lắm hay sao? Tụi bây (á) phải lắng tai mà nghe cho rõ đây nì (hí). Muốn được nghe tau mắng, tau la thì tụi bay phải lo về nhà chống cửa ngõ lên cho cao, chặt hàng rào cho thấp, ăn chay nằm đất cho đúng ba tháng mười ngày, xong kéo hết họ hàng tông tộc chúng bay: họ nội, họ ngoại, họ vợ, họ chồng, cả gái cả trai, nhánh trên nhánh dưới, kẻ sống kẻ chết, kết đoàn đông đủ.(hí) Kẻ dưới âm phủ phải đội mũ mà đi lên, (hí) Kẻ trên thiên đàng lo sắp hàng mà đi xuống.(hí) Đói thì tau cho ăn.(hí) Khát thì tau cho uống.(hí) Tụi bay (á) đừng có hòng giở trò đá cá lăn dưa, ăn chưa bưa, lừa chưa đã mà qua mặt được với tau. (hí) Phải liệu mau mau, kéo bầy kéo lũ phủ phục tại đây mà nghe bầy choa dạy biểu! (hí) ”
Hôm ni tốt trời, hơn nữa có lẽ mệ cũng khỏe nên lời mệ xướng nghe thiệt rõ ràng, giọng ngân của mệ không run lại nhiều hơi, thành thử nghe thiệt hay. Mệ lại được sự tán trợ của con cháu trong nhà qua những lời: “Thôi mệ ơi, hơi mô mà chưởi cho mất công. Có chưởi thì lông cũng đã ra đường lông, cánh cũng đã theo đường cánh chứ còn mô nữa. Chỉ có người bị động mã mới không nhìn thấy cảnh mệ chăm chút từng hột gạo, từng lon nước lo cho con gà của mệ...Thôi, Mệ vô nằm nghỉ cho khỏe mà sống với con với cháu. Thôi đủ rồi, vô đi nghỉ đi mệ..” Nhưng mệ không thôi, mệ không vô nghỉ, trái lại như được đổ thêm thang thuốc bổ, sung sức mệ ca. Kẻ bàng quan có khi chưa hề quen biết, lắm lúc cũng lá lay thiên tặc dự phần xướng họa với câu hỏi: “Chuyện chi rứa mệ? Răng? Bắt mất rồi à? Cơ khổ chưa tề?! Chà, tụi mô thiệt thiểm, gà ai không bắt, nhè ngay gà của mệ mà bắt cho được như rứa thì thôi, thì hết nước nói!” Làm ra vẻ như là quen thân với khổ chủ, chia sẻ nỗi niềm, nhưng biết đâu đương sự chính là thằng em của Đạo Chích, sau mấy chuyến đi hoang mắc phải bệnh Tây Môn Khánh, nay đã được chữa lành, có thể thong thả buồn buồn tụng mỗi câu kinh kiến bất thủ kê phi thiên lý xong trở lại hiện trường chờ nghe điệp khúc tình tang.
Thân-Trọng Tuấn Cali hè 1993
|